mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất cứ nền kinh tế hàng hóa nào cũng tồn tại nhu cầu tự do kinh
doanh. Tuy nhiên, trong các xã hội khác nhau và ở trong từng thời kỳ lịch sử
cụ thể thì mức độ đảm bảo việc thực hiện nhu cầu tự do kinh doanh cũng khác
nhau. Điều này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó pháp luật giữ vai trò
đặc biệt quan trọng. Lý luận và thực tiễn đã chứng minh hệ thống pháp luật là
một trong những nhân tố quyết định cho việc đảm bảo quyền tự do kinh
doanh. Sự khác nhau về tính hoàn thiện, tính hiệu quả của hệ thống pháp luật
là một trong những nhân tố quyết định cho việc đảm bảo thực hiện quyền tự
do kinh doanh. Thông thờng, ở những quốc gia có hệ thống pháp luật đồng bộ
thống nhất, minh bạch, có hiệu quả là những nớc có thể khơi dậy nguồn hứng
khởi cho các nhà kinh doanh, thu hút đợc các nguồn đầu t cho sự phát triển
kinh tế. ở nớc ta và các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây, do áp dụng cơ chế kế
hoạch hóa tập trung bao cấp, tự do kinh doanh đã không đợc pháp luật công
nhận và trên thực tế không tồn tại khái niệm "quyền tự do kinh doanh". Trong
các văn bản pháp luật cũng nh các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nớc
ta lúc đó khó có thể tìm thấy khái niệm "quyền tự do kinh doanh".
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã đề ra đờng lối đổi mới
nói chung và cơ chế quản lý kinh tế nói riêng. Theo đó, tự do kinh doanh đã
chính thức trở thành quyền pháp định. Điều 4 Luật Công ty (1990) quy định
"trong khuôn khổ pháp luật, công ty có quyền tự do kinh doanh". Đến Hiến
pháp (1992) thì tự do kinh doanh đã trở thành quyền hiến định: "Công dân có
quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật" (Điều 57). ở nớc ta,
quyền tự do kinh doanh là vấn đề còn rất mới mẻ trong khoa học pháp lý. Vì
vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, nội dung của quyền tự do kinh
doanh, trên cơ sở đó thể chế hóa kịp thời và đầy đủ những yêu cầu mà quyền
1
tự do kinh doanh đặt ra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. ở phơng diện này,
pháp luật nói chung và pháp luật kinh tế nói riêng có vai trò quyết định đối với
việc đảm bảo tự do kinh doanh. Do đó, việc nghiên cứu để tìm ra những luận
ờng.
Ngoài ra, vấn đề hoàn thiện pháp luật kinh tế còn thu hút sự chú ý của
nhiều đề tài khoa học thuộc dự án do các tổ chức quốc tế thực hiện nh: Dự án
của UNDP mang tên Tăng cờng năng lực pháp luật tại Việt Nam (Dự án
VIE/94/003), mà nội dung chính là xây dựng khung pháp luật kinh tế phù hợp
với nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam.
Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập
đến nhiều khía cạnh và ở các mức độ khác nhau của quyền tự do kinh doanh.
Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận về quyền
tự do kinh doanh, vai trò của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo quyền tự do
kinh doanh và nhất là thực trạng của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo
quyền tự do kinh doanh ở nớc ta hiện nay, trên cơ sở đó đa ra những kiến nghị
để xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế đảm bảo quyền tự do kinh doanh
thì cho đến nay vẫn cha có.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án
Căn cứ vào những quan điểm của Đảng và Nhà nớc về xây dựng và
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng định h-
ớng xã hội chủ nghĩa, cũng nh từ thực tiễn xây dựng pháp luật trong thời gian
qua, mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quan niệm về quyền tự
do kinh doanh, vai trò của pháp luật kinh tế đối với việc đảm bảo quyền tự do
kinh doanh. Trên cơ sở đó tìm ra những định hớng, giải pháp nhằm xây dựng
và hoàn thiện pháp luật kinh tế đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nớc ta.
Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của luận án là:
3
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền tự do kinh doanh; từ đó xác
định đúng đắn bản chất, nội dung, những yếu tố chi phối quyền tự do kinh doanh.
