ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT VIÊN THẾ GIANG
PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Lý luận về thông tin và công bố thông tin trên thị trường chứng
khoán
6
1.2.
Những vấn đề cơ bản của pháp luật về công bố thông tin trên thị
trường chứng khoán
32
1.3.
Khái quát quá trình phát triển pháp luật về công bố thông
tin trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam
40 Kết luận chương 1
43
CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ
THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM
2.1.
Những kết quả đạt đƣợc
45
2.2.
Một số hạn chế của pháp luật về công bố thông tin trên thị trường
chứng khoán
67 Kết luận chương 2
TTCK: Thị trường chứng khoán
CBTT: Công bố thông tin
GDCK: Giao dịch chứng khoán
LCK: Luật chứng khoán 2006
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công bố thông tin là một yêu cầu không thể thiếu để đảm bảo lòng tin và sự
công bằng cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (TTCK). Các tổ chức
phát hành, niêm yết phải thực hiện chế độ công bố thông tin kịp thời, chính xác và
theo đúng quy định của pháp luật. Công bố thông tin là nguyên tắc công khai, được
coi là nguyên tắc hoạt động cơ bản nhất của TTCK. Việc thực hiện pháp luật về
công bố thông tin và giám sát quá trình công bố thông tin trên TTCK Việt Nam vẫn
còn nhiều hạn chế.
So với các nước trong khu vực và trên thế giới, TTCK nước ta còn non trẻ và
ẩn chứa trong nó nhiều nguy cơ. Cũng giống như những thị trường mới nổi khác,
TTCK Việt Nam cũng chịu tác động rất lớn của tình trạng thông tin bất cân xứng
(thông tin không đầy đủ, khó tiếp cận thông tin, rò rỉ thông tin, mua bán thông tin
nội gián ). Những thăng trầm, biến đổi của TTCK Việt Nam có một phần “đóng
góp” không nhỏ của thông tin trên TTCK. Nhận thức được điều đó, các nhà lập
pháp nước ta cũng đã quan tâm đến việc xây dựng một hành lang pháp lý thống nhất
cho hoạt động CBTT trên TTCK để bảo đảm cho TTCK phát triển minh bạch, an
toàn và phát triển bền vững. Việc nghiên cứu quá trình phát triển của pháp luật về
CBTT trên TTCK Việt Nam có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin đã không ngừng được hoàn
thiện theo hướng nâng cao khả năng kiểm soát thông tin của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền; bảo đảm tính khách quan, công bằng giữa các công ty niêm yết
cũng như các công ty không niêm yết; khả năng tiếp cận được chính xác, đầy đủ các
thông tin của nhà đầu tư như Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Chứng khoán 2006,
thẩm quyền trong việc giám sát hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng
khoán Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 6/2008, Viên Thế
Giang (2008), Minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí
Ngân hàng số 13 tháng 7/2008 Những nghiên cứu mang tính tổng thể đánh giá về
các tác động của thông tin, công bố thông tin và pháp luật về CBTT trên TTCK đến
hoạt động đầu tư chứng khoán lại chưa có nhiều. Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài
6
“Pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận
văn tốt nghiệp cao học luật là một đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
3. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Là luận văn chuyên ngành luật học, Luận văn tập trung phân tích, đánh giá,
bình luận về các quy định pháp luật hiện hành về công bố thông tin trên TTCK
trong mối tương quan với quá trình xây dựng và hoàn thiện TTCK trong điều kiện
hội nhập quốc tế, nhất là các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán, thì
các quy định pháp luật hiện hành về CBTT cần phải hoàn thiện như thế nào. Để làm
được điều này, luận văn tập trung nghiên cứu, xây dựng hệ thống các vấn đề lý luận
về thông tin trên TTCK trên cơ sở đó phân tích các nhân tố tác động đến chất lượng
thông tin, hoạt động CBTT trên TTCK; các yêu cầu đối với thông tin trên TTCK
làm tiền đề cho các yêu cầu đối với pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam. Từ
những vấn đê lý luận trên, Luận văn phân tích thực trạng pháp luật về CBTT trên
TTCK Việt Nam, chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế của các quy định hiện hành
làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các quan điểm khoa học nhằm hoàn thiện pháp
luật về CBTT trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, cũng
như chuẩn mực về quản lý thị trường của Tổ chức quốc tế của các UBCKNN.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng
hợp từ đó rút ra các đặc điểm, quy luật về thông tin và CBTT trên TTCK Việt Nam,
nhận diện những bất cập trong các quy định pháp luật về CBTT và đề xuất một số
quan điểm nhằm hoàn thiện pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam. Ngoài các
hoàn thiện pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam.
