ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHƢƠNG THẢO
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO KINH DOANH
TRONG ĐĂNG KÝ KINH DOANH CỦA
LUẬT DOANH NGHIỆP 2005
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Ngô Huy Cƣơng
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
1.2.2. Nội dung pháp lý của quyền tự do kinh doanh 14
1.3. Ý nghĩa, mục tiêu và nội dung của đăng ký kinh doanh 19
1.3.1. Ý nghĩa và mục tiêu của đăng ký kinh doanh 19
1.3.2. Nội dung của đăng ký kinh doanh 21
1.4. Mối liên hệ giữa quyền tự do kinh doanh và đăng ký kinh doanh 28
Chƣơng 2: PHÂN TÍCH CÁC QUI ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH
NGHIỆP 2005 THEO ĐỊNH HƢỚNG BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ
DO KINH DOANH TRONG ĐĂNG KÝ KINH DOANH 31
2.1. Đánh giá chung về Luật Doanh nghiệp 2005 từ góc độ tự do kinh doanh 31
2.2. Thực trạng các qui định của Luật Doanh nghiệp 2005 về tự do kinh
doanh và đăng ký kinh doanh 36
2.2.1. Thực trạng các qui định về nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của thương nhân 36
2.2.2. Thực trạng các qui định về cơ quan đăng ký kinh doanh 38
2.2.3. Thực trạng các qui định về điều kiện và thủ tục đăng ký kinh doanh 41
2.3. Thực trạng thi hành các qui định của Luật Doanh nghiệp 2005 về tự
do kinh doanh và đăng ký kinh doanh 56
Chƣơng 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN LUẬT DOANH NGHIỆP
2005 NHẰM BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO KINH DOANH
TRONG ĐĂNG KÝ KINH DOANH 61
3.1. Kiến nghị về các định hướng hoàn thiện Luật Doanh nghiệp 2005 61
3.2. Kiến nghị các giải pháp 62
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHĐCĐ
: Đại hội đồng cổ đông
kinh doanh. Nếu thành lập doanh nghiệp là một vấn đề trọng tâm của tự do
kinh doanh, thì đăng ký kinh doanh (một vấn đề quan trọng của thành lập
doanh nghiệp) là nơi thể hiện quan trọng của việc tiếp nhận nguyên tắc tự do
kinh doanh. Dù đã có những cố gắng đáng kể, thế nhưng hiện nay việc hiểu
và thể hiện nguyên tắc tự do kinh doanh trong đăng ký kinh doanh của Luật
Doanh nghiệp 2005 vẫn còn những thiếu sót đáng kể. Các thiếu sót này có thể
đã dẫn tới việc không bảo đảm được đầy đủ quyền tự do kinh doanh, gây khó
khăn cho người dân trong việc thành lập doanh nghiệp.
2
Không chỉ có các thiếu sót liên quan tới quyền tự do kinh doanh và
đăng ký kinh doanh, mà Luật Doanh nghiệp 2005 còn có nhiều thiếu sót về
các lĩnh vực khác, do đó đang được nghiên cứu sửa đổi.
Vì các lẽ căn bản nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Bảo đảm quyền tự
do kinh doanh trong đăng ký kinh doanh của Luật Doanh nghiệp 2005” có
tính cấp thiết cao. Việc nghiên cứu đề tài không chỉ có ý nghĩa về mặt học
thuật, mà còn có ý nghĩa lớn trong cải cách và thực tiễn thi hành các qui định
pháp luật về doanh nghiệp nói chung và về đăng ký kinh doanh nói riêng.
