Pháp luật về đăng ký bất động sản ở Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28



MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

1

Chương 1.

TỔNG QUAN VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN

5
1.1.
“SỔ ĐỎ”, “SỔ HỒNG”: GIẤC MƠ VÀ HIỆN THỰC
5
1.1.1
.
Những vụ việc nổi bật
5
1.1.2
.
Bình luận thực trạng cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất
14
1.1.3
.
Tiểu kết
27
1.2.


THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ BẤT
ĐỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ NHỮNG NỖ LỰC
XÂY DỰNG LUẬT ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN
41
2.1.
BẢN CHẤT CỦA ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN
41
2.1.1
Đăng ký bất động sản: nghĩa vụ cung cấp dịch vụ
công của nhà nước
42
2.2.
PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN HIỆN
HÀNH
46
2.2.1
Quy định của Luật Đất đai [2003]
5
0
2.2.1
.1
Mô hình đăng ký
51
2.2.1
Cơ chế thực thi pháp luật
57 .2
2.2.1


Cơ quan đăng ký
73
KẾT LUẬN
77
PHỤ LỤC
79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
98 1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ vài năm trở lại đây, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy
chứng nhận sở hữu nhà ở đã trở thành vấn đề nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của
dƣ luận và pháp luật. Cấp giấy chứng nhận đăng ký bất động sản lẽ ra phải là việc
đƣợc làm từ rất lâu, song bấy lâu nay bị sao nhãng. Kể từ khi có Luật Đất đai
[2003] các cơ quan quản lý đất đai mới tuyên bố “hạ quyết tâm” phải giải quyết
xong vấn đề cấp “sổ đỏ” cho dân trong toàn quốc vào cuối năm 2005, rồi sau đó
chủ trƣơng này phải gia hạn đến cuối năm 2006. Chủ đề này trở thành tâm điểm
của dƣ luận khi Luật Nhà ở năm 2005 quy định về cấp “sổ hồng mới” và ý tƣởng
“giấy xanh” của Bộ Tƣ pháp ra đời. Nhƣng rốt cuộc, sau rất nhiều nỗ lực của các
cơ quan và quan viên nhà nƣớc, cho đến cuối năm 2007, theo báo cáo của ngài tân
Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng trƣớc Quốc hội trong kỳ họp cuối năm,
thì công việc dƣờng nhƣ còn đang rất dở dang, đầy khiếm khuyết với những con
số đã làm đƣợc thật khiêm tốn, không khỏi phiền lòng ngƣời dân. Theo báo cáo
của ông Bộ trƣởng Phạm Khôi Nguyên, “đến 30-9-2007 mới có 37 địa phƣơng đạt
đƣợc 70% kế hoạch, 27 tỉnh thành còn lại vẫn còn hơn nửa phần việc chƣa xong”,
“một số địa phƣơng, giấy đã hoàn thành nhƣng ngƣời dân chƣa đến nhận. Có nơi

học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 9 năm 2006
; (2)
“Đi tìm triết lý
của sổ đỏ”, kỷ yếu Hội thảo khoa học “Địa chính với thị trƣờng bất động sản: Lý
luận và thực tiễn ở Việt Nam”, Viện nghiên cứu Địa chính, Bộ Tài nguyên và Môi
trƣờng, tháng 1 năm 2006.

Nhìn nhận một cách tổng quan, các công trình vừa kể trên từ nhiều
góc độ khác nhau đã phân tích, đánh giá một cách sâu sắc các quy định
của pháp luật Việt Nam hiện hành về đăng ký. Tuy nhiên, với một chủ đề
thú vị và muôn phần phức tạp cả về lý thuyết lẫn thực tiễn thì bên cạnh
những thành công mà giới khoa học pháp lý nƣớc ta đã đạt đƣợc, chủ đề
này vẫn cần tiếp tục đƣợc nghiên cứu và bổ khuyết, nhằm tìm kiếm những
kiến giải khoa học cho việc xây dựng và ban hành pháp luật, sao cho pháp
luật ngày càng gần với cuộc sống hơn. Vì lẽ đó, trong một chừng mực nhất

