Hợp đồng học nghề theo Luật dạy nghề ở Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28

MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG HỌC NGHỀ
6
1.1.
Quan niệm về học nghề
6
1.1.1.
Khái niệm học nghề
6
1.1.2.
Sự cần thiết phải học nghề trong lĩnh vực giải quyết việc
làm hiện nay
7
1.1.3.

1.3.2.
Giai đoạn 1955-1985
23
1.3.3.
Giai đoạn 1986-1994
25
1.3.4.
Giai đoạn 1995 đến nay
27 29
Chương 2: HỢP ĐỒNG HỌC NGHỀ THEO LUẬT DẠY NGHỀ VÀ
THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
2.1.
Giao kết hợp đồng học nghề
29
2.1.1.
Chủ thể giao kết hợp đồng học nghề
29
2.1.1.1.
Người học nghề
29
2.1.1.2.
Cơ sở dạy nghề
31
2.1.2.
Nguyên tắc giao kết hợp đồng học nghề
33
2.1.2.1.

2.2.2.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng học nghề
40
2.2.3.
Hậu quả pháp lý của chấm dứt hợp đồng học nghề
40
2.3.
Thực hiện hợp đồng học nghề
42
2.3.1.
Trong doanh nghiệp nhà nước
42
2.3.2.
Trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
44
2.3.3.
Trong doanh nghiệp vừa và nhỏ
45
2.4.
Giải quyết tranh chấp về hợp đồng học nghề
48 53
Chương 3: HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP
ĐỒNG HỌC NGHỀ Ở VIỆT NAM
3.1.
Một số nhận xét về thực trạng áp dụng hợp đồng học nghề
53
3.1.1.

79

KẾT LUẬN
87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
89 MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi cần phải có
một cơ cấu lao động hợp lý. Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đào
tạo nghề luôn được coi là vấn đề then chốt nhằm tạo ra đội ngũ lao động có
trình độ chuyên môn, có kỹ năng phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (Khóa IX) về giáo
dục và đào tạo đã chỉ rõ: "Phải đặc biệt nâng cao chất lượng dạy nghề; gắn

nghề khi giao kết hợp đồng học nghề với doanh nghiệp, quy định của pháp
luật chưa đầy đủ để giải quyết triệt để các vấn đề tranh chấp trong hợp đồng
học nghề. Do vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về hợp đồng học
nghề, thực trạng quy định và thực hiện pháp luật hợp đồng học nghề thông
qua đó tìm ra những định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về học
nghề nói chung và hợp đồng học nghề nói riêng là một nhu cầu cần thiết và
có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ những điều trình bày trên, học viên đã chọn đề tài "Hợp
đồng học nghề theo Luật Dạy nghề ở Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ luật
học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Có thể nói "Hợp đồng học nghề" là một vấn đề đã được các nhà khoa
học luật quan tâm nghiên cứu. Thời gian qua, đã có một số công trình nghiên
cứu về vấn đề này ở các góc độ khác nhau. Đề tài: Chế độ dạy và học nghề
theo pháp luật lao động Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học của Đào Thị
Mộng Điệp, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội (2002), tác giả đã nghiên cứu
các quy định của pháp luật Việt Nam về quan hệ dạy và học theo quy định
của pháp luật Việt Nam, tuy nhiên tác giả lại không đề cập nhiều về vấn đề
hợp đồng học nghề; hay đề tài Đào tạo nâng cao trình độ nghề nghiệp cho
người lao động theo hợp đồng học nghề, khóa luận tốt nghiệp của Chu Bá
Hữu, Trường Đại học Luật Hà Nội (1997), hợp đồng học nghề được tác giả
nghiên cứu theo Bộ luật Lao động cũ năm 1994 vì thời điểm này Luật Dạy
nghề chưa ra đời. Học nghề - cơ hội việc làm mới cho người lao động, khóa
luận tốt nghiệp của Ninh Thị Hồng Thoa, Trường Đại học Luật Hà Nội (2003)
hay Đào tạo nghề - thực trạng và một số kiến nghị, khóa luận tốt nghiệp của
Lê Thị Thanh Nhàn, Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), ở hai đề tài này,
nội dung hợp đồng học nghề được tác giả nêu ra có tính chất gợi mở mà chưa
đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện hợp đồng học nghề cả về lý luận
và thực tiễn. Ngoài ra còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí như Hội
nhập kinh tế quốc tế và vai trò của pháp luật lao động về học nghề trong việc

