Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Luận văn ThS Luật - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THÀNH NAM PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


10
1.1.3. Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của NHTM
13
1.2. Sơ lược về các biện pháp bảo đảm tiền vay
14
1.2.1. Khái niệm về bảo đảm tiền vay
14
1.2.2. Phân loại bảo đảm tiền vay
16
1.3. Thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
19
1.3.1. Khái niệm thế chấp tài sản
19
1.3.2. Đặc điểm thế chấp tài sản
21
1.3.3. Phân loại thế chấp tài sản
22
CHƢƠNG II. PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN TRONG HOẠT
ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM

25
2.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp
luật về thế chấp tài sản ở nước ta

25
2.2. Pháp luật hiện hành về thế chấp tài sản trong hoạt động
cho vay của NHTM

31


65
KẾT LUẬN
84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
Luận văn thạc sỹ 1 Nguyễn Thành Nam

LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng đem lại lợi nhuận chủ yếu cho
ngân hàng thƣơng mại, song hoạt động này cũng đem lại nhiều rủi ro cho
ngân hàng. Rủi ro này có rất nhiều nguyên nhân, chẳng hạn nhƣ khách hàng
thua lỗ trong kinh doanh nhƣng cũng có trƣờng hợp khách hàng cố tình chây
ỳ trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Những khoản cho vay lớn nếu bị tổn thất có thể
đẩy ngân hàng đến chỗ phá sản, không những thế nó còn đe doạ đến tính an
toàn và ổn định của toàn hệ thống. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả và đảm bảo
an toàn cho hoạt động ngân hàng thì điều kiện quan trọng nhất khi ngân hàng
xét duyệt cho vay đó là khách hàng phải có khả năng hoàn trả nợ vay. Đối với
những khách hàng có uy tín trong việc vay trả nợ ngân hàng, có khả năng tài
chính mạnh và có triển vọng kinh doanh trong tƣơng lai thì ngân hàng có thể
cho vay không cần bảo đảm. Ngƣợc lại, đối với khách hàng không đạt đƣợc
các điều kiện trên thì để hạn chế rủi ro ngân hàng chỉ cho vay khi có tài sản
bảo đảm. Việc cho vay có tài sản bảo đảm có một số tác dụng sau đây:
+ Để có nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn trả nợ thứ nhất không đúng

tài sản bảo đảm cho khoản vay sẽ hạn chế rất nhiều những vụ lừa đảo làm giả
hồ sơ vay vốn nhằm chiếm đoạt vốn của ngân hàng một cách bất hợp pháp.
+ Giúp ngân hàng nắm đƣợc số liệu tài sản của bên vay. Việc cho vay
có bảo đảm bằng tài sản sẽ bảo đảm cho NHTM quản lý, theo dõi đƣợc hoạt
động của khách hàng vay một cách chặt chẽ hơn, từ đó bảo dảm an toàn cho
NHTM trong việc thu hồi nợ vay.
Nhƣ vậy, bảo đảm tiền vay có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động cho vay
của ngân hàng thƣơng mại, bởi lẽ đây chính là các biện pháp nhằm hạn chế
rủi ro khi ngân hàng cho khách hàng vay vốn. Ngoài ra, việc áp dụng các biện
pháp bảo đảm còn có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế do hoạt động
Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
Luận văn thạc sỹ 3 Nguyễn Thành Nam

ngân hàng có ảnh hƣởng sâu sắc, lâu dài và mang tính chất dây truyền đối với
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, nếu quá chú trọng yếu tố này chƣa hẳn đã tốt, trong thời
gian qua một số cán bộ ngân hàng đã quá chú trọng vai trò của tài sản bảo
đảm, coi bảo đảm là cơ sở để quyết định cho vay không quan tâm đến các
điều kiện khác, điều này chính là nguyên nhân làm giảm chất lƣợng tín
dụng[55, tr.172].
Chính vì vậy việc nghiên cứu một cách khoa học về bảo đảm tiền vay,
làm rõ các vấn đề lý thuyết của bảo đảm tiền vay để có một cách hiểu đúng
đắn về vai trò của nó trong hoạt động cho vay của NHTM là thực sự cần thiết.
Tuy nhiên do sự giới hạn về thời gian nghiên cứu, luận văn chỉ nghiên cứu
một biện pháp trong bảo đảm tiền vay, đó là biện pháp thế chấp tài sản.
Trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi của nƣớc ta hiện nay, các quy
định về thế chấp tài sản đƣợc quy định trong các văn bản pháp luật thuộc