3
định, chúng tôi hy vọng rằng việc nghiên cứu đề tài
“Pháp luật
về đăng
ký bất động sản ở Việt Nam

trong khuôn khổ Luận văn tốt nghiệp Thạc
sĩ luật học là sự góp sức có ý nghĩa.
3. Mục đích nghiên cứu

Luận văn đƣợc thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đang quan tâm
đổi mới công tác xây dựng pháp luật. Theo xu hƣớng đổi mới đó thì,

xây

luận duy vật biện chứng, phƣơng pháp luận duy vật lịch sử, cơ sở lý luận
về nhà nƣớc và pháp luật trong điều kiện mới với nhiều sự thay đổi nhƣ
hiện nay. Thêm vào đó, chúng tôi sẽ sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu
khoa học đáng tin cậy thƣờng gặp nhƣ: phƣơng pháp tổng hợp; phƣơng
pháp phân tích, đánh giá; phƣơng pháp hệ thống; phƣơng pháp so sánh,
đối chiếu; phƣơng pháp lịch sử….
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu
thành 2 chƣơng.

Chƣơng I: Tổng quan về đăng ký bất động sản;

Chƣơng II: Thực tiễn pháp luật Việt Nam và những nỗ lực
xây dựng Luật Đăng ký bất động sản.
************
Dẫu đã rất nỗ lực, song với sự hiểu biết sơ sài của mình, luận văn
này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Những khiếm khuyết và hạn
chế ấy là của riêng tôi.
Với tinh thần thực sự cầu thị, tác giả chân thành
mong đợi những chỉ dẫn, gợi ý, trao đổi, và phê bình của các nhà khoa học
để mở rộng thêm đƣờng học hỏi; hân hạnh ấy là niềm khích lệ quý báu và
vô cùng có ý nghĩa đối với tác giả không chỉ để hoàn thiện bản Luận văn
này

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2008
Tác giả 5



6
"giấy khai nhận di sản thừa kế" có chữ ký của UBND phƣờng
xác nhận là "không có tranh chấp". Còn công đoạn tiếp theo,
cán bộ của sở sẽ nghiên cứu, giải quyết.
Ngỡ rằng mọi việc nhƣ thế là quá rõ ràng, đơn giản, ngày 1.2
(trƣớc Tết Nguyên đán Ất Dậu), ông Hiệp lập xong bộ hồ sơ
và lên phƣờng xin chữ ký. Bà chủ tịch phƣờng yêu cầu ông
gặp ông Trần Quốc Long - cán bộ địa chính. Ông Long hẹn
ông Hiệp 2 ngày để giải quyết, nhƣng sau đó lại khất lần ông
Hiệp với nhiều lý do cá nhân khác nhau.
Khi Tết Nguyên đán tới, ông Long lại hẹn sau Tết sẽ giải
quyết. Nhận thấy có điều không ổn, ông Hiệp đã tỉ mỉ ghi lại
các lần đƣợc phƣờng hẹn vào một quyển lịch. Trong thời gian
chờ đợi giải quyết, ông Long lại tiếp tục yêu cầu ông Hiệp
nộp bổ sung một số tài liệu nhƣ bản thi hành án đã giải quyết
tranh chấp (vì trƣớc đó nhà ông Hiệp đã có tranh chấp và
đƣợc toà án xử thắng kiện), tờ công chứng bản di chúc, yêu
cầu ông Hiệp phải lấy xác nhận của các gia đình liền kề là
không có tranh chấp (?)
Hết kiên nhẫn
Ngày 14/3, ông lên phƣờng thì mãi tới lúc này phƣờng mới
chịu xác nhận cho ông vào "bản khai quyền thừa kế QSHNƠ,
công trình và QSDĐƠ trong khuôn viên" là diện tích ông
đang ở không có tranh chấp, không có đơn thƣ khiếu kiện.
Nhƣng lạ một điều là phƣờng vẫn không chịu ký vào "đơn xin
cấp giấy chứng nhận QSHNƠ và QSDĐƠ" cho ông Hiệp,
mặc dù nội dung cũng không khác gì so với "bản khai quyền
thừa kế " (?), cũng đều là xác nhận diện tích ông Hiệp đang