2. Về tình hình nghiên cứu đề tài
Tự do kinh doanh nói riêng là một đề tài không mới ở Việt Nam hiện
nay. Có thể tìm thấy nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Thứ nhất,
“Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm đảm bảo quyền tự do kinh
doanh ở nước ta”, Luận án tiến sĩ luật học của Bùi Ngọc Cường, Trường Đại
học Luật Hà Nội, 2001; thứ hai, “Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền
con người tại Việt Nam”, Sách chuyên khảo của Mai Hồng Quỳ, Nxb Lao
động, TP. Hồ Chí Minh, 2012; thứ ba, “Tự do kinh doanh: Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn”, bài viết của Bùi Xuân Hải, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
số 6/2011; thứ tư, “Bảo vệ quyền tự do kinh doanh theo qui định của Luật
Doanh nghiệp năm 2005- Lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ luật học
Nguyễn Thị Giang, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012…
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm tới các mục tiêu sau:
Thứ nhất, làm rõ về mặt lý luận quyền tự do kinh doanh và đăng ký
kinh doanh;
Thứ hai, phân tích các qui định của Luật Doanh nghiệp 2005 theo định
hướng bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong đăng ký kinh doanh để tìm ra
các thiếu sót;
4
Thứ ba, kiến nghị các giải pháp sửa chữa các thiếu sót của Luật Doanh
nghiệp 2005 theo định hướng bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong đăng ký
kinh doanh.
Việc nghiên cứu đề tài không mở rộng ra các văn bản pháp luật khác
ngoài Luật Doanh nghiệp 2005 và không nghiên cứu ngoài định hướng bảo
đảm quyền tự do kinh doanh trong đăng ký kinh doanh.
Việc nghiên cứu đề tài không đi sâu vào vấn đề lý luận về quyền tự do
kinh doanh và đăng ký kinh doanh, mà chỉ nghiên cứu lý luận về các vấn đề
này ở mức độ cho phép phân tích Luật Doanh nghiệp 2005 theo định hướng
bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong đăng ký kinh doanh.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài tập trung vào việc sử dụng các phương pháp sau:
Thứ nhất, phương pháp mô tả, diễn giải và trìu tượng hóa. Các phương
pháp này được sử dụng để làm rõ khái niệm, nội dung và triết lý của quyền tự
do kinh doanh và của vấn đề đăng ký kinh doanh;
Thứ hai, phương pháp phân tích qui phạm, thống kê, tổng hợp, phân
tích vụ việc và so sánh pháp luật. Các phương pháp này được sử dụng để làm
rõ các thiếu sót của Luật Doanh nghiệp 2005 và tìm ra nguyên nhân của
những thiếu sót đó;
Thứ ba, phương pháp mô hình hóa, điển hình hóa. Các phương pháp
này được sử dụng để tìm kiếm những giải pháp sửa chữa những thiếu sót của
Luật Doanh nghiệp 2005.
1.1. Khái niệm quyền tự do kinh doanh và đăng ký kinh doanh
1.1.1. Khái niệm quyền tự do kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh là một quyền hiến định. Điều 57, Hiến pháp
năm 1992 của Việt Nam khẳng định một nguyên tắc quan trọng góp phần làm
thay đổi mạnh mẽ và thực chất kinh tế- xã hội Việt Nam với nội dung như
sau: “Công dân Việt Nam có quyền tự do kinh doanh theo qui định của pháp
luật”. Hiện nay quyền tự do này một lần nữa được nhắc tới và nhấn mạnh hơn
tại “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”.
Bảo đảm thi hành Hiến pháp 1992 và thực hiện đường lối, chủ trưởng
của Đảng, Điều 50, Bộ luật Dân sự 2005 qui định:
“Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp
luật bảo vệ.
Cá nhân có quyền lựa chọn hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh
doanh, lập doanh nghiệp, tự do giao kết hợp đồng, thuê lao động và các quyền
khác phù hợp với quy định của pháp luật”.
Điều luật này không trực tiếp đưa ra định nghĩa về quyền tự do kinh
doanh nhưng có nói tới các nội dung chủ yếu của quyền này, có nghĩa là nói
tương đối rõ nội hàm của nó. Theo điều luật này, quyền tự do kinh doanh bao
hàm trong nó các quyền như:
(1) Tự do thành lập công ty;
(2) Tự do lựa chọn việc tiến hành các hành vi thương mại;
(3) Tự do do hợp đồng; và
(4) Tự do mua bán sức lao động.
