Pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn Luận văn ThS. Luật - Pdf 28


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ TUYẾT CHINH
“PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN Ở VIỆT NAM”
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2014


3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY
HÔN 6
1.1. Khái quát chung về tranh chấp quyền sử dụng đất 6
1.2. Khái niệm tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn 11
1.3. Chế độ tài sản của vợ chồng 13
1.3.1. Quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng 17
1.3.2. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ chồng 26
1.4. Nguyên tắc chung của giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ
chồng ly hôn 29
1.5. Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn 34
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN 37
2.1. Quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp về quyền sử
dụng đất khi vợ chồng ly hôn. 37
2.1.1. Đối với quyền sử dụng đất được Nhà nước giao đất 38
2.1.2. Đối với quyền sử dụng đất được Nhà nước cho thuê đất 41
2.1.3. Đối với quyền sử dụng đất được chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế chung,
nhận thế chấp trong thời kỳ hôn nhân. 45
2.1.4. Đối với quyền sử dụng đất được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất 47
2.1.5. Đối với quyền sử dụng đất của vợ chồng được Nhà nước công nhận quyền sử
dụng đất 48
2.2. Tình hình chung của việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ
chồng ly hôn ở Việt Nam 59
5
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả trong tài liệu luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo chính xác, tin cậy
và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà
Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƢỜI CAM ĐOAN

2005, Luật hôn nhân gia đình năm 2000… ở nước ta là cơ sở cho công tác giải

7
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn được thuận lợi. Tuy nhiên
thực tế nhiều trường hợp giải quyết tranh chấp về vấn đề này còn gặp nhiều khó
khăn, phức tạp.
Ở địa phương việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly
hôn gặp nhiều khó khăn. Mà nguyên nhân chủ yếu là do người dân không nắm vững
pháp luật; hay do các cán bộ Nhà nước có trách nhiệm giải quyết tranh chấp không
thực hiện đúng thẩm quyền, trình độ chưa bắt kịp với thực tế cuộc sống, hệ thống
pháp luật về vấn đề này còn nhiều bất cập
Theo thống kê của Tòa án Nhân dân tối cao, năm 2010, nước ta có gần
88.000 vụ ly hôn, tăng hơn 9.700 vụ so với năm 2009. Theo một kết quả nghiên cứu
được công bố năm 2008 của Tiến sĩ Nguyễn Minh Hòa (Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn TP.HCM), tỷ lệ ly hôn ở Việt Nam tăng nhanh và chiếm 31% - 40%,
nghĩa là cứ ba cặp kết hôn thì có một cặp ly hôn. Nhưng dù cho ly hôn vì lý do gì
thì khi phân chia tài sản, đặc biệt là đất đai (tài sản có giá trị lớn) luôn được các bên
quan tâm. Vì thế đòi hỏi pháp luật phải điều chỉnh các mối quan hệ này sao cho phù
hợp với nhu cầu của xã hội.
Với mục đích nghiên cứu, làm rõ những quy định về giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn; tìm hiểu và đóng góp một phần hiểu biết
của mình vào quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Tôi đã chọn đề tài: “Pháp
luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn ở Việt Nam”
làm luận văn thạc sỹ của mình.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi là luận văn thạc sỹ luật học thuộc chuyên ngành kinh tế, luận
văn này bao gồm những quy định về lý luận, thực tiễn có liên quan đến áp dụng
pháp luật giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Việt Nam
với tư cách là một hình thức cụ thể, chủ yếu và sinh động của hoạt động áp dụng

văn cử nhân – Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu, thu thập thông tin: trong khóa luận này, phương
pháp nghiên cứu chủ yếu là tìm kiếm thông tin qua các tài liệu được lưu trữ trong