tranh chấp về diện tích nhà mà ông xin cấp sổ đỏ. Tuy vậy,
hình nhƣ ông Long quên mất rằng trƣớc đó, ngày 6.3, ông
Hiệp đã nộp tờ "đơn xin xác nhận" có chữ ký của các hộ gia
đình liền kề với nhà ông Hiệp khẳng định là không có thắc
mắc, khiếu kiện gì với ông Hiệp và bản thân bà chủ tịch
phƣờng cũng đã ký xác nhận vào đơn này
Vậy là, chỉ với những lý do "khá vu vơ" mà cán bộ địa chính
phƣờng Lê Đại Hành đã không chịu ký vào bộ hồ sơ hoàn
toàn hợp lệ của ông Hiệp. Phải chăng ở đây ngƣời ta vẫn coi
thủ tục hành chính để "hành dân là chính".
Kiều Minh

[2] Sổ đỏ chƣa đủ lại thêm sổ hồng
[VietnamNet,
Thứ bảy, 17/6/2006
]
Ngày 1/7/2006, Luật Nhà ở có hiệu lực, trong đó nội dung
đƣợc chú ý nhất là thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu
nhà. Theo quy định, hồ sơ xin cấp và mẫu giấy chứng nhận
đều do Bộ Xây dựng ban hành.
Dự thảo Nghị định hƣớng dẫn thi hành Luật Nhà ở nêu rõ 2
trƣờng hợp Nhà nƣớc sẽ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu
nhà. Thứ nhất, chủ sở hữu nhà ở đồng thời là chủ sử dụng đất
ở và chủ sở hữu căn hộ trong nhà chung cƣ; thứ hai chủ sở
hữu nhà ở không đồng thời là chủ sử dụng đất ở. Trên giấy sẽ
thể hiện các thông tin nhƣ hiện trạng nhà ở (diện tích, tầng
cao, kết cấu chính), diện tích thửa đất, tên của chủ sở hữu
Bộ Xây dựng có trách nhiệm in ấn phát hành Giấy chứng

9

nhận mới.
Xin cấp sổ hồng phải có sổ đỏ?
Dự thảo Luật quy định, đối với nhà ở đã đƣợc tạo lập từ trƣớc
ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành, cá nhân xin cấp giấy
chứng nhận quyền sở hữu nhà phải có giấy tờ về tạo lập hợp
pháp nhà ở. Đó có thể là giấy phép xây dựng nhà ở, giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy
tờ về quyền sử dụng đất quy định theo Luật Đất đai hoặc có
tên trong sổ địa chính đối với nhà ở đã đƣợc xây dựng trƣớc
ngày 1/7/2004. Nhƣ vậy nhiều trƣờng hợp có sổ đỏ rồi, ngƣời
dân mới đƣợc xin giấy chứng nhận sở hữu nhà.
Một điểm khắt khe khác đƣợc đƣa ra trong dự thảo là thời
gian thực hiện nghĩa vụ tài chính. Sau 60 ngày kể từ ngày
nhận đƣợc thông báo về các nghĩa vụ tài chính, chủ sở hữu
phải nộp để nhận giấy. Quá thời hạn thì hồ sơ đã nộp mặc
nhiên hết giá trị. Nếu có nhu cầu đề nghị cấp giấy thì họ phải
làm lại hồ sơ. Ngay các cán bộ địa chính cũng cho rằng trong
trƣờng hợp thuế trƣớc bạ và tiền sử dụng đất khá cao nhƣ
hiện nay, ngƣời dân sẽ khó có khả năng nộp trong 60 ngày.
Kinh phí cấp giấy chứng nhận lần đầu là 100 nghìn/giấy, lần
sau là 50 nghìn đồng, tuy không lớn nhƣng nếu phải làm
nhiều lần thì số tiền lại không nhỏ.
Phong Lan 11
[3] Bội tín “sổ đỏ” tại khu tái định cƣ Đằng Lâm I – Hải
Phòng: Doanh nghiệp chờ đến bao giờ?
[DDDN.com.vn, ngày 18/02/2008]
Hơn 200 hộ dân khu tái định cư (TĐC) phường Đằng Lâm