7
Đây có thể xem là các quyền tự do căn bản để có thể tiến hành các hoạt
động kinh doanh, có nghĩa là thiếu một trong các quyền này thì hoạt động
kinh doanh không thể hoặc khó có thể tiến hành.
GS. TS Mai Hồng Quỳ cho rằng:
nhân) chứ không phải do Nhà nước ban tặng”. Tuy nhiên theo ông khả năng
này chỉ có thể trở thành hiện thực khi Nhà nước thể chế hóa chúng thành pháp
luật, vì vậy theo nghĩa khách quan, quyền tự do kinh doanh là một chế định
pháp luật qui định về các quyền tự do nói trên [10, tr. 13- 14].
Terry Miller và Anthory b. Kim cho rằng: “Tự do kinh doanh được
hiểu là quyền của cá nhân trong việc thành lập và vận hành doanh nghiệp mà
không bị sự can thiệp, cản trở, nhũng nhiễu từ phía nhà nước” [22, tr. 54].
Đây là một cách thức tiếp cận từ góc độ đối lập giữa nhà nước với xã hội dân
sự và nhấn mạnh tới tính chất tự nhiên của quyền tự do kinh doanh.
Các khảo sát trên cho thấy mấy vấn đề lớn sau:
Thứ nhất, quyền tự do kinh doanh là một quyền tự nhiên được nhận
thức và được hiến định và được luật hóa;
Thứ hai, các qui định của Hiến pháp và pháp luật không đưa ra định
nghĩa quyền này theo logic hình thức mà chỉ khẳng định hoặc mô tả các thành
tố của nó;
Thứ ba, các học giả trong và ngoài nước nhận thức tương đối đồng nhất
về bản chất tự nhiên của quyền này, tuy nhiên quan niệm về các thành tố của
nó có mức độ rộng hẹp khác nhau;
Thứ tư, khó có sự phân biệt thật rạch ròi giữa quyền này với các quyền
tự do khác như tự do hợp đồng, tự do lập hội, tự do định đoạt…
Tóm lại, liên quan tới đề tài Luận văn này, quyền tự do kinh doanh
được hiểu là quyền tự nhiên của con người đã được hiến định và luật hóa để
9
bảo đảm cho đời sống của con người và bao gồm các quyền tự do góp vốn
thành lập doanh nghiệp, tự do lựa chọn hình thức doanh nghiệp, tự do lựa
chọn ngành nghề kinh doanh, tự do thuê mướn và sử dụng lao động, tự do
quản trị doanh nghiệp và tự do lựa chọn đối tác để giao dịch.
1.1.2. Khái niệm đăng ký kinh doanh
“Đăng ký kinh doanh” là một thuật ngữ được sử dụng rất quen thuộc ở
việc công nhận công ty gia nhập thị trường, tuy nhiên không thể xem đó là
định nghĩa về đăng ký kinh doanh bởi hành vi chủ yếu của Cơ quan đăng ký
kinh doanh chưa được làm rõ.
Có thể định nghĩa: Đăng ký kinh doanh là việc ghi tên và các thông tin
chi tiết khác của thương nhân vào sổ đăng ký kinh doanh.
Như vậy khi nghiên cứu đăng ký kinh doanh người ta phải nghiên cứu
sổ đăng ký kinh doanh và thủ tục đăng ký kinh doanh.
Thông thường sổ đăng ký kinh doanh do một cơ quan nhà nước có
thẩm quyền lưu giữ. Cơ quan đó có thể là một cơ quan hành chính hoặc tòa
án. Ở Việt Nam trước kia (dưới các chế độ cũ), tòa án lưu giữ sổ đăng ký kinh
doanh và tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh. Ngày nay chức năng này
được trao cho cơ quan đăng ký kinh doanh nằm trong hệ thống các cơ quan
hành chính.