định pháp luật về hợp đồng học nghề.
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về
hợp đồng học nghề và việc thực thi trên thực tế; đánh giá những kết quả cũng
như sự bất cập và nguyên nhân của sự bất cập, hạn chế đó.
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp
đồng học nghề và nâng cao hiệu quả áp dụng chúng trong thực tiễn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu hướng vào
tìm hiểu các quy định pháp luật về hợp đồng học nghề ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về
hợp đồng học nghề theo pháp luật hiện hành.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, những quan
điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng,
phát triển đất nước, cải cách hành chính xây dựng Nhà nước pháp quyền và
cải cách tư pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, việc nghiên cứu
đề tài còn được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học như
phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê …
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về hợp đồng học nghề.
Chương 2: Hợp đồng học nghề theo Luật dạy nghề và thực trạng áp
dụng ở Việt Nam.
Chương 3: Hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng học nghề ở
Việt Nam.

Học nghề là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới quan hệ lao động, thường
đan xen với quan hệ lao động hay phát sinh trước để tạo điều kiện cho quan
hệ lao động hình thành. Do đó, pháp luật lao động điều chỉnh quan hệ học
nghề trong phạm vi liên quan đến quan hệ lao động xác định.
Dưới góc độ pháp luật lao động, học nghề là chế định của
luật lao động, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà
nước ban hành, quy định về quyền học nghề; điều kiện của người
học nghề; quyền dạy nghề, điều kiện của người dạy nghề; hợp đồng
học nghề và những vấn đề liên quan tới hợp đồng học nghề; quan
hệ dạy và học nghề giữa hai bên; chính sách áp dụng đối với cơ sở
dạy nghề; vấn đề giải quyết việc làm cho người học nghề trong một
số trường hợp cụ thể [52, tr. 189-190].
1.1.2. Sự cần thiết phải học nghề trong lĩnh vực giải quyết việc làm
hiện nay
Đối với mỗi quốc gia, chính sách việc làm và giải quyết việc làm là bộ
phận có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các chính sách xã hội nói
riêng và trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế nói chung. Để đánh giá
trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia, người ta thường căn cứ vào các
chỉ số như chỉ số tăng trưởng GDP (chỉ số tăng trưởng tổng sản phẩm quốc
nội), HDI (chỉ số phát triển con người), chỉ số lạm phát, chỉ số thất nghiệp. Vì
vậy, giải quyết tốt vấn đề việc làm sẽ hạn chế được số lượng lao động thất
nghiệp, kiểm soát được thất nghiệp.
Để giải quyết việc làm cho người lao động, Nhà nước có thể sử dụng
nhiều biện pháp khác nhau. Có những biện pháp nhằm trực tiếp giải quyết
việc làm cho người lao động nhưng có những biện pháp chỉ mang tính chất hỗ
trợ cho việc giải quyết việc làm. Dạy và học nghề là một trong những biện
pháp giải quyết việc làm cho người lao động thất nghiệp hiện nay. Bởi lẽ,
muốn có việc làm, người lao động cần hội tụ đủ hai điều kiện chủ yếu, đó là
sức khỏe và trình độ nghề. Sức khỏe là yếu tố đầu tiên mà bất kỳ người lao
động nào cũng cần có khi tham gia thực hiện công việc nhất định. Nhưng có