Thƣơng mại bàn giao đất TĐC cho các hộ dân. Trƣớc đó.
Công ty cổ phần Thƣơng mại đã xin ý kiến thành phố về
các khoản có thể và không thể đáp ứng cho yêu cầu của
ngƣời dân. Tại biên bản tạm bàn giao đất, đại diện Công ty
đã “mạnh dạn” ký cam kết: “Làm giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất ở cho hộ dân sau thời gian 6 tháng kể từ ngày
chủ hộ trả đủ tiền và đƣợc UBND thành phố quyết định
giao đất TĐC”. Cũng tại biên bản này, các phƣơng án thu
tiền sử dụng đất, diện tích TĐC từng hộ, các khoản hỗ trợ,
các thắc mắc của các hộ dân đều đƣợc thể hiện, thỏa
thuận cách giải quyết một cách cụ thể, chặt chẽ Vì vậy,
hơn 200 hộ dân đã đồng ý nhận đất TĐC, tự nguyện
GPMB để bàn giao cho Công ty cổ phần Thƣơng mại thực
hiện dự án. Nhƣng thời hạn Công ty cổ phần Thƣơng mại
“hứa” làm thủ tục “sổ đỏ” cho bà con đã kéo dài tới hơn 2
năm mà vẫn không xong, và cũng chƣa biết tới ngày nào
mới có kết quả. Cực chẳng đã, bà con đành đâm đơn kiện
Công ty cổ phần Thƣơng mại vì đã không thực hiện cam
kết.
Vì cũng bị chờ!

Dù Công ty cổ phần Thƣơng mại đã tạm giao đất TĐC cho
dân từ 30/11/2005, nhƣng tới ngày 20/10/2006, UBND
quận Lê Chân – địa phƣơng thực hiện nhiệm vụ thu hồi đất

13
xây dựng Khu đô thị mới nối đƣờng Lạch Tray với đƣờng
Hồ Sen Cầu Rào II cho thành phố - mới có Quyết định
3018/QĐ-UBND phê duyệt phƣơng án TĐC của dự án?
Chậm gần 1 năm so với thời điểm DN thực hiện tạm giao

khẳng định vẫn chƣa hề nhận bàn giao hồ sơ từ Chi cục
Thuế quận Hải An. Cũng có nghĩa là những hộ dân tại khu
TĐC Đằng Lâm sẽ vẫn tiếp tục chờ!.
Xuân Hạ

1.1.2 Bình luận thực trạng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Đƣợc Luật Đất đai [2003] đề cập trƣớc tiên trong nhóm các quyền của
những ngƣời sử dụng đất, chắc “đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất” phải là một quyền quan trọng. Quan trọng đến nỗi nhà làm luật không
thể xếp quyền này ở hàng thứ hai trong một tập hợp không quá nhiều các
quyền. Ngƣời Việt Nam có câu: “đầu có xuôi thì đuôi mới lọt” để chỉ tầm
quan trọng của hết thảy những gì đƣợc xếp ở hàng đầu tiên, ở vị trí thứ
nhất. Không rõ đây là trƣờng hợp ngẫu nhiên hay là một dụng ý của ngƣời
soạn luật, song nếu là sự sắp xếp có chủ đích- điều gì quan trọng thì liệt kê
trƣớc, thì trong một chừng mực nhất định đây quả là may mắn cho ngƣời
dân nƣớc ta. Ngƣời soạn luật đã thấu hiểu nỗi niềm băn khoăn, tâm trạng
cánh cánh lo âu hằng ngày hằng giờ của những ngƣời dân vì đất của họ
chƣa đƣợc cấp “số đỏ”. Phải chăng, nhà làm luật muốn “nhắc nhở” các cơ
quan thực thi pháp luật rằng đó là quyền đầu tiên mà ngƣời sử dụng đất
phải đƣợc hƣởng cần phải đƣợc ƣu tiên làm trƣớc, làm ngay và làm dứt
điểm? Đây là quyền của ngƣời dân thì nhà nƣớc với tƣ cách là cơ quan
cung cấp dịch vụ công phải có nghĩa vụ cung cấp khi ngƣời dân có yêu