9
thư viện trường Đại học Quốc gia Hà Nội và Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia
Hà Nội với một số luật của các nước trên thế giới và các tài liệu trên mạng internet
và các phương tiện thông tin đại chúng …
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: phân chia cái toàn thể của đối tượng
nghiên cứu thành những mặt, những yếu tố cấu thành giản đơn hơn để nghiên cứu
phát hiện ra những thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó và từ đó hiểu rõ hơn
về từng khía cạnh của vấn đề. Tổng hợp những kết quả nghiên cứu từng mặt, từng
khía cạnh để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung. Hai phương pháp này được
sử dụng song song để bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong nghiên cứu. Từ đó đưa ra
những nhận định đúng đắn để giúp cho quá trình nghiên cứu đạt được kết quả tốt.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: hai phương pháp nghiên cứu này tuy
trái ngược nhau nhưng lại là một phần không thể thiếu của nhau. Chúng hỗ trợ nhau
và hỗ trợ cho công tác nghiên cứu. Phương pháp quy nạp và diễn dịch được sử dụng
chủ yếu trong chương I của luận văn để lý giải những nguyên tắc, nguyên lý, giả
thuyết, kết luận, định nghĩa, khái niệm …
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp chung
nhất trong công tác nghiên cứu. Luận văn vận dụng phương pháp này trong việc xem
xét đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng
ly hôn tại Việt Nam trong những điều kiện cụ thể và các mối quan hệ khác.
Ngoài ra, luận văn còn vận dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như:
phương pháp thu thập số liệu, xử lý thông tin, thống kê, phân tích, so sánh… nhằm
đưa ra được những thông tin, số liệu chính xác, những biện pháp tối ưu phục vụ cho
công tác nghiên cứu bám sát với thực tiễn đời sống.
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài 11
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
KHI VỢ CHỒNG LY HÔN
1.1. Khái quát chung về tranh chấp quyền sử dụng đất
Tranh chấp đất đai hiện nay rất đa dạng, phong phú, nhiều khi nhiều mâu
thuẫn đan xen lẫn nhau. Để thấy rõ một cách toàn diện những vấn đề lý luận cơ bản
về tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn ta phải xem xét nó nằm ở vị
trí nào trong các dạng tranh chấp đất đai phổ biến hiện nay và nó có vai trò như thế
nào trong các quan hệ pháp luật cũng như trong xã hội.
Tranh chấp đất đai có thể được chia thành hai loại lớn, đó là tranh chấp mà
trong đó cần xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất đang tranh chấp và
tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử dụng đất hợp pháp, tranh chấp
chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trong
dạng tranh chấp này luôn luôn có sự tranh chấp giữa các bên về quyền quản lý,
quyền sử dụng một diện tích nào đó hoặc một phần trong diện tích đó. Việc xác
định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất tranh chấp đó là trách nhiệm của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có thể chia thành các dạng như sau:
- Thứ nhất: Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về
địa giới hành chính. Loại tranh chấp này thường xuyên xảy ra giữa người ở hai tỉnh,
hai huyện, hai xã với nhau, tập trung ở những nơi có vị trí quan trọng trong việc
phát triển kinh tế, văn hóa, ở những vị trí dọc theo triền sông lớn, những vùng có
địa giới hành chính không rõ ràng, không có mốc giới nhưng là vị trí quan trọng, ở
những nơi có nguồn lâm, thổ sản quý hiếm. Cùng với việc chia tách các đơn vị hành
chính tỉnh, huyện, xã thì tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tương

công trước đây đã được phân ruộng để sản xuất, để ở, sau đó họ không sản xuất
nông nghiệp nữa hoặc chuyển đi nơi khác để làm nghề, đến nay họ trở về đòi lại đất
để sản xuất, để ở.
+ Ba là: Tranh chấp đòi lại đất, tài sản của nhà thờ, các dòng tu, chùa chiền,
miếu, nhà thờ họ. Dạng tranh chấp này thường xảy ra như sau: Trước đây do hoàn