Sổ đăng ký kinh doanh trong thời kỳ điện tử tin học không nhất thiết là
một quyển sổ theo nghĩa truyền thống mà có thể là một dữ liệu điện tử. Trong
sổ đăng ký kinh doanh có các mục ghi chép theo qui định của pháp luật.
Ở Pháp, đối với công ty, người ta yêu cầu phải ghi chép các thông tin như:
(1) Hình thức pháp lý của công ty;
(2) Qui chế pháp lý riêng (nếu cần thiết);
(3) Tên công ty;
11
(4) Tính chất hoạt động;
(5) Địa chỉ trụ sở chính [18, tr. 68].
Ở Nhật Bản, theo Đạo luật Đăng ký Thương mại 2005 các thông tin
phải ghi chép vào sổ đăng ký thương mại bao gồm:
(1) Tên thương mại;
(2) Hình thức doanh nghiệp;
(3) Trụ sở kinh doanh;
(4) Tên và địa chỉ của người sử dụng tên thương mại.
doanh nghiệp tư nhân.
4. Vốn điều lệ đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp
danh; số cổ phần và giá trị vốn cổ phần đã góp và số cổ phần được quyền
chào bán đối với công ty cổ phần; vốn đầu tư ban đầu đối với doanh nghiệp tư
nhân; vốn pháp định đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề đòi hỏi
phải có vốn pháp định.
5. Ngành, nghề kinh doanh”.
Việc thay đổi các nội dung trên trong hoạt động thực tiễn của thương
nhân phải được đăng ký lại với Cơ quan đăng ký kinh doanh. So với các
thông tin cần được lưu giữ và chứng nhận của các nước khác đã nêu trên, thì
có thể thấy các thông tin như vậy theo yêu cầu của pháp luật Việt Nam hiện
nay lớn hơn rất nhiều. Bởi thế có thể nhận định: thủ tục đăng ký kinh doanh ở
Việt Nam không thể đơn giản bởi nó cần phải đáp ứng các yêu cầu khá chi
tiết và phức tạp của nội dung đăng ký kinh doanh. Về nguyên tắc: nội dung
quyết định hình thức, có nghĩa là nếu các yêu cầu về mặt nội dung phức tạp
thì sẽ dẫn tới thủ tục phải đáp ứng sự phức tạp đó.
Dĩ nhiên khi thủ tục phức tạp thì có thể có nhiều phiền hà đối với người
đăng ký kinh doanh, và như vậy quyền tự do kinh doanh bị thu hẹp hơn. Vì
13
vậy loại bỏ bớt các yêu cầu không cần thiết về mặt nội dung có ý nghĩa to lớn
trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh.
1.2. Nội dung của quyền tự do kinh doanh
1.2.1. Nội dung triết lý của quyền tự do kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh thường được xem là quyền tự nhiên của con
người xuất phát từ nhân phẩm. Theo lập luận của PGS. TS Ngô Huy Cương:
“Không ai có nhân phẩm cao hơn ai, do đó không có dân tộc nào có
nhân phẩm cao hơn dân tộc nào, cho nên không ai có quyền áp bức ai và
không dân tộc nào có quyền áp bức dân tộc nào. Cũng như vậy người cai trị
không có nhân phẩm cao hơn người bị trị. Vì vậy họ không thể lạm dụng vị trí
tiền thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc, ở của mình… Người thợ làm tóc phục vụ cho
nhu cầu làm đẹp của mọi người để lấy tiền mua sản phẩm và dịch vụ từ mọi
người để đáp ứng cho các nhu cầu của mình. Mọi người bán sản phẩm, dịch
vụ của mình cho người khác để lấy tiền mua sản phẩm và dịch vụ của người
khác mà trong đó có dịch vụ làm tóc của anh thợ cắt tóc. Cứ như thế con
người hợp tác và chung sống với nhau trong phạm vi một địa phương, một
quốc gia và trên thế giới.