là giáo dục đại học- giáo dục nghề nghiệp và giáo dục phổ thông (tương ứng
cơ cấu nhân lực sẽ là lao động kỹ thuật bậc cao và lao động quản lý- công
nhân kỹ thuật bậc trung và bậc thấp- lao động phổ thông). Như vậy giáo dục -
đào tạo nghề lại là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển của khoa học kỹ thuật, khả
năng cạnh tranh việc làm của người lao động ngày càng cao đã đẩy vấn đề
học nghề lên tầm quan trọng mới. Để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh
tế, một trong những giải pháp quan trọng, có tính chất quyết định là phải nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực. Muốn vậy phải nâng cao thể lực, trí lực, phẩm
chất tâm lý, tác phong công nghiệp, tính kỷ luật, chấp hành luật pháp cho đội
ngũ lao động và thay đổi cơ cấu dạy nghề theo yêu cầu của thị trường hiện
nay. Đào tạo nghề là một phần quan trọng trong hệ thống giáo dục có nhiệm
vụ đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề kỹ thuật phục vụ sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển. Trước đây, do
quan niệm đào tạo nghề chỉ là vấn đề giáo dục và đào tạo, chưa thấy được sự
cần thiết phải gắn học nghề với vấn đề giải quyết việc làm nên nhiệm vụ quản
lý nhà nước về dạy và học nghề thuộc Bộ giáo dục và đào tạo. Hiện nay,
nhiệm vụ này được chuyển giao cho Bộ lao động thương binh và xã hội nhằm
thực hiện sự gắn kết đào tạo nghề với nhu cầu giải quyết việc làm cho thị
trường lao động hiện nay. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, các bộ,
ngành và địa phương đã quan tâm đẩy mạnh công tác dạy và học nghề nhằm
đáp ứng yêu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX định hướng phát triển kinh tế đất
nước về lao động và việc làm đã kết luận:
Thực hiện tốt các chính sách về lao động, việc làm, tiền
lương, thu nhập nhằm khuyến khích và phát huy cao nhất năng lực
của người lao động. Bảo đảm quan hệ lao động hài hòa, cải thiện
môi trường và điều kiện lao động. Đẩy mạnh dạy nghề và tạo việc

làm hoặc có điều kiện học lên trình độ cao hơn. Nội dung dạy nghề trình độ
sơ cấp tập trung vào năng lực thực hành nghề, phù hợp với thực tiễn và sự
phát triển của khoa học, công nghệ. Phương pháp dạy nghề trình độ sơ cấp
chú trọng rèn luyện kỹ năng thực hành nghề và phát huy tính tích cực, tự giác
của người học hơn là dạy các kiến thức xã hội xung quanh nội dung nghề đó.
Các cơ sở dạy nghề trình độ sơ cấp bao gồm: trung tâm dạy nghề, trường
trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp,
doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ khác, trường
trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học, cơ sở giáo dục
khác có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp. Sau khi học xong, người học nghề
sơ cấp được cấp chứng chỉ sơ cấp nghề theo quy định của pháp luật.
Học nghề theo trình độ trung cấp diễn ra trong khoảng thời gian từ
một đến hai năm tùy theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung
học phổ thông, từ ba năm đến bốn năm tùy theo nghề đào tạo đối với người có
bằng tốt nghiệp trung học cơ sở. Học nghề trình độ trung cấp có thể trang bị
cho người học kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của
một nghề, có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào
công việc, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công
nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho người học tìm kiếm việc làm, tự tạo việc
làm hoặc có điều kiện học lên trình độ cao hơn.
Yêu cầu đối với nội dung dạy nghề trình độ trung cấp là phải tập trung
vào năng lực thực hành các công việc của một nghề, nâng cao trình độ học
vấn theo yêu cầu đào tạo, đảm bảo tính hệ thống, cơ bản, phù hợp với thực
tiễn và sự phát triển của khoa học, công nghệ. Phương pháp dạy nghề trình độ
trung cấp phải kết hợp rèn luyện năng lực thực hành nghề với trang bị kiến
thức chuyên môn và phát huy tính tích cực, tự giác, khả năng làm việc độc lập
của người học nghề. Cơ sở dạy nghề trình độ trung cấp bao gồm: trường trung
cấp nghề, trường cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ trung cấp,
trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học có đăng ký
dạy nghề trình độ trung cấp. Khi kết thúc khóa học, người học nghề được cấp