6.2. Những đóng góp về thực tiễn
Thông qua các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin trên TTCK, cơ quan
quản lý thị trường, nhà đầu tư và tổ chức phát hành có được cơ sở lý luận nhằm
từng bước nâng cao chất lượng thông tin trên TTCK, để thông tin trở thành một
trong những yếu tố quan trọng nhất giúp giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh chứng
khoán. Những quan điểm, đề xuất trong luận văn cũng sẽ giúp ích cho cơ quan nhà
8
nước có thẩm quyền trong việc sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành về CBTT
trên TTCK Việt Nam.
7. Kết cầu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cầu làm ba chương sau:
Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về thông tin và pháp luật về công bố thông
tin trên thị trường chứng khoán
Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng
khoán Việt Nam
Chƣơng 3. Hoàn thiện về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
9
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ PHÁP
LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THÔNG TIN VÀ CÔNG BỐ THÔNG
TIN TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
Các thông tin trên TTCK được nhiều các chủ thể khác nhau công bố và ở mỗi
chủ thể CBTT, pháp luật lại có các yêu cầu khác nhau nhằm hướng tới mục tiêu bảo
đảm sự phát triển nhanh, bền vững của TTCK đáp ứng các yêu cầu của tiến trinh
hội nhập quốc tế.
Dưới góc độ kinh tế, thông tin trên TTCK được hiểu là toàn bộ các thông tin
phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong những giai đoạn phát triển nhất
định. Tình hình tài chính của doanh nghiệp được phản ánh thông qua các báo cáo tài
chính, bảng kê chi tiết tài sản, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong tương lai và như vậy, khi
nhìn vào những tài liệu này chúng ta có thể thấy được độ “lành mạnh” của tình hình
tài chính của doanh nghiệp, cũng như tiềm năng, khả năng sinh lợi của doanh
nghiệp ở hiện tại và tương lai.
Dưới góc độ xã hội, thông tin trên TTCK là một bộ phận không thể thiếu của
TTCK. Thông qua kênh thông tin, nhà đầu tư có được cái nhìn tổng thể về TTCK
cũng như thông tin đối với các công ty niêm yết. Các thông tin trên TTCK như
thông tin về tổ chức phát hành, thông tin về chỉ số chứng khoán, thông tin về diễn
biến các giao dịch trên thị trường phản ánh quy mô, mức độ phát triển của TTCK,
khẳng định vai trò là “hàn thử biểu” của TTCK đối với sự phát triển kinh tế xã hội
của đất nước.
Việc tiếp cận thông tin của nhà đầu tư có dễ dàng hay không cũng là một yếu tố
giúp cho thị trường hoạt động có hiệu quả và an toàn. Thông qua hệ thống thông tin
được công bố trên thị trường, nhà đầu tư có được các quyết định đầu tư phù hợp với
những thông tin mà mình đã có được. Với hệ thống thông tin minh bạch, rõ ràng,
TTCK sẽ thu hút được tối đa các nguồn lực của xã hội cho hoạt động đầu tư. Thông
11
tin trên thị trường chứng khoán là hệ thống các dữ liệu liên quan đến tổ chức niêm
yết do các chủ thể có thẩm quyền cung cấp theo quy định của pháp luật.
Dưới góc độ pháp lý, thông tin trên TTCK phản ảnh mức độ tuân thủ các quy
định pháp luật được áp dụng đối với các chủ thể tham gia thị trường, phản ánh hàng
quan đến hoạt động của các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán. Hệ thống
các dữ kiện này được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như, các báo cáo tài
chính hàng năm, Nghị quyết đại hội đồng cổ đông, việc xây dựng chiến lược và các
biện pháp bảo đảm thực thi Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông của Hội đồng quản
trị… Thông qua hệ thống thông tin này, nhà đầu tư có được cái nhìn nhận về hiện
trạng và xu hướng phát triển của công ty ở hiện tại và tương lai trên cơ sở đó đưa ra
quyết định đầu tư.
