ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THÀNH NAM
PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2006
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng thƣơng
mại, song hoạt động này cũng đem lại nhiều rủi ro cho ngân hàng. Rủi ro này có rất nhiều
nguyên nhân, chẳng hạn nhƣ khách hàng thua lỗ trong kinh doanh nhƣng cũng có trƣờng hợp
khách hàng cố tình chây ỳ trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Những khoản cho vay lớn nếu bị tổn thất
có thể đẩy ngân hàng đến chỗ phá sản, không những thế nó còn đe doạ đến tính an toàn và ổn
định của toàn hệ thống. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân
hàng thì điều kiện quan trọng nhất khi ngân hàng xét duyệt cho vay đó là khách hàng phải có khả
năng hoàn trả nợ vay. Đối với những khách hàng có uy tín trong việc vay trả nợ ngân hàng, có
khả năng tài chính mạnh và có triển vọng kinh doanh trong tƣơng lai thì ngân hàng có thể cho
vay không cần bảo đảm. Ngƣợc lại, đối với khách hàng không đạt đƣợc các điều kiện trên thì để
hạn chế rủi ro ngân hàng chỉ cho vay khi có tài sản bảo đảm. Việc cho vay có tài sản bảo đảm có
một số tác dụng sau đây:
+ Để có nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn trả nợ thứ nhất không đúng nhƣ dự kiến. Nguồn
thu nợ thứ nhất là cơ sở để ngân hàng quyết định cho vay. Trong cho vay kinh doanh, nguồn thu
với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, nếu quá chú trọng yếu tố này chƣa hẳn đã tốt, trong thời gian qua một số cán
bộ ngân hàng đã quá chú trọng vai trò của tài sản bảo đảm, coi bảo đảm là cơ sở để quyết định
cho vay không quan tâm đến các điều kiện khác, điều này chính là nguyên nhân làm giảm chất
lƣợng tín dụng[55, tr.172].
Chính vì vậy việc nghiên cứu một cách khoa học về bảo đảm tiền vay, làm rõ các vấn đề
lý thuyết của bảo đảm tiền vay để có một cách hiểu đúng đắn về vai trò của nó trong hoạt động
cho vay của NHTM là thực sự cần thiết. Tuy nhiên do sự giới hạn về thời gian nghiên cứu, luận
văn chỉ nghiên cứu một biện pháp trong bảo đảm tiền vay, đó là biện pháp thế chấp tài sản.
Trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi của nƣớc ta hiện nay, các quy định về thế chấp tài
sản đƣợc quy định trong các văn bản pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau nhƣ: luật dân
sự, luật đất đai, luật ngân hàng, hàng không, hàng hải, luật doanh nghiệp, luật đầu tƣ..., điều này
thể hiện sự quan tâm của Nhà nƣớc ta đối với vấn đề bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng nói
chung và thế chấp tài sản nói riêng. Tuy nhiên, hiện nay một số quy định hiện hành về thế chấp
tài sản tỏ ra bất cập không còn phù hợp khi áp dụng vào thực tiễn, chƣa đáp ứng đƣợc sự vận
động đa dạng, phức tạp của quan hệ tín dụng. Mặt khác, Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai và một số
văn bản khác đã đƣợc sửa đổi và ban hành mới đã dẫn đến những thay đổi quan trọng trong quan
niệm về thế chấp và tài sản thế chấp trong khi đó pháp luật ngân hàng lại chƣa có sự sửa đổi kịp
thời dẫn đến sự mâu thuẫn trong các quy định pháp luật hiện hành về thế chấp tài sản. Ngoài ra,
pháp luật về thế chấp tài sản còn có một số nội dung không theo thông lệ quốc tế (nhƣ đăng ký
thế chấp, xử lý tài sản thế chấp...).