- Nghiên cứu, lý giải vai trò của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo
quyền tự do kinh doanh.
- Phân tích, đánh giá thực trạng những nội dung cơ bản của quyền tự
do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành.
ớng xã hội chủ nghĩa. Mà thực chất là dân chủ hóa trong đời sống kinh tế - xã
hội để phát huy mọi tiềm năng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nớc. Luận án vận dụng các nguyên tắc phơng pháp luận của triết
học Mác - Lênin, của lý luận nhà nớc và pháp luật, đặc biệt là lý luận về pháp
luật kinh tế trong điều kiện cơ chế kinh tế mới. Trong đó, luận án đặc biệt chú
ý đến việc vận dụng phơng pháp biện chứng, phơng pháp lịch sử để phân tích,
so sánh, đối chiếu, tổng hợp trong quá trình giải quyết những vấn đề mà đề tài
đặt ra.
6. Những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án có những điểm mới sau:
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống lý
luận về quyền tự do kinh doanh.
- Luận án phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật kinh tế đảm bảo
quyền tự do kinh doanh ở nớc ta hiện nay.
- Luận án đề xuất những định hớng và giải pháp hoàn thiện những chế
định pháp luật quan trọng có liên quan trực tiếp đến việc đảm bảo thực hiện
quyền tự do kinh doanh. Trong đó, đáng chú ý là hình thức sở hữu pháp nhân;
thống nhất sự điều chỉnh pháp luật về doanh nghiệp; thống nhất sự điều chỉnh
5
pháp luật về hợp đồng. Đó là những vấn đề mới mẻ trong khoa học pháp lý n-
ớc ta hiện nay.
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật kinh tế đảm
bảo quyền tự do kinh doanh ở nớc ta, luận án đã đa ra những kiến nghị cụ thể
góp phần vào hoạt động xây dựng pháp luật kinh tế của nớc ta trong thời gian
tới, nhằm đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế thị trờng với nguyên tắc cơ
bản là tự do kinh doanh.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ
lục, nội dung luận án bao gồm 3 chơng.
6
doanh trong nền kinh tế thị trờng; kinh doanh t bản chủ nghĩa, kinh doanh xã
hội chủ nghĩa; kinh doanh trong công nghiệp, kinh doanh trong nông nghiệp,
kinh doanh trong thơng nghiệp, kinh doanh trong vận tải Tuy nhiên, dù phân
chia nh thế nào thì mục đích cuối cùng của kinh doanh là làm tăng thêm giá
trị vật chất cho xã hội và đối với từng nhà kinh doanh thì đó chính là lợi
nhuận.
ở nớc ta, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trớc đây đã có
quan niệm không đầy đủ, không đúng về kinh doanh. Kinh doanh đợc hiểu
theo nghĩa rất hẹp, kinh doanh đợc coi là một phần của quá trình tái sản xuất,
cụ thể là chỉ gắn với hoạt động lu thông, trao đổi, là buôn bán. Thậm chí, có
ngời còn ác cảm với kinh doanh, coi kinh doanh là con đờng dẫn tới bóc lột.
Do vậy, chỉ có các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể) mới
đợc phép kinh doanh, còn các thành phần kinh tế khác thì bị hạn chế và cấm
đoán.
Thực ra, kinh doanh nh đã trình bày ở trên luôn gắn với quan hệ hàng
hóa - tiền tệ và quy luật giá trị. Trong bất cứ phơng thức sản xuất nào, còn sản
xuất hàng hóa và quy luật giá trị tồn tại khách quan thì còn kinh doanh với
tính cách là phơng thức hoạt động kinh tế của con ngời.
ở nớc ta, khái niệm kinh doanh đợc định nghĩa trong Luật Công ty
(1990). Theo quy định tại Điều 3 của đạo luật này thì: "Kinh doanh là việc
thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu t, từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trờng nhằm mục
đích sinh lợi". Khái niệm kinh doanh đợc khẳng định lại trong Luật Doanh
nghiệp (1999) (khoản 2 Điều 3).