15
cầu, nhằm hiện thực hóa quyền của họ. Công việc này thiết tƣởng cũng
không quá khó khăn, song bấy lâu nay không đƣợc đánh giá đúng tầm
quan trọng, một phần do nhận thức của ngƣời dân, một phần do quy trình
cung cấp dịch vụ công này của cơ quan công quyền còn nhiều yếu kém, và
đôi khi quá nhiêu khê, tốn kém. Mấy vụ việc đã đƣợc báo chí đăng tải
đƣợc nêu lại trong luận văn này là những bằng chứng cho nhận định vừa

lập hồ sơ trƣớc bạ, cấp Giấy chứng nhận cho ngƣời dân, đã có cả quy định
về thời hạn tối thiểu cho một vụ việc… Song, bức tranh thực tiễn muôn
màu qua các tình huống “lƣỡng nan” vừa dẫn cho thấy, thật ít thấy công
chức có thẩm quyền, hay các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đứng ra
chịu trách nhiệm trƣớc dân về sự yếu kém, vi phạm của mình. Và một điều
lạ nữa, ngƣời dân với tƣ cách là chủ nhân của đất nƣớc này, lại không đủ
can đảm và sự khẳng khái để khởi kiện khi công chức lạm quyền, từ chối
sai đối với các yêu cầu chính đáng theo luật định của họ. Hình nhƣ tâm lý
“nhịn cho qua chuyện”, chấp nhận “chi phí”, hoặc cậy nhờ các mối quan
hệ thay vì các yêu cầu đàng hoàng, chính trực mà báo chí thời gian gần
đây thoảng khi có nhắc tới đã trở thành tâm lý cố hữu trong đại bộ phận
ngƣời dân nƣớc ta. Nếu thực tiễn đó cứ tiếp tục diễn ra, thì chủ trƣơng và
nỗ lực cải cách nền hành chính hiện nay càng thêm khó khăn và xa vời,
nếu không muốn nói chỉ là những giấc mơ với một khoản lớn tiền của dân
đƣợc tiêu tốn. Ngƣời ta bảo, trong những sự thay đổi, thì thay đổi tƣ duy là
điều gian nan nhất.
Vì chƣa quen với một nền hành chính phục vụ, mọi khó khăn hiện nay
trong quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở đều đƣợc đẩy về phía ngƣời dân có nhu cầu. Theo một
nghiên cứu độc lập của bà Elaine Ma Eachern, chuyên gia về đăng ký bất
động sản, trong khuôn khổ Dự án ADB-TA 4418, “hỗ trợ doanh nghiệp
nhỏ và vừa” của Ngân hàng Phát triển Châu Á thì do các văn phòng đăng

17
ký quyền sử dụng đất ở Việt Nam mới đƣợc thành lập. Trƣớc khi trình
đƣợc một bộ hồ sơ hoàn chỉnh xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, một chủ doanh nghiệp phải
thu thập hồ sơ và thông tin ở bốn cơ quan địa phƣơng khác. Sau đó các
nhân viên của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất phải tiến hành 20
bƣớc khác nhau đối với một hồ sơ nhƣ vậy. Do đó, hời gian tối thiểu để