Vì thế, để hiểu đúng và thực hiện đúng các quy định về thế chấp tài sản, cũng nhƣ phát
hiện những điểm thiếu sót, chƣa đồng bộ trong hệ thống pháp luật về thế chấp tài sản, thì việc
nghiên cứu đề đề tài này càng trở nên rất cần thiết nhằm kịp thời sửa đổi các quy định pháp luật
ngân hàng hiện hành về thế chấp tài sản, góp phần đảm bảo sự đồng bộ của hệ thống pháp luật và
phù hợp với thông lệ quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu:
dụng biện pháp này trong thực tiễn
- Đánh giá thực trạng pháp luật về thế chấp tài sản và việc thực thi các quy định này trong
thực tiễn từ đó rút ra các ƣu điểm, hạn chế của chế định này.
- Đƣa ra những kiến nghị hoàn thiện chế định thế chấp tài sản, góp phần đảm bảo sự đồng
bộ của hệ thống pháp luật
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt
động cho vay của ngân hàng thƣơng mại, mối quan hệ của các quy định này với các quy định
khác về bảo đảm tiền vay và trong tổng thể hệ thống pháp luật.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm các khía cạnh pháp lý, cơ sở lý luận, thực tiễn
và nội dung của các quy định về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng
mại.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Phƣơng pháp luận khoa học mà tác giả sử dụng là phƣơng pháp biện chứng Mác- Lênin.
Ngoài ra, các phƣơng pháp cụ thể đƣợc sử dụng trong quá trình nghiên cứu và thực hiện
luận văn bao gồm: phƣơng pháp thống kê, phân tích, đánh giá, đối chiếu, so sánh, tổng hợp.
6. Bố cục của luận văn.
Ngoài Lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3
chƣơng, đƣợc bố cục nhƣ sau:
Chƣơng I. Khái quát chung về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thƣơng mại;
Chƣơng II. Pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng
mại;
Chƣơng III. Hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của ngân
hàng thƣơng mại.
thông qua việc nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân dƣới các hình thức: tiền gửi không kỳ hạn,
tiền gửi có kỳ hạn, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu... NHTM hoạt động tín
dụng thông qua việc NHTM sử dụng vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng dƣới các hình
thức: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá khác... NHTM đƣợc thực
hiện các hoạt động thanh toán và ngân quỹ nhƣ: cung ứng các phƣơng tiện thanh toán, thực hiện
các dịch vụ thanh toán trong nƣớc, thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi đƣợc Ngân hàng
Nhà nƣớc cho phép, thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ, dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách
hàng... Ngoài ra, NHTM còn thực hiện một số hoạt động khác nhƣ: góp vốn, mua cổ phần, kinh
doanh ngoại hối và vàng, cung ứng các dịch vụ bảo hiểm, tƣ vấn tài chính, tiền tệ, bảo quản giấy
tờ có giá và hiện vật quý...[8]. Đặc điểm này cho thấy, NHTM ở Việt Nam là ngân hàng kinh
doanh tổng hợp[52, tr.130].
Thứ hai, NHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Mặc dù hoạt động của NHTM góp
phần thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ của Nhà nƣớc, nhƣng mục
tiêu hàng đầu trong hoạt động của NHTM là lợi nhuận kinh doanh. Đặc điểm này giúp ta phân
biệt NHTM với ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác[52, tr.130].
Là một trong các tổ chức tài chính quan trọng của nền kinh tế, NHTM hoạt động chủ yếu
trên nguyên tắc chuyển tiết kiệm thành đầu tƣ[51, tr.11]. NHTM huy động vốn từ tiền nhàn rỗi
của ngƣời dân, của các doanh nghiệp, từ thặng dƣ ngân sách của chính quyền. Sau đó nó phân
phối lại cho những ngƣời có nhu cầu vay tiền sử dụng để tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh.
Nhƣ vậy, sự gặp gỡ giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời thiếu vốn trở lên hết sức đơn giản với vai trò
trung gian của NHTM. Thông qua chức năng này NHTM đã kích thích sự luân chuyển của
nguồn vốn trong toàn xã hội, thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế, tăng thêm việc làm, cải thiện mức
sống của dân cƣ, góp phần quan trọng vào điều hoà lƣu thông tiền tệ, ổn định sức mua của đồng
tiền, kiềm chế lạm phát.