8
Với khái niệm trên, kinh doanh đã đợc hiểu một cách đầy đủ, đúng
đắn bao gồm tất cả các hoạt động nh: đầu t, sản xuất, trao đổi, dịch vụ nếu các
hoạt động này nhằm mục đích sinh lợi. Hoạt động này không nhất thiết phải
bao gồm tất cả các công đoạn để đạt đến kết quả cuối cùng mà chỉ cần một
trong các hoạt động nói trên là đủ, miễn sao hoạt động đó có mục đích sinh
đời, bản chất của quyền con ngời.
Trớc khi học thuyết "pháp luật tự nhiên" ra đời, trong lịch sử nhân loại
đã từng có quan niệm (tuy còn ít và rời rạc) cho rằng con ngời mang thuộc
tính tự nhiên, con ngời ra đời đơng nhiên có quyền tự do. Quyền tự do của con
ngời không do ai ban phát. Quyền con ngời xuất hiện trớc khi có Nhà nớc,
pháp luật. Trong điều kiện lịch sử cụ thể đó, quan niệm này thể hiện khát vọng
của con ngời, khi mà các quyền tự do của họ bị chà đạp, nhu cầu về quyền tự
do đã trở nên bức xúc. Lúc đó ngời ta thờng tìm đến tính chất tự nhiên "tạo
hóa", "bẩm sinh" các quyền tự do của con ngời. Nhận xét về quan niệm này,
GS.TS Hoàng Văn Hảo viết: "Quan niệm này thể hiện tính triết học nhân bản,
nhng khó tránh khỏi tính trừu tợng phi lịch sử, khó tránh khỏi tính chất ảo t-
ởng khi xác định nội dung các quyền con ngời, quyền công dân trong đời sống
thực tiễn" [11, tr. 13].
Đến thế kỷ XVII, XVIII các nhà t tởng, nhà cải cách lỗi lạc nh Locke,
Rousseau đã đa ra học thuyết "pháp luật tự nhiên nhân". Theo quan niệm
của thuyết "pháp luật tự nhiên nhân" thì quyền con ngời là đặc quyền tự nhiên,
quyền tự nhiên, "pháp luật tự nhiên" đứng trên, cao hơn pháp luật Nhà nớc.
Locke cho rằng các quyền cơ bản, tự nhiên của con ngời bao gồm: quyền
sống, quyền đợc tự do và quyền có tài sản. Thuyết pháp luật tự nhiên ra đời có
nguyên nhân lịch sử của nó. ở thời kỳ đó, xã hội phong kiến châu Âu đang
thống trị bởi hai thứ quyền lực là "Vơng quyền" - quyền lực của Nhà nớc và
10
"Thần quyền" - quyền lực của chúa trời. Thế kỷ thứ XVII, XVIII, chế độ quân
chủ đã đợc thiết lập ở hầu hết các nớc phong kiến châu Âu và đạt đến đỉnh cao
của sự tha hóa, nô dịch. Đó cũng là thời kỳ các Vua coi Chúa, Thánh thần là
đồng minh để hợp pháp hóa uy quyền của họ. Sự liên minh quyền lực giữa "V-
ơng quyền" và "Thần quyền" đã chà đạp thô bạo các quyền con ngời. Vì lẽ đó,
thuyết "pháp luật tự nhiên" ra đời nhằm thể hiện nhu cầu tự do của con ngời,
khẳng định quyền con ngời là tự nhiên vốn có. Thuyết pháp luật tự nhiên ra
đời để chống lại, phủ nhận quyền lực, pháp luật của Nhà nớc (Vơng quyền),
ngời để sớm thể chế hóa và bảo vệ bằng pháp luật [11, tr. 19].