người đó theo học. Kết thúc khóa học, người học sẽ được cấp bằng hoặc
chứng chỉ nghề theo quy định của Nhà nước.
Học nghề kèm cặp tại doanh nghiệp thường được tổ chức ở các cơ sở
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với số lượng người học ít. Đây thực
chất là quá trình vừa học vừa làm của người lao động. Người học chủ yếu
thực hành nghề nhiều hơn học lý thuyết. Trong trường hợp này, giáo viên dạy
nghề là người đang trực tiếp làm việc tại doanh nghiệp. Họ sẽ hướng dẫn
người học các kỹ năng cần thiết để người học có thể thực hành nghề trên máy
móc, thiết bị ngay trong doanh nghiệp. Trong quá trình học, người học nghề
có thể làm ra sản phẩm và được doanh nghiệp trả công. Người học nghề theo
hình thức này sẽ không được cấp chứng chỉ nghề sau khi học. Tuy nhiên, kết
thúc thời gian học, người học có thể được doanh nghiệp nhận vào làm thông
qua hợp đồng lao động.
1.1.3.3. Phân loại theo mục tiêu của người học
Căn cứ vào mục tiêu của người học, có hai loại: học nghề để tự tạo
việc làm và học nghề để tham gia quan hệ lao động.
Học nghề để tự tạo việc làm nghĩa là sau khi hoàn thành xong khóa
học, với kiến thức và kỹ năng nghề được trang bị thì người học có thể độc lập
tự mình thực hành nghề để tạo việc làm và có thu nhập nuôi bản thân và gia
đình. Người học có thể tham dự khóa học nghề ngắn hạn hoặc dài hạn ở bất
kỳ cơ sở dạy nghề nào mà pháp luật cho phép để có thể trang bị cho mình
kiến thức của một nghề nhất định.
Ngược lại, sau khi kết thúc khóa học nghề, rất nhiều người học nghề
đã lựa chọn tìm kiếm việc làm bằng cách tham gia quan hệ lao động với một
cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đây là hình thức học
nghề để tham gia quan hệ lao động. Với cách phân loại này, quan hệ học nghề
được xem như quan hệ tiền lao động bởi chỉ khi học nghề xong, người học
mới có thể tham gia quan hệ lao động với chủ sử dụng lao động.
Nhìn chung, học nghề để tự tạo việc làm hay tham gia quan hệ lao
động là mục đích riêng của mỗi người trước khi tham gia khóa học tùy thuộc

học nghề phải có hợp đồng học nghề bằng văn bản hoặc bằng miệng giữa
người học nghề với người dạy nghề hoặc đại diện cơ sở dạy nghề" [33]. Quy
định này chỉ xác định được hình thức của hợp đồng học nghề và các bên trong
hợp đồng học nghề mà chưa nêu được bản chất của hợp đồng học nghề. Luật
Dạy nghề năm 2006 ra đời dành hẳn một chương riêng với những điều khoản
quy định về hợp đồng học nghề. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 Luật Dạy
nghề năm 2006, "hợp đồng học nghề là sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ
giữa người đứng đầu cơ sở dạy nghề với người học nghề" [38]. Từ định nghĩa
trên dễ nhận thấy, hợp đồng học nghề chính là bản "giao kèo" để ghi nhận
quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia quan hệ học nghề.
Lần đầu tiên khái niệm hợp đồng học nghề được quy định cụ thể, rõ
ràng trong một văn bản pháp luật có giá trị cao nhất về luật chuyên ngành.
Đây là cơ sở pháp lý ràng buộc trách nhiệm pháp lý giữa các bên dạy và học
nghề, đồng thời cũng là căn cứ để giải quyết các tranh chấp, bất đồng trong
quan hệ học nghề. Nó thể hiện bản chất thỏa thuận giữa các chủ thể tham gia
quan hệ học nghề, ràng buộc trách nhiệm hai bên không chỉ trong quá trình
học nghề mà cả khi người học nghề tham gia quan hệ việc làm nếu trong hợp
đồng học nghề ghi cơ sở dạy nghề cam kết bảo đảm việc làm cho người học
nghề sau khi học xong.
Hợp đồng học nghề là một dạng đặc biệt của hợp đồng lao động, cho
nên nó có tính chất của hợp đồng lao động là sự tự do, tự nguyện, bình đẳng
của các chủ thể trong quan hệ, lại vừa mang đặc điểm riêng so với những thỏa
thuận trong hợp đồng lao động thông thường. Những đặc điểm đó là:
Thứ nhất, đối tượng của hợp đồng học nghề là việc dạy và học nghề.
Nếu như đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả công thì
đối tượng của hợp đồng học nghề là công việc dạy và học kiến thức và kỹ
năng một nghề nào đó. Khi tham gia quan hệ dạy - học nghề, người học nghề
mong muốn có được kỹ năng một nghề nhất định để có thể thể tự tạo việc làm
hoặc đi làm thuê. Để đạt được sự thành thạo một nghề nhất định, người học
nghề phải trải qua quá trình học tập, tích lũy, rèn luyện kiến thức về chuyên