dụng (khoá luận tốt nghiệp - Vũ Diệu Huyền), Pháp luật về xử lý tài sản bảo
đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng (Luận văn thạc sỹ luật học - Trần Thị
Minh Tâm), Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế (Luận văn
thạc sỹ luật học - Lê Quốc Hiền); Thế chấp quyền sử dụng đất bảo đảm hợp
đồng tín dụng ngân hàng ở nƣớc ta hiện nay (Luận văn thạc sỹ - Bùi Thị
Thanh Hằng), bài “Về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng”
của PTS. Lê Hồng Hạnh - Tạp chí Luật học số 1/1996; bài “Xử lí tài sản thế
chấp là giá trị quyền sử dụng đất để bảo đảm tiền vay trong ngân hàng và các
tổ chức tín dụng” của ThS. Doãn Hồng Nhung - Tạp chí Luật học số 03/2002,
bài “Về thế chấp tài sản trong bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân
hàng” của Nguyễn Văn Hoạt - Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật số 10/1998; bài
“Xử lý những vƣớng mắc nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức
Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
Luận văn thạc sỹ 5 Nguyễn Thành Nam

tín dụng Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” của ThS. Nguyễn Trọng
Nghĩa - Tạp chí Thị trƣờng Tài chính tiền tệ 15/11/2004
Tuy nhiên, các đề tài, bài báo nêu trên vẫn chƣa nghiên cứu một cách
đồng bộ và toàn diện về biện pháp thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay
của ngân hàng thƣơng mại. Hơn nữa, những đề tài, bài báo này có thời gian
nghiên cứu cách đây đã nhiều năm nên chƣa cập nhật đƣợc các nội dung mới
trong các quy định của pháp luật, không đáp ứng đƣợc đòi hỏi của thực tiễn.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục tiêu của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, bản chất và các quy
định pháp luật hiện hành của biện pháp thế chấp tài sản trong hoạt động cho
vay của ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ

Phƣơng pháp luận khoa học mà tác giả sử dụng là phƣơng pháp biện
chứng Mác- Lênin.
Ngoài ra, các phƣơng pháp cụ thể đƣợc sử dụng trong quá trình nghiên
cứu và thực hiện luận văn bao gồm: phƣơng pháp thống kê, phân tích, đánh
giá, đối chiếu, so sánh, tổng hợp.

6. Bố cục của luận văn.
Ngoài Lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,
Luận văn gồm 3 chƣơng, đƣợc bố cục nhƣ sau:
Chƣơng I. Khái quát chung về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay
của ngân hàng thƣơng mại;
Chƣơng II. Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thƣơng mại;
Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
Luận văn thạc sỹ 7 Nguyễn Thành Nam

Chƣơng III. Hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động
cho vay của ngân hàng thƣơng mại.

Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
Luận văn thạc sỹ 8 Nguyễn Thành Nam

CHƢƠNG I.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN

tr.127-128].
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, ngân hàng thƣơng mại là loại
hình ngân hàng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động
kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các
mục tiêu kinh tế của Nhà nƣớc[8].
Từ định nghĩa trên, ta rút ra các đặc điểm cơ bản của NHTM:
Thứ nhất, NHTM thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng. Đó là hoạt
động huy động vốn, hoạt động tín dụng, hoạt động thanh toán, ngân quỹ và
các hoạt động khác. NHTM huy động vốn thông qua việc nhận tiền gửi của
các tổ chức, cá nhân dƣới các hình thức: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ
hạn, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu NHTM hoạt
động tín dụng thông qua việc NHTM sử dụng vốn tự có, vốn huy động để cấp
tín dụng dƣới các hình thức: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu thƣơng phiếu và
các giấy tờ có giá khác NHTM đƣợc thực hiện các hoạt động thanh toán và
ngân quỹ nhƣ: cung ứng các phƣơng tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ
thanh toán trong nƣớc, thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi đƣợc
Ngân hàng Nhà nƣớc cho phép, thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ, dịch vụ
thu và phát tiền mặt cho khách hàng Ngoài ra, NHTM còn thực hiện một số
hoạt động khác nhƣ: góp vốn, mua cổ phần, kinh doanh ngoại hối và vàng,
cung ứng các dịch vụ bảo hiểm, tƣ vấn tài chính, tiền tệ, bảo quản giấy tờ có
giá và hiện vật quý [8]. Đặc điểm này cho thấy, NHTM ở Việt Nam là ngân
hàng kinh doanh tổng hợp[52, tr.130].
Thứ hai, NHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Mặc dù hoạt động
của NHTM góp phần thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách
tiền tệ của Nhà nƣớc, nhƣng mục tiêu hàng đầu trong hoạt động của NHTM là
Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
Luận văn thạc sỹ 10 Nguyễn Thành Nam