Cũng cần lu ý là khái niệm quyền con ngời và khái niệm quyền công
dân là không đồng nhất, xét về cả hai phơng diện chủ thể và nội dung. Quyền
con ngời là khái niệm rộng hơn khái niệm quyền công dân. Khái niệm quyền
công dân mang tính xác định gắn liền với mỗi quốc gia, đợc pháp luật của mỗi
quốc gia quy định, khái niệm quyền công dân không chứa đựng hết khái niệm
quyền con ngời. Về phơng diện chủ thể, quyền công dân là cá nhân đợc xác
định là công dân (có quốc tịch) trong khi đó chủ thể quyền con ngời ngoài
những cá nhân là công dân còn bao gồm cả những ngời không phải là công
dân (ngời nớc ngoài, ngời không có quốc tịch, ngời bị pháp luật tớc quyền
công dân). Những ngời này tuy không đợc hởng quyền công dân nhng vẫn đợc
hởng các quyền con ngời với t cách là một thực thể tự nhiên - xã hội.
ở Việt nam cũng nh các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây, quyền con ng-
ời ít đợc nói đến, đợc mặc nhiên đồng nhất với quyền công dân. Trong các văn
bản pháp luật chỉ sử dụng thuật ngữ quyền công dân. Trong quá trình đổi mới
do Đảng ta đề xớng, những tri thức hợp lý của nhân loại đã và đang đợc chúng
ta tiếp thu. Điều 50 Hiến pháp (1992) nớc ta quy định: "ở nớc Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con ngời về chính trị, dân sự, kinh tế, văn
hóa và xã hội đợc tôn trọng thể hiện ở các quyền công dân và đợc quy định
12
trong Hiến pháp và pháp luật." Nh vậy, có thể khẳng định rằng, việc ghi nhận
và bảo đảm thực hiện tốt các quyền công dân cũng chính là đã thực hiện nội
dung cơ bản của quyền con ngời.
Các quyền tự do của công dân rất đa dạng, liên quan đến mọi mặt của
đời sống xã hội. Trong hệ thống các quyền tự do đó thì quyền tự do kinh
doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Giá trị to lớn của quyền tự do kinh
doanh thể hiện ở chỗ nó là tự do trong hoạt động kinh tế. Hoạt động kinh tế
luôn giữ vị trí trung tâm trong đời sống xã hội, quyết định các hoạt động khác.
Từ quan niệm chung về quyền tự do của con ngời, cho phép chúng ta
khẳng định: Quyền tự do kinh doanh là một phạm trù pháp lý. Dới góc độ này,
Một là, quyền tự do kinh doanh là một phần hợp thành và đóng vai trò
quan trọng trong hệ thống các quyền tự do của con ngời. Nh vậy, quyền tự do
kinh doanh phải đợc xem nh là một giá trị tự thân của con ngời mà Nhà nớc
phải thừa nhận và bảo vệ chứ không phải là sự ban phát, trao tặng.
Hai là, quyền tự do kinh doanh có trở thành hiện thực và phát huy tác
dụng trong thực tiễn hay không, tùy thuộc vào việc Nhà nớc có đáp ứng đợc
những đòi hỏi mà quyền tự do kinh doanh đặt ra để kịp thời thể chế hóa và bảo
vệ bằng pháp luật.
Ba là, quyền tự do kinh doanh của công dân tồn tại nh một nhu cầu tất
yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, nó phải là mục tiêu mà Nhà nớc
hớng tới nếu nh muốn thực hiện địa vị hợp pháp, tính nhân văn tiến bộ trong
quá trình thực hiện quyền thống trị của mình.
1.1.2. Nội dung của quyền tự do kinh doanh
14
1.1.2.1. Căn cứ xác định nội dung quyền tự do kinh doanh
Xác định đúng đắn, đầy đủ những yếu tố hợp thành quyền tự do kinh
doanh có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Trớc hết, nó giúp chúng ta
hiểu biết một cách toàn diện, có hệ thống về những yếu tố hợp thành quyền tự
do kinh doanh, vị trí vai trò của từng yếu tố và mối quan hệ giữa chúng. Từ đó,
có căn cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tự do kinh doanh.