Như vậy, nếu vi phạm các điều khoản trong hợp đồng học nghề, trách nhiệm
bồi thường thuộc về các chủ thể của hợp đồng hoặc người thứ ba theo quy
định của pháp luật.
1.2.2. Phân loại hợp đồng học nghề
Với sự đa dạng về nội dung của hợp đồng và sự phụ thuộc vào cách
tiếp cận vấn đề khác nhau hợp đồng học nghề có thể được phân chia thành
từng loại khác nhau dựa trên những căn cứ, dấu hiệu đặc trưng cụ thể.
Dựa vào hình thức, hợp đồng học nghề được chia thành hai loại: hợp
đồng học nghề bằng văn bản và hợp đồng học nghề bằng lời nói.
Hợp đồng học nghề bằng văn bản là hình thức hợp đồng phổ biến hiện
nay, có thể được sử dụng trong mọi trường hợp, không phân biệt loại hình học
nghề, thời hạn học nghề, chủ thể giao kết hợp đồng. Để nâng cao giá trị pháp
lý của hợp đồng học nghề, pháp luật quy định bắt buộc áp dụng hợp đồng học
nghề trong trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để làm việc
cho doanh nghiệp và trường hợp học nghề tại cơ sở học nghề có vốn đầu tư
nước ngoài. hợp đồng học nghề bằng văn bản phải được làm thành hai bản
như nhau, mỗi bên giữ một bản. Đây là căn cứ quan trọng để giải quyết mâu
thuẫn, bất đồng khi tranh chấp về hợp đồng học nghề xảy ra.
Hợp đồng học nghề bằng lời nói được sử dụng trong trường hợp
truyền nghề và kèm cặp nghề tại doanh nghiệp. Xét về tính hiệu quả và tính
có căn cứ thì hợp đồng học nghề bằng lời nói có nhiều hạn chế hơn hợp đồng
học nghề bằng văn bản. Do đó, Nhà nước giới hạn phạm vi áp dụng đồng thời
khuyến khích các bên sử dụng hình thức hợp đồng học nghề bằng văn bản.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp học nghề đơn giản, ít xảy ra mâu thuẫn
pháp luật vẫn chấp nhận hình thức hợp đồng học nghề bằng lời nói.
Theo giá trị pháp lý, hợp đồng học nghề được chia thành hai loại: hợp
đồng học nghề hợp pháp và hợp đồng học nghề vô hiệu.
Cách phân loại này nhằm mục đích giúp cơ quan có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp khi nghi ngờ giá trị pháp lý của hợp đồng học nghề. Theo
đó, hợp đồng học nghề hợp pháp là loại hợp đồng đáp ứng đầy đủ các điều