Luận văn thạc sỹ 11 Nguyễn Thành Nam

Thông qua việc thực hiện nghiệp vụ thanh toán và tín dụng nói trên,
NHTM còn là tác nhân tạo phƣơng tiện thanh toán . Khi khách hàng có số dƣ
trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có đƣợc hàng hoá và
dịch vụ theo yêu cầu. Khi ngân hàng cho vay, số dƣ trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và
dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra
phƣơng tiện thanh toán[51, tr.14]. Phƣơng tiện thanh toán đƣợc tạo ra gấp bội
khi ngân hàng cho vay thông qua cơ chế thanh toán chuyển khoản giữa các
ngân hàng.
Chính vì các lý do trên, NHTM đóng một vai trò đặc biệt quan trọng
trong nền kinh tế của nƣớc ta hiện nay.
1.1.2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay
Theo quy định của pháp luật hiện hành, cho vay là một hình thức cấp
tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử
dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có
hoàn trả cả gốc và lãi[14].
Nhƣ vậy, cho vay là một trong các hình thức cấp tín dụng mà tổ chức
tín dụng cung cấp cho khách hàng. Đối với hoạt động chiết khấu, khách hàng
chuyển nhƣợng thƣơng phiếu chƣa đáo hạn cho tổ chức tín dụng để đổi lấy
một số tiền bằng mệnh giá của thƣơng phiếu trừ lãi chiết khấu và hoa hồng
phí (nếu có)[54, tr.152]. Đối với hoạt động cho thuê tài chính thì việc cấp tín
dụng đƣợc thực hiện qua việc mua tài sản để cho khách hàng thuê[52, tr.211].
Mặt khác, theo quy định hiện hành của pháp luật thì tổ chức tín dụng muốn
thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài chính phải thành lập công ty cho thuê tài
chính chứ không đƣợc trực tiếp thực hiện[2]. Đối với hoạt động bảo lãnh, tổ
Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM


Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
Luận văn thạc sỹ 13 Nguyễn Thành Nam

xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tƣ,
phƣơng án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật;
(5) Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp
luật[14].
Kể từ thời điểm nhận tiền vay, bên vay trở thành chủ sở hữu đối khoản
tiền vay đó[52, tr.203]. Tuy nhiên, bên vay không đƣợc sử dụng tiền vay một
cách tuỳ ý mà phải sử dụng tiền vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng. NHTM có quyền kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng
vốn vay của khách hàng. Trong trƣờng hợp khách hàng sử dụng vốn vay
không đúng mục đích, NHTM có quyền chấm dứt việc cho vay và thu hồi nợ
trƣớc hạn[14].
Khi đến hạn thanh toán, bên vay có trách nhiệm hoàn trả tiền vay cho
NHTM cả gốc và lãi theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng[14]. Điều này có
nghĩa là, bên vay chỉ đƣợc sử dụng tiền vay trong một thời hạn nhất định (thời
hạn vay), hết thời hạn vay, bên vay phải hoàn trả toàn bộ gốc và lãi cho
NHTM. Tuỳ theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng mà tiền gốc và lãi vay
đƣợc trả dần hoặc trả một lần khi đến hạn thanh toán.
Hoạt động cho vay của NHTM có vai trò rất quan trọng trong sự phát
triển kinh tế và đời sống xã hội, đây cũng là hoạt động đem lại thu nhập chủ
yếu cho các NHTM.
1.1.2.2. Phân loại cho vay
Tuỳ theo tiêu chí phân loại, cho vay có thể phân thành các loại sau:
- Theo mục đích vay: gồm có cho vay bất động sản, cho vay kinh
doanh, cho vay tiêu dùng

và chỉ quyết định cho vay khi đã phân tích đầy đủ các yếu tố liên quan đến
Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
Luận văn thạc sỹ 15 Nguyễn Thành Nam