Việc xác định này còn giúp cho các nhà kinh doanh nắm đợc những quyền mà
họ đợc làm, cách thức thực hiện những quyền đó nh thế nào. Đối với các cơ
quan nhà nớc, công chức nhà nớc, khi thực hiện chức năng quản lý của mình,
có nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm những quyền đó cho nhà kinh doanh. Để
đảm bảo tính khách quan, việc xác định nội dung của quyền tự do kinh doanh
cần phải dựa vào hai căn cứ sau:
Thứ nhất, căn cứ vào đặc điểm của nền kinh tế thị trờng để xác định
nội dung quyền tự do kinh doanh. Những tính chất và đặc điểm của nền kinh
tế thị trờng quy định nội dung, tính chất của các quan hệ kinh tế, đồng thời
cũng xác định nội dung của hoạt động kinh doanh. Để xác định những nội
- Quyền đợc đảm bảo sở hữu đối với tài sản;
- Quyền tự do thành lập doanh nghiệp (trong đó bao hàm quyền tự do lựa
chọn ngành nghề kinh doanh, địa điểm kinh doanh, lựa chọn mô hình doanh nghiệp);
- Quyền tự do hợp đồng;
- Quyền tự do cạnh tranh theo pháp luật;
- Quyền tự định đoạt trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp;
Các quyền tự do trên có mối quan hệ hữu cơ tạo thành thể thống nhất
của nội dung quyền tự do kinh doanh. Quá trình phát triển của nền kinh tế
chắc chắn sẽ làm phong phú thêm nội dung của quyền tự do kinh doanh.
16
a) Quyền đợc đảm bảo sở hữu đối với tài sản
Sở hữu là hình thức xã hội của việc chiếm hữu. Nó phản ánh mối quan
hệ giữa con ngời với con ngời trong quá trình sản xuất về việc chiếm hữu
những của cải vật chất trong xã hội, mà trớc hết là t liệu sản xuất. Các hình
thức sở hữu đợc pháp luật ghi nhận trở thành chế độ sở hữu. Chế độ sở hữu là
vấn đề cơ bản nhất của một chế độ kinh tế - xã hội.
Đối với quyền tự do kinh doanh thì quyền sở hữu t liệu sản xuất giữ vị
trí vai trò quan trọng nhất; nó đợc coi là nền tảng, là tiền đề cho việc hình
thành và thực hiện quyền tự do kinh doanh. Chỉ khi đợc sở hữu t liệu sản xuất
thì ngời ta mới có thể dùng tài sản đó đầu t vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Không ai có thể tiến hành đầu t để kinh doanh nếu không sở hữu một số t liệu
sản xuất, hàng hóa hay giá trị nhất định. Ngời nắm giữ sở hữu tài sản sẽ nắm
quyền quản lý, quyền phân phối thu nhập. Điều này đã đợc thực tiễn chứng
minh. ở các nớc t bản chủ nghĩa, sở hữu t nhân về t liệu sản xuất đợc coi là
nguyên tắc "bất khả xâm phạm" và gắn liền với nó là quyền tự do kinh doanh
đợc coi là lẽ tự nhiên, là điều "thiêng liêng" mà Nhà nớc phải bảo vệ.
ở nớc ta cũng nh ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa trớc đây, do nhận
thức chủ quan, duy ý chí, chúng ta đã nóng vội thiết lập chế độ công hữu đối
với t liệu sản xuất trên phạm vi toàn xã hội. Sở hữu t nhân đối với t liệu sản
xuất không đợc thừa nhận, do đó không tồn tại khái niệm quyền tự do kinh
kinh tế đợc thiết lập bởi sự thúc đẩy của lợi ích. Lợi ích chỉ có thể có đợc khi
các quan hệ đó đợc hình thành trên cơ sở tự do ý chí. Sự tự do ý chí trong hợp
đồng là biểu hiện của việc thực hiện quyền sở hữu của các chủ thể trong quan
hệ hợp đồng. Quan hệ hợp đồng chính là sự vận động tự do của vốn và hàng
hóa (hợp đồng là hình thức của quan hệ hàng hóa - tiền tệ xét dới góc độ kinh
tế). Suy cho cùng thì bản chất của hợp đồng là sự vận động của quan hệ sở
hữu. Thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh ở nớc ta hiện nay đã khẳng định
18
vai trò của quyền sở hữu t liệu sản xuất đối với quyền tự do hợp đồng. Các
quan hệ kinh tế hiện nay đã phát triển sống động, đa dạng (thông qua hợp
đồng) trên các lĩnh vực của nền kinh tế trong nớc cũng nh với nớc ngoài; giữa
các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau; giữa các nhà kinh
doanh trong nớc với các thơng gia nớc ngoài.