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mỗi bên khi vi phạm
hợp đồng [38, Khoản 1 Điều 36 ]
Đây là những điều khoản bắt buộc mà Nhà nước đòi hỏi các bên khi xây
dựng thỏa thuận phải đưa vào hợp đồng học nghề. Những nội dung này có ý
nghĩa thực tế với các bên, thể hiện đầy đủ điều kiện, khả năng thực hiện công
việc cũng như lợi ích mà hai bên hướng tới. Song tính chất của mỗi quan hệ học
nghề khác nhau dựa vào loại nghề học; do đó, ngoài những điều khoản cơ bản
trên, trong một số trường hợp, pháp luật còn cho phép các bên có những thỏa
thuận khác không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Những điều khoản này hình
thành trên cơ sở điều kiện và khả năng mỗi bên, do các bên tự do thương lượng
xác lập. Vì vậy, sự có mặt hay không của những điều khoản bổ sung này không
ảnh hưởng đến tính hợp pháp của hợp đồng học nghề, ví dụ như việc xét thưởng
với những người đạt được học nghề loại giỏi sau thời gian học nghề hay việc ăn
ở của người học nghề… Nhưng nếu hai bên đã thỏa thuận và đưa những điều
khoản này vào hợp đồng thì có giá trị pháp lý ràng buộc trách nhiệm của các bên.
Trường hợp hợp đồng học nghề được giao kết giữa người học nghề và
doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để sử dụng thì ngoài những nội dung
chủ yếu như trường hợp học nghề thông thường, Khoản 2 Điều 36 Luật Dạy
nghề quy định hợp đồng học nghề phải có thêm những nội dung sau:
- Cam kết của người học nghề về thời hạn làm việc cho
doanh nghiệp;
- Cam kết của doanh nghiệp về việc giao kết hợp đồng lao
động sau khi học xong;
- Trả công cho người học nghề trực tiếp hoặc tham gia làm
ra sản phẩm cho doanh nghiệp trong thời gian học nghề [38].
Đây là những nội dung nhằm đảm bảo quyền lợi cho cả người học và
doanh nghiệp. Bởi vì, doanh nghiệp tuyển lao động vào học nghề để sau khi
học xong họ phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong thời gian học, người học nghề được doanh nghiệp tạo điều kiện cần
thiết để hoàn thành khóa học về thời gian học, chỗ ăn ở… thậm chí doanh

hợp đồng học nghề phải quy định rõ thời gian bắt đầu người học được trả
công và mức tiền công trả cho người học theo từng thời gian. Việc trả công
này để bù đắp và tái tạo phần sức lao động của người học, đồng thời mang ý
nghĩa động viên và tạo cho quan hệ dạy và học nghề trở nên gần gũi giữa
doanh nghiệp với người học; song hoạt động tạo ra thu nhập cho doanh
nghiệp cũng đồng thời là quá trình tích lũy kiến thức nghề nghiệp của người
học nên mức lương trả cho người học nghề không nhất thiết phải ngang bằng
với mức trả cho người lao động làm việc chính thức trong đơn vị ở công việc
cùng loại. Mức tiền lương trả cho người học nghề do hai bên thỏa thuận tùy
thuộc vào mức độ làm lợi của người học cho doanh nghiệp "nhưng không
được thấp hơn 70% mức lương cấp bậc của công việc đó" [9].
1.3. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ
ĐỊNH HỌC NGHỀ TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
1.3.1. Giai đoạn 1945-1954
Sau Cách mạng Tháng 8, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời.
Trong giai đoạn đầu sau khi giành được độc lập, trên cơ sở kế thừa các luật lệ
hiện hành của chế độ cũ, các văn bản luật nói chung và văn bản pháp luật lao
động nói riêng được ban hành nhằm củng cố chính quyền và thực hiện công
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Những văn bản pháp luật lao động
đầu tiên từ khi giành được độc lập gồm: Nghị định ngày 01/10/1945 quy định
buộc các xưởng kỹ nghệ, nhà thương mại phải báo trước một tháng cho người
lao động khi sa thải họ, Sắc lệnh 55/SL ngày 20/11/1945 quy định về hưởng
lương của người lao động khi nghỉ ngày 01/5, Sắc lệnh 64/SL ngày 8/5/1946
ban hành hệ thống cơ quan lao động trên lãnh thổ Việt Nam. Đặc biệt, Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời vào ngày 9/11/1946
là một sự kiện trọng đại đánh dấu một mốc lớn trong lịch sử lập hiến của nước
ta, trong đó có Điều 3, Điều 13, Điều 14 quy định về chế độ lao động.
Năm 1947, Chính phủ ban hành tiếp Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947
quy định về các chế độ lao động của công nhân Việt Nam làm tại các xưởng
kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do trong toàn quốc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status