Tóm lại, quyền tự do kinh doanh là quyền tự do lựa chọn trong việc
thành lập doanh nghiệp và tiến hành kinh doanh mà nhà nước phải ghi nhận
và chỉ kiểm soát nhằm bảo vệ cộng đồng. Quyền này là nền tảng cho hoạt
động kinh doanh. Vì vậy Luật số 73.1193 ngày 27 tháng 12 năm 1973 của
Pháp đã nêu bật “Tự do kinh doanh và ý chí kinh doanh là cơ sở của hoạt
động kinh doanh và nghề thủ công” [18, tr. 31].
1.2.2. Nội dung pháp lý của quyền tự do kinh doanh
Phần khái niệm đã xác định quyền tự do kinh doanh liên quan tới đề tài
này bao gồm: quyền tự do góp vốn thành lập doanh nghiệp, tự do lựa chọn
15
hình thức doanh nghiệp, tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, tự do thuê
mướn và sử dụng lao động, tự do quản trị doanh nghiệp và tự do lựa chọn đối
tác để giao dịch. Các thành tố này luôn luôn được xem xét trong việc thiết lập
nên các qui định pháp luật và trong việc giải quyết các tranh chấp thực tế mà
trong đó có cả vấn đề đăng ký kinh doanh. Một suy xét như vậy được coi là
hợp lý liên quan tới tự do kinh doanh khi có cân nhắc tới các thành tố này.
(1) Quyền tự do góp vốn thành lập doanh nghiệp là nội dung khởi đầu
quan trọng của quyền tự do kinh doanh. Việc góp vốn xét về mặt pháp lý là
vấn đề hay điều kiện quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định đối với hợp đồng
thành lập công ty [8, tr. 12- 23]. Luật Doanh nghiệp 2005 khẳng định:
“Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc
các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam,
của luật tư (Điều 4), có nghĩa là quyền tự do hợp đồng, tự do ý chí được thừa
nhận và bảo vệ.
(2) Quyền tự do lựa chọn hình thức doanh nghiệp là một quyền rất
quan trọng góp phần bảo đảm cho hoạt động đầu tư, hoạt động kinh doanh có
hiệu quả. Khi bỏ vốn vào đầu tư, kinh doanh, người đầu tư thường cân nhắc
rất kỹ tới khả năng của mình, tới nhu cầu của thị trường, tới sự quản lý của
nhà nước, tới các đặc điểm của ngành nghề kinh doanh… Sự cân nhắc này
liên quan tới hình thức doanh nghiệp bởi hình thức doanh nghiệp sẽ ảnh
hưởng rất lớn tới các vấn đề như khả năng huy động vốn, năng lực và cách
thức quản trị, yêu cầu của pháp luật và nhà nước đối với thành lập, tổ chức và
hoạt động, yêu cầu riêng biệt của ngành nghề kinh doanh… Như vậy để đồng
vốn đầu tư có hiệu quả và thiết lập một phương tiện (doanh nghiệp) kiếm
sống phù hợp, thì vấn đề lựa chọn hình thức doanh nghiệp không thể bỏ qua
trong việc thừa nhận và bảo vệ quyền tự do kinh doanh. Pháp luật chỉ qui định
một hoặc một vài hình thức doanh nghiệp bắt buộc người đầu tư phải tuân
17
theo khi muốn kinh doanh trong một số ngành nghề đặc biệt do tính chất đặc
biệt đó đòi hỏi.
(3) Quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh là quyền có ý nghĩa
thiết thực với khả năng của thương nhân và có ý nghĩa rất lớn đối với kinh tế-
xã hội. Thông thường người ta lựa chọn ngành nghề kinh doanh ngay khi có ý
định thành lập doanh nghiệp. Có thể nói doanh nghiệp là công cụ, phương
tiện còn ngành nghề kinh doanh là linh hồn của công cụ, phương tiện ấy.
Ngành nghề kinh doanh thường được lựa chọn trong sự cân nhắc tới nhu cầu
của thị trường (có nghĩa là bán ra những gì mà thị trường cần) và năng lực
đáp ứng của người đầu tư (có nghĩa là khả năng có thể cung cấp những gì cho
thị trường).
Tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh có thể bị phụ thuộc vào pháp
luật bởi pháp luật có thể hạn chế và cấm kinh doanh trong một số ngành nghề
những người đầu tư mong muốn điều hành doanh nghiệp của mình theo ý
mình và hoạt động mang lại hiệu quả. Xuất phát từ quyền tự do định đoạt của
chủ thể luật tư, người đầu tư có thể quản trị và điều hành doanh nghiệp theo ý
riêng của mình. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp được thành lập bởi sự liên kết
giữa các thành viên thì việc quản trị và điều hành doanh nghiệp còn phải phụ
thuộc vào ý chí chung của các thành viên. Điều đó có nghĩa là quản trị và điều
hành doanh nghiệp bị lệ thuộc vào hình thức liên kết thành lập doanh nghiệp
hay hình thức doanh nghiệp. Mỗi loại hình doanh nghiệp có cơ cấu và phương
thức quản trị riêng do pháp luật yêu cầu để bảo đảm sự bình đẳng và hiệu quả
giữa các thành viên. Các hình thức doanh nghiệp là một số hữu hạn bởi các
yếu tố kết hợp với nhau để tạo thành hình thức doanh nghiệp là một số hữu
hạn [9, tr. 1-8]. Vì vậy khi lựa chọn một hình thức doanh nghiệp gần như
đồng nghĩa với việc đã chọn sẵn cho mình một cơ cấu và phương thức quản
19
trị, điều hành doanh nghiệp. Tuy nhiên pháp luật chỉ áp đặt các qui định tối
thiểu nhằm điều hòa các xung đột giữa các thành viên của doanh nghiệp và để
bảo vệ cộng đồng.
(6) Quyền tự do lựa chọn đối tác để giao dịch là quyền quan trọng
trong việc tiến hành các hoạt động kinh doanh. Các hoạt động kinh doanh
thực chất là một chuỗi các giao dịch giữa doanh nghiệp với người bên ngoài
để có thể mua nguyên nhiên vật liệu, sức lao động, kỹ thuật… phục vụ sản
xuất, kinh doanh, và bán ra hàng hóa, dịch vụ. Do vậy quyền này gắn liền với
sự sống còn của doanh nghiệp. Việc thành lập doanh nghiệp, lựa chọn ngành
nghề kinh doanh, quản trị, điều hành doanh nghiệp sẽ trở nên vô nghĩa nếu
doanh nghiệp không thể giao dịch với bên ngoài. Tuy nhiên quyền này và
quyền tự do thuê mướn và sử dụng lao động khó có thể tách bạch với quyền
tự do hợp đồng. Thực chất có thể nói hai quyền này là quyền tự do hợp đồng
bởi tự do hợp đồng nói một cách đơn giản là tự do tìm kiếm đối tác để cùng
nhau thỏa thuận ràng buộc nhau vào một quan hệ nhất định.
hành các giao dịch. Việc công khai hóa này còn giúp cho xã hội hay người
thứ ba tránh được những tác hại xấu của thương nhân trong một số trường
hợp như lừa đảo, làm ăn bất chính, gian lận thương mại…
Tóm lại, đăng ký thành lập kinh doanh có ý nghĩa quan trọng không chỉ
đối với bản thân thương nhân, mà còn có ý nghĩa đối với việc quản lý nhà nước
và trật tự công cộng, đạo đức xã hội. Vì thế, đăng ký kinh doanh có lẽ vừa là
nhu cầu, vừa là nghĩa vụ đối với mỗi thương nhân khi khởi nghiệp kinh doanh.
Vì vậy việc xây dựng một chế định đăng ký kinh doanh phản ánh được
các ý nghĩa trên là một việc quan trọng, song rất khó khăn bởi mục tiêu bảo đảm
quyền tự do kinh doanh và mục tiêu bảo đảm quản lý Nhà nước là các mục tiêu
trái ngược nhau. Nếu tăng cường quản lý nhà nước, thì bảo đảm quyền tự do