13
cảnh lịch sử chính quyền địa phương đã mượn đất của các cơ sở nói trên để sử dụng
hoặc tịch thu một số cơ sở để làm trụ sở cơ quan, trường học… đến nay các cơ
sở đó đòi lại nhưng Nhà nước không trả lại được nên dẫn đến khiếu kiện của
các cơ sở đó.
Ngoài ra, trong những trường hợp nói trên, một số người được các nhà thờ,
dòng tu, chùa chiền, nhà thờ họ cho đất để ở họ đã xây dựng nhà kiên cố, hoặc
lấn chiếm thêm đất của các cơ sở nói trên dẫn đến việc các cơ sở nói trên đòi lại
đất, nhà.
+ Bốn là: Tranh chấp đòi lại nhà, đất cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ: Dạng
tranh chấp này phát sinh do việc một bên cho bên kia mượn đất, thuê đất, cho ở
nhờ. Có vụ cho mượn, thuê trong thời gian gần đây, có vụ cho mượn, thuê cách đây
vài chục năm (nhất là ở miền Nam). Trong nhiều trường hợp không làm hợp đồng,
chỉ giao kết bằng miệng dẫn đến khi bên cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ đòi lại
hoặc là hết hạn hợp đồng, hoặc là bên mượn, thuê, ở nhờ đã xây dựng nhà kiên cố
thì việc tranh chấp này càng trở nên phức tạp.
- Thứ ba: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng
đất khi vợ chồng ly hôn: đây là trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất hoặc tài
sản gắn liền với quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn. Đất tranh chấp có thể là đất
nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc đất để ở; có thể là giữa vợ chồng với nhau hoặc giữa
một bên ly hôn với hộ gia đình vợ hoặc chồng hoặc có thể xảy ra khi bố mẹ cho con
đất đến khi ly hôn thì cha mẹ đòi lại…
- Thứ tư: Tranh chấp về quyền thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền
với quyền sử dụng đất: đây là dạng tranh chấp do người có quyền sử dụng đất, tài

phát canh, thu tô. Mặt khác, nhiều nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội
quản lý đất đai lỏng lẻo dẫn đến tình trạng người dân chiếm đất để sử dụng. Do đó
cũng dẫn đến những tranh chấp đất đai.
- Thứ tám: Các dạng tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử
dụng đất hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện
quyền và nghĩa vụ của mình. Trong các dạng tranh chấp này thì người đang sử dụng
đất đã sử dụng đất hợp pháp, không có ai tranh chấp. Tuy nhiên, khi sử dụng quyền

15
và nghĩa vụ sử dụng đất của mình như: thực hiện các giao dịch về dân sự hoặc do
chủ trương, chính sách của Nhà nước như giải tỏa, trưng dụng, trưng mua hoặc do
người khác gây thiệt hại, hoặc bị hạn chế về quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của
mình mà dẫn đến tranh chấp. Có các dạng như sau:
+ Một là: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho
thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử
dụng đất.
+ Hai là: Tranh chấp do người khác gây thiệt hại hoặc hạn chế quyền và
nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất.
+ Ba là: Tranh chấp về mục đích sử dụng, đặc biệt là tranh chấp về đất nông
nghiệp với đất lâm nghiệp, giữa đất trồng lúa với đất nuôi tôm, giữa đất trồng cao su
với đất trồng cà phê, giữa đất nông nghiệp với đất thổ cư trong quá trình phân bố và
quy hoạch sử dụng. Trong thực tế trường hợp tranh chấp này xảy ra như sau: do
mục đích sử dụng đất nên Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để giao cho
người khác sử dụng với mục đích khác, dẫn đến người đang sử dụng khiếu kiện việc
chuyển mục đích sử dụng đất hay khiếu kiện việc thu hồi hoặc khiếu kiện người
được giao đất sử dụng với mục đích khác. Mặt khác, người được Nhà nước giao đất
chuyển mục đích sử dụng khiếu kiện người đang sử dụng đất phải giao đất cho
mình theo quyết định giao đất.
+ Bốn là: Tranh chấp về giải tỏa mặt bằng phục vụ các công trình công cộng,
lợi ích quốc gia và mức đền bù khi thực hiện giải tỏa. Trong tranh chấp dạng này

hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận, các tổ
chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai”; thứ ba, Điều 160 Nghị định số
181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai năm 2003 quy định:
“Tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các
khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai thì các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan
hành chính để được giải quyết”; thứ tư, đến nay các thuật ngữ tranh chấp đất đai và
tranh chấp quyền sử dụng đất đã được sử dụng như những thuật ngữ thay thế cho
nhau kể từ Luật Đất đai năm 1986 đến nay mà không hề có sự phân biệt.