Hệ thống các dữ kiện này được truyền tải qua các phương tiện thông tin đại
chúng cũng như hệ thống lưu trữ dữ kiện/tài liệu nội bộ của tổ chức niêm yết và cơ
quan quản lý thị trường. Tổ chức niêm yết chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính
chân thực của các thông tin này. Yêu cầu đối với hệ thống dữ kiện của tổ chức niêm
yết là phải dễ dàng tiếp cận với những ai muốn tìm hiểu về công ty.
Thứ hai, thông tin trên TTCK là một bộ phận cấu thành nên thị trường. Thông
qua kênh thông tin, nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, các
chuyên gia tài chính ngân hàng có thể nhận biết được xu hướng phát triển của thị
trường từ đó đưa ra được những cảnh báo hoặc định hướng phát triển.
Tuy nhiên, trong điều kiện ai cũng có thể đưa ra thông tin, bình luận thông tin
trong cách nhìn nhận riêng của cá nhân mình dễ dẫn đến tình trạng loạn thông tin và
nếu không thận trọng thì sẽ dễ dẫn đến những quyết định sai lầm hoặc gây thiệt hại
cho các tổ chức niêm yết một cách vô tình hay hữu ý.
Là bộ phận cấu thành nên thị trường, hệ thống thông tin cần được kiểm duyệt
chặt chẽ, nhất là các thông tin có nguy cơ gây nhiễu loạn thị trường. Minh định
trong chính sách về phát triển thị trường, ấn định hệ thống các thông tin phải công
bố là một trong những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của bộ phận thông tin của
13
thị trường. Chỉ khi có được hệ thống thông tin thị trường minh bạch mới có thể tạo
lập được TTCK phát triển ổn định và bền vững.
Thứ ba, thông tin trên TTCK là cơ sở để các nhà đầu tư phân tích, đánh giá,
thương lượng với nhau. Thông tin là thước đo phản ánh giá trị của doanh nghiệp.
đưa người thân của mình vào để mua cổ phiếu của công ty. Thực tế này đã làm ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động của công ty. Công ty bị tước đoạt đi các giá trị mà
đáng lẽ công ty được hưởng đồng thời làm mất đi các cơ hội kinh doanh của các nhà
đầu tư khác; đồng thời làm mất đi tính công bằng, khách quan của thị trường.
Để bảo đảm cho thông tin để các nhà đầu tư phân tích, đánh giá, thương lượng
với nhau thì thông tin phải bảo đảm các yêu cầu:
- Các thông tin về diễn biến hoạt động của công ty phải được công bố kịp thời,
nhất là các thông tin bất thường, các giao dịch lớn, giao dịch của cổ đông lớn trong
công ty;
- Mỗi tổ chức phát hành cần có bộ phận chuyên trách để thu thập, phân tích, xử
lý và công bố thông tin về tình hình hoạt động của công ty;
- Tổ chức phát hành phải thường xuyên cập nhật thông tin lên trang thông tin
điện tử của mình;
- Nâng cao ý thức và vai trò của cổ đông trong việc yêu cầu công ty cung cấp
thông tin đáp ứng yêu cầu của mình để bảo đảm sự bình đẳng trong việc tiếp cận
thông tin của nhà đầu tư.
Do vậy, vấn đề kiểm soát thông tin công bố trên TTCK, các biện pháp chế tài
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về CBTT trên TTCK là công cụ thiết lập trật tự
kỷ cương của thị trường, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống thông tin thị trường,
từ đó giúp cho thị trường hoạt động theo đúng quy luật, an toàn và phát triển bền
vững phải được quan tâm hàng đầu và tiến hành thường xuyên.