thiện chí trả nợ, phƣơng án trả nợ, khả năng trả nợ của khách hàng vay sao
cho có độ an toàn cao nhất và nhìn chung NHTM chỉ quyết định cho vay khi
thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên, không một nhà kinh
doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra[51,
tr.129]. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều
nguyên nhân. Có thể tóm lƣợc một số nguyên nhân chính nhƣ sau:
- Nguyên nhân khách quan: những nguyên nhân khách quan có thể kể
đến nhƣ thiên tai, chiến tranh, thay đổi chính sách kinh tế theo hƣớng bất lợi
cho ngƣời đi vay , những thay đổi này vƣợt quá tầm kiểm soát của NHTM
cũng nhƣ khách hàng vay, ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ của khách hàng vay
dẫn đến tổn thất cho NHTM.
- Nguyên nhân từ phía khách hàng vay: nhƣ khách hàng có chủ ý lừa
đảo; khách hàng lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính (do điều hành, quản
lý kinh doanh yếu kém, do cạnh tranh ) hoặc tƣ tƣởng chây ỳ của khách hàng
sau khi đã nhận vốn vay làm phát sinh rủi ro tín dụng.
- Nguyên nhân từ phía NHTM: những nguyên nhân thuộc loại này có
thể kể đến nhƣ trình độ yếu kém của một số cán bộ tín dụng trong việc thẩm
định khoản vay, không kiểm tra và kịp thời xử lý các vi phạm trong quá trình
sử dụng vốn vay của khách hàng, các quyết định cho vay vội vã hoặc có động
cơ vụ lợi là nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng trong hoạt động của
NHTM[51, tr.129].
Để kiểm soát rủi ro mang lại từ hoạt động cho vay, hạn chế đến mức
thấp nhất các thiệt hại gây ra, NHTM phải thực hiện nhiều biện pháp nhƣ:

pháp khác nhằm bảo đảm NHTM thu hồi đƣợc toàn bộ gốc và lãi vay sau một
chu kỳ cho vay nhất định. Chẳng hạn nhƣ biện pháp bảo đảm tiền vay khi cho
vay không có bảo đảm bằng tài sản là việc NHTM lựa chọn khách hàng có uy
tín, có khả năng tài chính để cho vay. Mặc dù tiền vay không đƣợc bảo đảm
bằng tài sản nhƣng có thể nói khoản vay vẫn đƣợc bảo đảm cao vì khách hàng
Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
Luận văn thạc sỹ 17 Nguyễn Thành Nam

vay trong trƣờng hợp này là các chủ thể có kinh nghiệm, có khả năng tài
chính và có uy tín trong việc vay và trả nợ ngân hàng. Việc áp dụng biện pháp
này rất cần thiết và hiệu quả nên nó cần đƣợc áp dụng trƣớc tiên trong các
biện pháp bảo đảm tiền vay. Pháp luật hiện hành còn quy định các biện pháp
bảo đảm tiền vay khác trong trƣờng hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài
sản nhƣ: tổ chức tín dụng nhà nƣớc cho vay không có bảo đảm theo theo chỉ
định của Chính phủ, bảo đảm bằng tín chấp của tổ chức chính trị - xã hội cho
cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn[11].
Theo nghĩa hẹp, bảo đảm tiền vay là những biện pháp đảm bảo việc trả
nợ vốn vay (cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba). Theo
nghĩa này, bảo đảm tiền vay bao gồm các biện pháp bảo đảm thuộc phạm trù
chủ quan, thể hiện ở chỗ các chủ thể thoả thuận thiết lập, áp dụng dựa trên các
quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay để tạo sự yên tâm cho nhau trong
quan hệ nghĩa vụ, có tác dụng dự phòng đối với những hành vi không hợp
pháp, tạo cơ sở kinh tế khắc phục thiệt hại vật chất cho bên bị thiệt hại. Các
thoả thuận của các chủ thể phải phù hợp với quy định của pháp luật, khi các
chủ thể chỉ thoả thuận áp dụng biện pháp nào đó mà không thoả thuận nội
dung cụ thể thì mặc nhiên sẽ áp dụng quy định của pháp luật về biện pháp bảo
đảm đó; ngƣợc lại các biện pháp bảo đảm - các quy định của pháp luật chỉ

vụ thanh toán. Tài sản này phải thuộc quyền sở hữu và/hoặc quyền sử dụng
hợp pháp của ngƣời có nghĩa vụ hoặc ngƣời thứ ba. Ngƣời có quyền đƣợc
quyền yêu cầu xử lý tài sản đó theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp
luật để thanh toán nghĩa vụ trong trƣờng hợp nghĩa vụ không đƣợc thực hiện
hoặc thực hiện không đúng. Biện pháp bảo đảm đối vật có thể kể đến nhƣ:
cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cƣợc, ký quỹ
1.2.2.3. Bảo đảm tiền vay bằng tài sản và bảo đảm tiền vay không bằng
tài sản:
Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
Luận văn thạc sỹ 19 Nguyễn Thành Nam