17
Luật Đất đai năm 2003 lần đầu tiên tại khoản 26 điều 4 và tiếp tục được quy
định tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Tranh chấp đất đai là
tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên
trong quan hệ đất đai”.
Qua đó ta có thể thấy được, khái niệm “tranh chấp đất đai” là tranh chấp một
tổng thể những yếu tố hợp nhất chứ không phải là việc tranh chấp từng quyền và
nghĩa vụ đơn lẻ hay tranh chấp về quyền và nghĩa vụ khác của người sử dụng đất có
liên quan đến các quyền và nghĩa vụ nêu trên. Cách hiểu này đặt khái niệm tranh
chấp đất đai trong mối quan hệ không thể tách rời với tất cả các quy định có liên
quan, chứ không phải cô lập nó hoặc đặt nó lên trên tất cả các quy định khác nhằm
phát huy trí tưởng tượng một cách thái quá, dẫn đến những suy diễn không phù hợp.
Có nghĩa là, không thể “trộn lẫn” tranh chấp đất đai với những tranh chấp dân sự
thuần túy có liên quan đến đất đai.
Tranh chấp đất đai là biểu hiện sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định
quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp
hoặc gián tiếp trong quản lý và sử dụng đất đai.
Vậy từ đó ta có thể rút ra một định nghĩa như sau:
Tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan
hệ đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất [18,7].

chấm dứt và tranh chấp về quyền sử dụng đất đó được Tòa án công nhận
hoặc quyết định”.
1.3. Chế độ tài sản của vợ chồng
Kết hôn là sự kiện làm phát sinh một gia đình mà ở đó phản ánh sự chung
sống của hai vợ chồng và con cái (nếu có). Như là một tất yếu của cuộc sống chung,
vợ và chồng thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu tồn
tại và phát triển của gia đình. Đây là những quan hệ xảy ra phổ biến trong xã hội và
chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về hôn nhân và gia đình, trong một quy
chế được gọi là “chế độ tài sản của vợ chồng” (được quy định tại các Điều sau:
Điều 27, Điều 28, Điều 29, Điều 32; Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình) [10].

Chế độ tài sản của vợ chồng là một chế định quan trọng của pháp luật Hôn
nhân và gia đình, đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều luật gia và

19
các nhà áp dụng pháp luật. Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định phụ thuộc
chặt chẽ vào chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Do đó, chế độ tài sản của vợ
chồng ở mỗi quốc gia và trong cùng một đất nước ở các giai đoạn phát triển có thể
là khác nhau.
Thực tế có hai trường phái pháp luật mang hai quan điểm khác nhau về vấn
đề này. Phần lớn pháp luật của các nước trên thế giới thừa nhận quyền tự do thỏa
thuận của vợ chồng về chế độ tài sản, vì vậy, một mặt pháp luật dự liệu một chế độ
tài sản của vợ chồng, mặt khác quy định những người kết hôn có quyền lập hôn ước
(Contrat de marriage – tiếng Pháp). Chế độ tài sản do pháp luật dự liệu chỉ có hiệu
lực áp dụng trong trường hợp hai vợ chồng không có hôn ước hoặc hôn ước được
lập ra nhưng vô hiệu do vi phạm những quy định của luật chung. Chỉ có một số
nước như Hungari, Roumani, Tiệp Khắc, Arhentina, Việt Nam và một số bang của
Mehico duy trì duy nhất một chế độ tài sản pháp định đối với vợ chồng.
Bộ luật dân sự Pháp năm 1804 đã tổ chức một cách có hệ thống các chế độ
tài sản của vợ chồng. Điều đó được thể hiện qua việc thiết lập một hệ thống các quy

định có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các quan hệ hôn nhân hợp pháp. Do vậy, mọi
thỏa thuận của vợ chồng trái với các quy định của chế độ hôn sản pháp định cần bị
tuyên bố là vô hiệu khi có tranh chấp xảy ra.
Nhìn chung có thể hiểu khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng như sau:
“Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban
hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quan hệ sở hữu của vợ
chồng, cụ thể là các quy định về căn cứ xác lập tài sản chung và riêng của vợ,
chồng; phạm vi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản đó; các
trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng”.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả nghiên cứu về vấn đề
quyền sử dụng đất trong quan hệ hôn nhân và việc xác định quyền sử dụng đất là tài
sản chung, tài sản riêng của vợ chồng.
Có thể nói quyền sử dụng đất là một bộ phận cấu thành của quyền sở hữu đất
đai. Ở Việt Nam đất đai thuộc sở hữu toàn dân [24, Điều 5, Điều 17].