Để thực hiện đợc quyền sở hữu đối với t liệu sản xuất thì các điều kiện
sau đây cần phải đợc đáp ứng:
- Mở rộng các đối tợng có khả năng trở thành chủ sở hữu t liệu sản xuất.
- Quy định nhiều hình thức sở hữu t liệu sản xuất; các hình thức sở hữu
phải đợc đối xử bình đẳng.
- Tạo cơ sở cho sự phát triển tự giác các hình thức sở hữu tồn tại với
những đặc trng vốn có của chúng.
- Đảm bảo việc chuyển dịch sở hữu đợc thuận lợi, nhanh chóng, an
toàn và sinh lợi.
- Mở rộng khách thể của quyền sở hữu.
- Phải có những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ các hình thức sở hữu
khác nhau đối với t liệu sản xuất. Chủ sở hữu phải có những biện pháp pháp lý
để bảo vệ quyền sở hữu của mình.
b) Quyền tự do thành lập doanh nghiệp
Quyền tự do thành lập doanh nghiệp là nội dung cơ bản, quan trọng
trong hệ thống các quyền tự do kinh doanh. Vị trí, vai trò quan trọng đó đợc
thể hiện ở chỗ công dân muốn trở thành nhà kinh doanh hợp pháp (có t cách
doanh" [21, tr. 2].
Gắn liền với quyền thành lập và đăng ký kinh doanh là quyền tự do lựa
chọn ngành nghề kinh doanh; hình thức tổ chức trong kinh doanh và địa điểm
kinh doanh. Khi thực hiện quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh, các
20
chủ thể kinh doanh đã quyết định lựa chọn ngành nghề kinh doanh cho mình.
Việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn, điều
kiện và khả năng của các nhà kinh doanh, dựa trên cơ sở tìm hiểu nhu cầu thị
trờng. Sự lựa chọn này có tác dụng rất lớn đến sự nghiệp kinh doanh của nhà
doanh nghiệp trên thơng trờng. Không ai có quyền can thiệp trái phép vào
quyền này của họ, bởi lẽ ngời chịu trách nhiệm về những kết quả kinh doanh
chính là các chủ doanh nghiệp. Quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh
tạo ra khả năng rộng lớn cho nhà kinh doanh trong việc tìm hiểu nhu cầu thị
trờng. Ngành nghề kinh doanh rất đa dạng, phong phú, có thể là trong công
nghiệp, nông nghiệp, ngân hàng, dịch vụ Trong từng lĩnh vực đó lại chia
thành những lĩnh vực nhỏ hơn tạo nên sự đa dạng muôn màu muôn vẻ của đời
sống kinh doanh, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc.
Quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh cũng bị giới hạn bởi một số lĩnh
vực có liên quan đến an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội. Trên cơ sở lựa
chọn ngành nghề kinh doanh, các nhà đầu t có quyền tự do lựa chọn hình thức
tổ chức kinh doanh phù hợp với điều kiện của mình. Các nhà đầu t có thể
thành lập và đăng ký kinh doanh theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn hoặc doanh nghiệp t nhân
Một quyền tự do không kém phần quan trọng của các nhà đầu t là lựa
chọn địa điểm kinh doanh. Địa điểm kinh doanh là nơi mà họ tiến hành các
hoạt động kinh doanh, nó không chỉ phản ánh tính không gian của hoạt động
kinh doanh mà tự nó còn có ý nghĩa pháp lý quan trọng.