Theo quy định của Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999
của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, bảo đảm tiền
vay trong hoạt động ngân hàng đƣợc phân loại nhƣ sau:
a) Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản bao gồm:
- Cầm cố, thế chấp tài sản của khách hàng vay,
- Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba,
- Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Cũng theo quy định tại Nghị định số 178 nói trên, cho vay có bảo đảm
bằng tài sản là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả
nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố,
thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo lãnh
bằng tài sản của bên thứ ba.
Theo khái niệm trên, bảo đảm tiền vay bằng tài sản đƣợc hiểu là biện
pháp sử dụng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tài sản bảo đảm
có thể là động sản hoặc bất động sản, là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành
trong tƣơng lai. Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng cầm cố, thế chấp tài sản của

hàng vay để thực hiện các dự án đầu tƣ thuộc chƣơng trình kinh tế đặc biệt,
chƣơng trình kinh tế trọng điểm của Nhà nƣớc, chƣơng trình kinh tế - xã hội
và đối với một số khách hàng thuộc đối tƣợng đƣợc hƣởng chính sách tín
dụng ƣu đãi về điều kiện vay vốn[11]. Trong trƣờng hợp khách hàng vay
không trả đƣợc nợ do các nguyên nhân khách quan (thiên tai, hoả hoạn, Nhà
nƣớc thay đổi chính sách ) thì Chính phủ xử lý tổn thất cho các tổ chức tín
dụng nhà nƣớc đã cho vay.

1.3. Thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM:
Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
Luận văn thạc sỹ 21 Nguyễn Thành Nam

1.3.1. Khái niệm thế chấp tài sản
Thế chấp tài sản là một trong các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài
sản đƣợc áp dụng phổ biến trong các quan hệ kinh tế, dân sự tại nhiều quốc
gia trên thế giới.
Bộ luật dân sự Cộng hoà Pháp dành một chƣơng quy dịnh về quyền thế
chấp (chƣơng III, Thiên XVIII). Điều 2114 Bộ luật này quy định: “Quyền thế
chấp là một quyền tài sản trên những bất động sản được sử dụng vào việc
bảo đảm thi hành một nghĩa vụ. Về bản chất, quyền thế chấp không thể phân
chia và tồn tại trên tất cả các bất động sản thế chấp, trên từng bất động sản
và mỗi phần của bất động sản ấy. Quyền thế chấp tiếp tục trên các bất động
sản dù bất động sản đã chuyển dịch sang tay người khác”[47]. Bộ luật này
cũng quy định: chỉ có thể đem thế chấp những bất động sản trong thƣơng mại
và những vật phụ của bất động sản đƣợc coi nhƣ bất động sản; quyền hƣởng
hoa lợi trên một tài sản và những vật phụ trong thời gian có quyền hƣởng hoa
lợi. Động sản không thể đem thế chấp. Những tài sản chƣa có thì không thể

thay đổi quan trọng. Theo quy định tại BLDS 1995 thì tiêu chí quan trọng để
phân biệt thế chấp với các biện pháp bảo đảm khác là tài sản thế chấp phải là
bất động sản. Nhƣng theo quy định tại BLDS 2005 thì tiêu chí để phân biệt
thế chấp với các biện pháp bảo đảm khác là việc có chuyển giao hay không
chuyển giao tài sản. Nếu có chuyển giao tài sản thì đó là cầm cố, nếu không
chuyển giao tài sản thì đó là thế chấp. Một điểm mới khác cũng rất quan trọng
đó là theo quy định tại BLDS 2005, thì bên thế chấp không bắt buộc phải là
bên có nghĩa vụ với bên nhận thế chấp. Hay nói cách khác, bên thế chấp có
thể dùng tài sản cụ thể thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ của
chính mình hoặc nghĩa vụ của ngƣời khác. Trong trƣờng hợp bên thế chấp
dùng tài sản cụ thể thuộc sở hữu của mình bảo đảm cho nghĩa vụ của ngƣời
khác mà không chuyển giao tài sản cho bên có quyền thì đƣợc hiểu là thế

Trích đoạn Về các chủ thể trong quan hệ thế chấp Về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thế chấp Về công chứng, chứng thực, xác nhận hợp đồng thế chấp; đăng ký thế chấp Hiệu lực của giao dịch thế chấp Văn bản phápluật hiện hành:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status