21
Khi phân tích quyền sở hữu đất đai, chúng ta thấy với tư cách là chủ sở hữu
đại diện, Nhà nước có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai.
Trong các quyền năng đó quyền sử dụng là có nghĩa thực tế lớn nhất, trực tiếp đem
lại lợi ích cho chủ sở hữu. Nhưng Nhà nước không phải là chủ thể trực tiếp sử dụng
đất mà gián tiếp sử dụng đất thông qua các tổ chức, cá nhân bằng cách giao đất, cho
thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất của những người sử dụng đất ổn định.
Theo quy định của Bộ Luật dân sự năm 2005 thì quyền sử dụng là quyền
“khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản” [29, Điều 192]. Người
không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được
chủ sở hữu chuyển quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định.
Quyền sử dụng đất là một bộ phận cấu thành của quyền sở hữu đất đai.
Thông qua giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất, Nhà nước trao
cho người nhận đất các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, trong đó có sự
phân biệt theo loại đất, theo đối tượng sử dụng, theo hình thức giao đất hoặc thuê

quyền tài sản có thể là tài sản chung của vợ chồng hoặc là tài sản riêng của mỗi
bên vợ, chồng.
1.3.1. Quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng
Khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “quyền sử
dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.
Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng
chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”.
Điều 58 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 bảo
hộ quyền sở hữu công dân quy định: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp
pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và các tài sản
khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác”.
Việc xác định khối tài sản chung của vợ chồng căn cứ vào sự tồn tại của
quan hệ hôn nhân – quan hệ vợ chồng. Theo khoản 7 điều 8 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000: “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng
tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”. Thời kỳ hôn nhân bắt

23
đầu từ khi kết hôn tức là ngày Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn – nơi thường
trú của vợ hoặc chồng công nhận, vào sổ đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận
kết hôn cho hai vợ chồng. Quan hệ hôn nhân chấm dứt khi một bên vợ, chồng chết
hoặc vợ chồng ly hôn (từ khi phán quyết ly hôn của tòa án có hiệu lực pháp luật).
Các tài sản mà vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân (trong đó có quyền sử dụng
đất) đều được coi là tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng có quyền bình đẳng trong
việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà không phụ thuộc vào khả năng trực tiếp tạo
ra tài sản hay công sức đóng góp của mỗi bên.
Quyền sử dụng đất là tài sản đặc biệt và có giá trị lớn. Trên thực tế, người
chồng thường nắm giữ toàn bộ tài sản trong gia đình và thường đứng tên trong giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, việc quy định quyền sử dụng đất có được
sau khi kết hôn cũng là tài sản chung của vợ chồng có ý nghĩa đảm bảo sự bình

1,4,5 Điều 34 Luật Đất đai năm 2003: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất
trong trường hợp sau: “1.Hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở;…4.Hộ gia đình, cá
nhân được giao đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; 5.Hộ gia
đình, cá nhân sử dụng đất để xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh
doanh;…”, nhưng quy định tại Điều 55 Luật Đất đai năm 2013 thu hẹp lại chỉ còn
4 đối tượng giao đất có thu tiền sử dụng đất: “1. Hộ gia đình, cá nhân được giao đất
ở ; 4 Tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang,
nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng”. Việc giao đất
cho các chủ thể thông qua hình thức cho thuê đất được Nhà nước thực hiện thông
qua các cơ quan có thẩm quyền. Nhà nước cho thuê đất dưới hai hình thức chính
đó là: thu tiền thuê đất hàng năm và thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian
thuê. Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 thì việc
Nhà nước cho thuê đất chỉ gồm có 2 hình thức như trên, còn Luật đất đai năm
1993 thì bao gồm có ba hình thức đó là: thu tiền thuê đất hàng năm, thu tiền thuê
đất nhiều năm và thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. Nhìn chung,
Luật Đất đai năm 2013, Luật đất đai năm 2003 đã có những đổi mới khá tiên tiến
so với Luật đất đai năm 1993 về vấn đề này.

25
Theo khoản 1 Điều 56 Luật Đất đai năm 2013 quy định thì có 7 trường hợp
Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm và các đối tượng chủ yếu là hộ
gia đình và cá nhân, còn trường hợp Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần
cho cả thời gian thuê thì đối tượng chủ yếu là người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài.
1.3.1.2. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được từ thu nhập hợp pháp trong
thời kỳ hôn nhân
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng cùng nhau chung sức tạo lập của cải vật
chất để phục vụ cho nhu cầu sống chung của gia đình. Thông thường tài sản do vợ,
chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân đều được xác định là tài sản chung vợ chồng.
Những tài sản đó có thể là do vợ và chồng cùng trực tiếp lao động, hoặc do một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status