Sẵn sàng bỏ một khoản “chi phí” đôi khi không nhỏ để “quan đất xã”
làm sổ đỏ giải quyết nhanh hơn thay vì phải “xếp hàng” và mòn mỏi chờ
đợi, hẳn ngƣời dân nƣớc ta không sợ nhiều “giấy” sẽ “tiêu tốn” tiền bạc
của họ, mà dƣờng nhƣ cái họ sợ là thủ tục phiền hà nhiêu khê, phải đi qua
nhiều “cửa ải” với thời gian kéo dài và đôi khi sự “kéo dài” đó dƣờng nhƣ
không có điểm dừng.
Thanh Hóa: Cán bộ địa chính ăn chặn tiền của dân
[Nguồn:
Dƣ luận xã Đông Anh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đang xôn
xao việc bà Trần Lệ Hằng, cán bộ địa chính xã ăn chặn tiền làm sổ
đỏ của dân. Bị chất vấn tại hội nghị tiếp xúc cử tri và HĐND xã, bà
Hằng đã thừa nhận việc nhận tiền “thừa” của dân. Hơn 1 năm qua
các hộ nhiều lần khiếu nại lên các cấp thẩm quyền xã Đông Anh đòi
bà Hằng trả tiền bị chiếm đoạt vẫn chƣa đƣợc giải quyết. Điển hình
nhƣ trƣờng hợp của bà Lê Thị Sáng ở thôn 1: “Đầu năm 2004, sau
khi đo lại đất vƣờn có dƣ ra 50m2, để hợp thức hóa khu đất này bà
Hằng yêu cầu bà Sáng phải đƣa 1,2 triệu đồng và bồi dƣỡng thêm
200.000 đồng để chạy thủ tục làm giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, trong khi tiền lệ phí làm sổ đỏ chỉ hết một nửa theo quy định”.
Dƣ luận cho rằng, sau nhiều năm đảm nhận chức vụ “quan đất xã”,
bà Hằng đã ăn chặn tiền làm sổ đỏ của rất nhiều ngƣời. Nhƣng

19
không hiểu sao UBND huyện Đông Sơn vẫn tạo điều kiện để bà cán
bộ địa chính xã làm sổ đỏ theo quy chế “một cửa”, thu tiền vô tội vạ
của dân nộp tiền thuế đất ?
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đƣợc quy định và
thực hiện từ nhiều năm trở lại đây bởi các đạo luật đất đai kế tiếp nhau.
Song, phải từ khi có Luật Đất đai [2003] các cơ quan quản lý đất đai mới
có tuyên bố “hạ quyết tâm” phải giải quyết xong vấn đề cấp “sổ đỏ” cho

đƣợc ban hành. Chẳng hạn, luật đăng ký bất động sản sẽ ảnh hƣởng nhƣ
thế nào đến các nhóm lợi ích khác nhau nhƣ doanh nghiệp, ngƣời nông
dân, thị dân, nhà kinh doanh bất động sản chuyên nghiệp… Nhóm lợi ích
nào đƣợc lợi nhiều hơn, nhóm nào bị thiệt hại nhiều hơn vì lợi ích nếu vì
nhóm ngƣời này sẽ ảnh hƣởng đến nhóm ngƣời khác. Ngƣời ta bảo làm
luật là sự mặc cả về lợi ích giữa các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội.
Một quy định pháp luật đƣợc coi là tốt khi nó góp phần giảm chi phí giao
dịch. Đó là chủ đích của trƣờng phái nghiên cứu Luật và Kinh tế học nổi
tiếng thế giới, đang thống trị trong nghiên cứu pháp luật hiện nay.
Vì lẽ đó, từ các nhà lập pháp cho đến các nhà xuất bản đều nỗ lực tìm
đủ mọi phƣơng cách để giảm thiểu các chi phí này. Tôi đã nhìn thấy hai bộ
luật, một của ngƣời Đức một của ngƣời Nhật đƣợc in màu rất đẹp, dày cỡ
15 cm. Điều đáng ngạc nhiên là cả hai tƣ liệu đó không đƣợc đóng cố định
nhƣ những cuốn sách, hay đạo luật thƣờng thấy ở ta. Thay vào đó, họ dùng
các gim cài bằng kim loại, ngƣời dùng khi cần có thể tháo ra và lắp vào
một cách thật dễ dàng. Thầy tôi, chủ nhân của hai cuốn luật do ông mang
từ nƣớc ngoài về đó giải tích cho tôi nghe rằng, khi mua các cuốn luật đó
ngƣời mua để lại địa chỉ của mình cho ngƣời bán. Khi một điều luật của
đạo luật đó đƣợc sửa, hay thêm vào các điều khoản mới, nhà xuất bản đã
in cuốn luật đó thông qua ngƣời bán gửi đến ngƣời mua những tờ rời có in
các điều khoản mới hoặc sửa đổi. Công việc của ngƣời sử dụng là tháo
gim kim loại của cuốn sách, lấy ra những trang có in những điều đã sửa và
thay vào đó các trang in vừa nhận đƣợc từ nhà xuất bản. Họ không in lại
cả cuốn nhƣ ở nƣớc ta. Một công việc không mấy khó khăn nhƣng đã tiết