Thứ tƣ, thông tin trên TTCK là một trong những biểu hiện và làm gia tăng giá
trị của công ty niêm yết, song nó cũng có thể gây bất lợi cho công ty. Một công ty
làm ăn có hiệu quả, chiến lược kinh doanh khả thi, tình hình tài chính lành mạnh tất
yếu sẽ được nhà đầu tư chú ý và giá cổ phiếu niêm yết của công ty sẽ cao. Đây là
15
điều hiển nhiên. Thực tế cho thấy, một công ty với nhiều thành tích, được báo giới
nhắc đến nhiều, hoặc là các nhà tài trợ cho các chương trình thì càng được công
chúng biết đến và điều đó đã làm gia tăng đáng kể giá trị của công ty. Một trong
trong việc “bốc thuốc trị bệnh” cho TTCK trong những trường hợp cần thiết.
1.1.1.2. Hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
a) Khái niệm công bố trên thị trường chứng khoán
Để thông tin đến được người có nhu cầu không thể không có hoạt động công
bố. Hoạt động CBTT là hoạt động thường xuyên của các chủ thể có nghĩa vụ
CBTT. Hoạt động CBTT không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân tổ chức phát hành
mà còn có ý nghĩa đối với cả nhà đầu tư, với cơ quan quản lý nhà nước.
Thực tiễn hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp không chỉ bó hẹp trong một vài
quan hệ kinh doanh, mà các quan hệ kinh doanh đó tồn tại đan xen và phức tạp. Các
thông tin liên quan đến hoạt động của công ty nếu chỉ bó hẹp trong phạm vi “quản
trị nội bộ” thì không ai có thể tiếp cận được với các luồng thông tin nội bộ đó. Hoạt
động của công ty gắn liền với thị trường và cần có sự giám sát của thị trường bên
cạnh sự giám sát của cổ đông công ty.
Thông qua hoạt động giám sát từ bên ngoài, từ thị trường, công ty buộc phải
điều chỉnh hành vi của mình, của cổ đông và của người quản trị công ty. Công ty
hoạt động với quy mô và tính chất đại chúng càng cao thì yêu cầu công khai và
minh bạch hoá thông tin càng lớn. Có rất nhiều thông tin công ty cần phải công khai
hoá, như thực trạng và cơ cấu sở hữu, mục tiêu hoạt động, thực trạng tài chính, tiềm
năng và rủi ro… đến tập thể và cá nhân những người quản lý công ty và những lợi
ích có liên quan đều phải công khai hoá.
Thông quan hoạt động CBTT, chúng ta có được một cái nhìn toàn diện về
TTCK trong một giai đoạn nhất định. Bởi lẽ, pháp luật quy định việc CBTT không
phải chỉ là của các tổ chức niêm yết mà còn cả của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Tất cả các hoạt động CBTT đó được cộng hưởng cùng với các phương tiện
truyền thông đại chúng giúp cho các thông tin được công bố đến với công chúng
đầu tư nhanh hơn.
17
Độ chính xác, khách quan, kịp thời của hoạt động CBTT luôn là vấn đề cần
được quan tâm hàng đầu. Nếu thông tin không chính xác, không khách quan, không
khách quan và công tâm trong việc phân tích đánh giá hệ thống thông tin thị trường
từ đó đưa ra các khuyến cáo đối với thị trường.
Chỉ khi hoạt động CBTT được tiến hành thường xuyên, tính minh bạch, công
khai, liên tục của TTCK mới được bảo đảm. Điều này càng có ý nghĩa hơn đối với
thị trường mới nổi như TTCK Việt Nam. Nói cách khác, thông tin về doanh nghiệp
được công bố thường xuyên sẽ góp phần rất lớn vào việc tạo lập, củng cố niềm tin
của giới đầu tư và các bên có liên quan vào thị trường vốn; là yếu tố không thể
thiếu đối với sự ổn định và hiệu quả hoạt động của thị trường. Nó ngăn ngừa và
làm giảm được những ửng xử trái đạo đức và hành vi lạm dụng, trái đạo đức, trái
pháp luật gây hại không chỉ quyền lợi của công ty, của cổ đông mà còn cả nền kinh
tế.
Hai là, hoạt động CBTT trên TTCK gắn liền với diễn biến hoạt động của tổ
chức phát hành và của thị trường. Đây là yếu tố sống còn để thị trường hoạt động
có hiệu quả và phát huy được hiệu lực của hoạt động giám sát theo cơ chế thị
trường đối với công ty. Các quy định về giao dịch tư lợi trong Luật Doanh nghiệp sẽ
trở nên vô nghĩa nếu tất các các thông tin liên quan đến hoạt động công ty không
đến được với cổ đông, đến được với thị trường. Thông qua các thông tin được công
bố, các cổ đông có điều kiện thực hiện các quyền chủ sở hữu, thông qua đó bảo vệ
lợi ích của họ ở công ty, nhất là các cổ đông thiểu số.