Lựa chọn ngành nghề kinh doanh, hình thức tổ chức trong kinh doanh,
địa điểm kinh doanh là những quyết định đầu tiên của nhà kinh doanh. Thừa
nhận quyền tự do này chính là tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu và
22
của quyền tự do kinh doanh. Nó biểu hiện cụ thể, sinh động giá trị hiện thực của
quyền sở hữu, quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh, tự do cạnh tranh
Các quyền sở hữu t liệu sản xuất, tự do thành lập và đăng ký kinh
doanh sẽ mất ý nghĩa nếu nh không có tự do hợp đồng. Hợp đồng biểu hiện
những hành vi kinh doanh cụ thể. Mọi hành vi kinh doanh nh: góp vốn thành
lập doanh nghiệp, sử dụng lao động, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng,
liên doanh liên kết, vay vốn, trao đổi hàng hóa, thực hiện các dịch vụ đều
thông qua hợp đồng. Chính vì vậy, "hợp đồng có mặt trong bất cứ lĩnh vực nào
nếu ở đó có sự chuyển dịch lợi ích" [9, tr. 25]. Do đó, đảm bảo quyền tự do
hợp đồng chính là điều kiện để thực hiện tốt các quyền tự do khác trong hệ
thống các quyền tự do kinh doanh.
Tóm lại, tự do hợp đồng là quyền của các chủ thể kinh doanh, đợc thể
hiện ở bốn khía cạnh sau đây:
- Một là, ký kết hợp đồng là quyền của các nhà kinh doanh, không ai
có quyền áp đặt, can thiệp vào quyền này.
- Hai là, các chủ thể kinh doanh có quyền tự do lựa chọn đối tác để
thiết lập các quan hệ kinh doanh.
- Ba là, các chủ thể kinh doanh có quyền thỏa thuận để áp dụng các
biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng.
- Bốn là, các chủ thể kinh doanh có quyền tự do thỏa thuận thay đổi
một số nội dung trong quá trình thực hiện hợp đồng
d) Quyền tự do cạnh tranh lành mạnh
Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trờng. Nó
có vai trò quan trọng không những với t cách là động lực của sự phát triển, mà
còn với t cách là yếu tố quan trọng làm lành mạnh các quan hệ kinh doanh.
Trong cơ chế thị trờng, nếu lợi nhuận thúc đẩy các nhà kinh doanh thì cạnh
tranh bắt buộc họ phải điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng các
23
nguồn lực (vốn, lao động, kỹ thuật ) có hiệu quả nhất nhằm duy trì sự tồn tại
sáng và giải thoát đợc khỏi các thói h tật xấu trong cuộc sống đời thờng. Nó
đối lập với cạnh tranh không lành mạnh" [46, tr. 24]. Trong mối quan hệ với
các quyền tự do kinh doanh khác, quyền tự do cạnh tranh có ý nghĩa quan
trọng. Nó chính là động lực thúc đẩy việc thực hiện các quyền sở hữu t liệu
sản xuất, tự do hợp đồng Ngày nay, hầu nh tất cả các quốc gia trên thế giới
đều thừa nhận cạnh tranh và đa ra những đảm bảo pháp lý nhằm thúc đẩy tự
do cạnh tranh lành mạnh. Để đảm bảo quyền tự do cạnh tranh lành mạnh cho
các chủ thể kinh doanh thì các yêu cầu sau đây phải đợc đảm bảo:
- Phải có hệ thống pháp luật về cạnh tranh hoàn thiện.
- Nhà nớc phải có cơ chế kiểm soát giá cả.
- Phải kiểm soát đợc độc quyền và hạn chế tối đa sự độc quyền, dù đó
là độc quyền nhà nớc.
- Phải có chế tài nghiêm ngặt đối với các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh, cạnh tranh bất hợp pháp và các mặt tiêu cực khác của cạnh tranh.
- Phải đảm bảo sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế.
e) Quyền tự do lựa chọn hình thức và phơng thức giải quyết tranh chấp
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng, các quan hệ kinh tế ngày càng phát
triển. Sự sống động, đa dạng, phức tạp của các quan hệ kinh tế, sự thôi thúc
của lợi nhuận, của cạnh tranh làm cho các tranh chấp kinh tế càng trở nên
phức tạp hơn. Tranh chấp kinh tế có những đặc thù khác với những tranh chấp
trong dân sự. Những đặc thù đó là:
- Lĩnh vực phát sinh tranh chấp là lĩnh vực kinh doanh.
- Giá trị tranh chấp thờng lớn.
25