21
kiệm đƣợc rất nhiều chi phí. Tôi ngƣớc mắt lên tủ sách của mình, nhìn hai
cuốn Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 1995 và năm 2005 đặt cạnh nhau,
chúng đƣợc in có độ dày tƣơng đƣơng nhau, một cuốn không còn dùng
đƣợc nữa mà thấy chạnh lòng, ta còn rất nghèo mà không có nhu cầu học

báo cáo trƣớc Quốc hội rằng Luật đất đai có hiệu lực từ năm
2003, chủ trƣơng cấp "sổ đỏ” cũng khởi động từ đó. Theo kế
hoạch, đến hết năm 2005, 64 tỉnh thành sẽ phải hoàn thành.
Mốc hạn này đã đƣợc dời tới năm 2006. Tuy nhiên đến 30-9-
2007 mới có 37 địa phƣơng đạt đƣợc 70% kế hoạch, 27 tỉnh
thành còn lại vẫn còn hơn nửa phần việc chƣa xong.
Bộ trƣởng Phạm Khôi Nguyên nêu thêm: tại một số địa
phƣơng, giấy đã hoàn thành nhƣng ngƣời dân chƣa đến nhận.
Có nơi nhƣ Hà Nội chỉ có 23,8% các tổ chức đƣợc cấp "sổ
đỏ”, Bắc Giang là 37,08%.
“Lạm phát” giấy chứng nhận bất động sản
Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên - môi trƣờng Phạm Khôi Nguyên
cho biết tình trạng cán bộ, công chức gây phiền hà, nhũng
nhiễu ngƣời dân khi thực hiện nhiệm vụ này vẫn chƣa đƣợc
ngăn chặn. Sai sót trong thi hành cấp “sổ đỏ” vẫn còn phổ
biến. Ông Nguyên báo cáo trở ngại đầu tiên là công tác quản
lý của các cơ quan nhà nƣớc chƣa hiệu quả: tổng số các văn
bản quản lý, hƣớng dẫn thực hiện công tác cấp “sổ đỏ” từ
Chính phủ đến các bộ ngành hiện đã là con số 40. Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất ở nhiều tỉnh, huyện vẫn chƣa

23
đƣợc thành lập. Việc lập bản đồ địa chính, hoàn thiện hồ sơ
địa chính còn dở dang, số liệu không chính xác, hồ sơ hỏng,
thiếu, thất lạc dẫn đến số liệu thực tế và sổ sách không
thống nhất
Đại biểu Nguyễn Danh (Gia Lai) nêu thực trạng “lạm phát”
giấy chứng nhận bất động sản ở VN với bốn loại giấy dân
phải xin: Thứ nhất, “sổ đỏ” cấp theo Luật đất đai năm 1993.
Thứ hai là “sổ đỏ” cấp theo Luật đất đai năm 2003. Thứ ba,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status