Pháp luật về CBTT trên TTCK các nước đều yêu cầu việc CBTT của các tổ
chức phát hành tập trung vào các dạng thông tin: thông tin định kỳ, thông tin bất
thường, thông tin theo yêu cầu, quy định này không ngoài mục đích giúp cho nhà
đầu tư, cơ quan quản lý theo sát được diễn biến hoạt động của tổ chức niêm yết, kịp
thời phát hiện các thông tin sai lệch, xử lý kịp thời các hành vi trục lợi/vi phạm
pháp luật về CBTT để tránh các thiệt hại có thể phát sinh. Loại thông tin yêu cầu
phải công khai hoá và mức độ công khai hoá có thể khác nhau giữa các quốc gia và
vùng lãnh thổ. Nhưng nhìn chung, xét về khung quản trị tốt, thì thông tin về các vấn
đề sau đây nên được công khai hoá: i) Thông tin về sứ mạng và mục tiêu của công
19
20
nổi như TTCK Việt Nam còn thiếu nhiều yếu tố; cung cách quản lý, vận hành
TTCK vẫn còn mang nặng tính chất hành chính can thiệp; sức ép của việc thực thi
các cam kết quốc tế về mở của TTCK rất lớn. Do đó, nâng cao vai trò của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm soát hoạt động CBTT trên TTCK là
vấn đề cấp thiết.
Thông qua hoạt động kiểm soát việc CBTT: i) Cơ quan quản lý nhà nước kiểm
soát được mức độ tuân thủ pháp luật về CBTT của các chủ thể, trên cơ sở đó từng
bước thiết lập được hệ thống thông tin thông suốt của thị trường; ii) Phát hiện và
ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về CBTT; kịp thời có các biện
pháp cùng với doanh nghiệp ứng phó với “sự cố tin đồn” liên quan đến hoạt động
của công ty; iii) Nâng cao hiệu lực và hiệu quả của pháp luật về CBTT và gián tiếp
nâng cao ý thức pháp luật cho các chủ thể CBTT.
Vai trò của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động CBTT trên
TTCK được thể hiện ở các khía cạnh sau [11]:
Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xây dựng hệ thống
thông tin cần công bố qua các thời kỳ phù hợp với đặc điểm phát triển của thị
trường và tuân theo các quy luật đặc thù của thị trường. Thông tin trên thị trường
luôn luôn biến động theo những diễn biến của thị trường. Các thông tin đó ngay lập
tức ảnh hưởng đến hoạt động thị trường, như những biến động của chỉ số giá chứng
khoán, các thông tin liên quan đến người quản trị, các vụ vi phạm pháp luật chứng
khoán, các thông tin liên quan đến cơ chế, chính sách… Do đó, các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cần xây dựng hệ thống các thông tin mà các chủ thể cần phải
công bố, nhất là các thông tin có ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư. Các
thông tin phải công bố yêu cầu phải rõ ràng và cụ thể, tránh tình trạng thông tin cần
thì không có mà thông tin không cần thiết lại tràn lan.
Thứ hai, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cùng với các doanh nghiệp xây
dựng hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động CBTT. Hệ thống cơ sở vật chất
phục vụ cho hoạt động CBTT của các chủ thể là rất qua trọng. Chỉ khi xây dựng
22
phát triển và ngược lại. Một thị trường mới nổi như Việt Nam ngoài những đặc
điểm chung như các thị trường khác thì bản thân nó cũng có những điểm đặc thù,
như thường xuyên biến động, dễ bị tổn thương trước các thông tin thị trường, luôn
trong quá trình tự hoàn thiện… Tất cả các đặc thù đó tác động trực tiếp đến việc
điều chỉnh pháp luật trên TTCK cũng như việc xây dựng pháp luật về TTCK. Việc
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về CBTT trên TTCK một mặt có tác dụng răn
đe đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật; mặt khác thông qua việc xử lý
nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về CBTT trên TTCK giúp cho thị
trường và nhà đầu tư “lưu ý” đối với các công ty thường xuyên vi phạm pháp luật
về CBTT.
1.1.2. Nguồn thông tin và chất lƣợng thông tin trên thị trƣờng chứng khoán
1.1.2.1. Nguồn thông tin trên thị trường chứng khoán
Hệ thống thông tin của TTCK là những chỉ tiêu, tư liệu phản ánh bức tranh của
TTCK và tình hình kinh tế, chính trị, xã hội liên quan tại những thời điểm hoặc thời
kỳ khác nhau. Hệ thống thông tin của TTCK rất đa dạng, phong phú và có nhiều
cách thức khác nhau để phân loại nguồn thông tin trên TTCK [3, tr 442-444]. Thông
tin trên TTCK rất đa dạng, do nhiều chủ thể khác nhau công bố. Mỗi loại thông tin
do các chủ thể công bố có ưu điểm, nhược điểm nhất định.
a) Thông tin từ tổ chức niêm yết
Đây là nguồn thông tin cơ bản, quan trọng nhất đối với TTCK. Là các tổ chức
có chứng khoán đăng ký giao dịch tại Trung tâm/Sở GDCK, các tổ chức này phải
thực hiện việc CBTT theo quy định của pháp luật. Các thông tin của tổ chức niêm
yết phải do đại diện có thẩm quyền công bố.
Thông tin của tổ chức niêm yết có những ưu điểm cơ bản sau đây:
Một là, những thông tin này phản ánh chính xác diễn biến tình hình hoạt động
của tổ chức niêm yết, nhất là các thông tin liên quan đến tình hình tài chính của tổ
chức này. Thông qua các thông tin của tổ chức này, nhà đầu tư cũng như cơ quan
quản lý thấy được tình hình hoạt động thực tiễn của tổ chức niêm yết để đưa ra
số khách hàng [3, tr 446].
24
Như vậy, ưu điểm của thông tin do tổ chức kinh doanh chứng khoán cung cấp
là:
- Giúp cho những người có liên quan thấy được diễn biến trên TTCK qua các
giai đoạn, phục vụ tốt cho việc quản lý, phân tích đánh giá và đầu tư chứng khoán;
- Thông tin do các tổ chức này cung cấp có tính hệ thống, logic và có thể tiếp
cận theo từng nội dung mà mình quan tâm, và trong những trường hợp cần thiết có
thể được cung cấp dịch vụ tư vấn theo yêu cầu;
- Thông qua hệ thống thông tin của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, có thể
thấy được số lượng nhà đầu tư tham gia kinh doanh chứng khoán và tình hình thực
hiện các GDCK. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà quản lý nhằm
kiểm soát các giao dịch của các chủ thể tham gia TTCK.
Mặc dù vậy, thông tin của tổ chức kinh doanh chứng khoán có hạn chế là:
- Việc cung cấp thông tin bị chi phối bởi yếu tố lợi ích là rất lớn. Nếu cung cấp
thông tin đầy đủ thì có nguy cơ xâm phạm đến quyền lợi của nhà đầu tư và quyền
lợi khách hàng;
- Yêu cầu giữ bí mật về các thông tin liên đến nhà đầu tư (trừ các thông tin phải
công bố theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nên các tổ chức này
thường rất thận trọng trong việc CBTT, nhất là các thông tin về khối lượng giao
dịch của khách hàng.
c) Thông tin từ thực tiễn giao dịch trên thị trường
Thông tin thị trường do Trung tâm/Sở GDCK cung cấp, bao gồm các thông tin
về loại chứng khoán, thông tin về GDCK, thông tin về quản lý giao dịch và quy chế,
nguyên tắc GDCK. Thông tin này thường xuyên thay đổi và thường xuyên được cập
nhật và thường được công bố trên tờ thông tin chứng khoán [3, tr 446-447].
Các thông tin này theo sát diễn biến hoạt động của thị trường, đây là nguồn
đáng tin cậy cho các nhà đầu tư chứng khoán. Do theo sát được các diễn biến của
thị trường, nên Trung tâm/Sở GDCK có thể đưa ra những khuyến cáo cho nhà đầu