NHTM còn là một tổ chức trung gian thanh toán. Các hoạt động thanh toán qua NHTM
đƣợc diễn ra một cách nhanh chóng, tiện lợi, ít tốn kém và an toàn. Trong khi làm trung gian
thanh toán, NHTM đƣa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán nhƣ séc, uỷ nhiệm chi, uỷ
nhiệm thu, các loại thẻ... cung cấp mạng lƣới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền
giấy khi khách hàng cần[51, tr.14]. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau
13. Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số
điều của các nghị định hƣớng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về
việc chuyển công ty nhà nƣớc thành công ty cổ phần.
14. Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc
về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (đã đƣợc sửa đổi theo
các Quyết định: 28/2002/QĐ-NHNN ngày 11/01/2002, 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005,
783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/05/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc).
15. Thông tƣ số 06/2002/TT-BTP ngày 28/02/2002 của Bộ Tƣ pháp hƣớng dẫn một số quy định
của Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.
16. Thông tƣ số 07/2003/TT-NHNN ngày 19/05/2003 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc
hƣớng dẫn thực hiện một số quy định về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng.
17. Thông tƣ số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/04/2005 của Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên và môi
trƣờng hƣớng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004
của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
18. Thông tƣ liên tịch số 03/2001/TTLT/NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày 23/04/2001 của
Ngân hàng Nhà nƣớc- Bộ Tƣ pháp- Bộ Công an- Bộ Tài chính- Tổng cục Địa chính hƣớng dẫn
việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng.
19. Thông tƣ liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16/06/2005 của Liên bộ: Bộ Tƣ
pháp- Bộ Tài nguyên và môi trƣờng hƣớng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử
dụng đất, tài sản gắn liền với đất (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung theo Thông tƣ liên tịch số
03/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/06/2006 của Liên bộ: Bộ Tƣ pháp- Bộ Tài nguyên và môi
trƣờng).
20. Thông tƣ liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/06/2006 của Bộ Tƣ pháp- Bộ
Tài nguyên và môi trƣờng hƣớng dẫn việc thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản
thực hiện quyền của ngƣời sử dụng đất.
II) Văn bản pháp luật hết hiệu lực thi hành:
21. Bộ luật Dân sự Việt Nam của năm 1995.
22. Luật Đất đai năm 1993.
Nghị định số 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng.
40. Thông tƣ liên tịch số 03/2003/TTLT-BTP-BTNMT ngày 04/07/2003 hƣớng dẫn về trình tự,
thủ tục đăng ký và cung cấp thông tin về thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn
liền với đất.
III) Các tài liệu tham khảo khác:
41. Bài “Về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng” của PTS. Lê Hồng Hạnh - Tạp
chí Luật học số 1/1996.
42. Bài “Về thế chấp tài sản trong bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng” của Nguyễn
Văn Hoạt - Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật số 10/1998.
43. Bài “Xử lý tài sản thế chấp là giá trị quyền sử dụng đất để bảo đảm tiền vay trong ngân hàng
và các tổ chức tín dụng” của ThS. Doãn Hồng Nhung - Tạp chí Luật học số 03/2002.
44. Bài “Xử lý những vƣớng mắc nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức tín dụng
Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” của ThS. Nguyễn Trọng Nghĩa - Tạp chí Thị trƣờng
Tài chính tiền tệ 15/11/2004.
45. Bài “Một số bất cập và kiến nghị liên quan đến việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền
sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất” của Nguyễn Khánh Thắng - Tạp chí Ngân hàng số 05/2006.
46. Bài “Đăng ký giao dịch bảo đảm: Làm gì để gỡ bí cho các ngân hàng?” của Mạnh Hùng - Hồ
Hƣng - Báo Pháp luật số 132 (2.288) ngày 02/06/2004.
47. Bộ luật Dân sự Cộng hoà Pháp, NXB Chính trị Quốc gia, 1998.
48. Bộ luật Dân sự và thƣơng mại Thái Lan, NXB Chính trị Quốc gia, 1995.
49. Bộ luật Dân sự Nhật Bản.
50. Bộ Tƣ pháp - Dự thảo Đề án thí điểm đăng ký tập trung các giao dịch bảo đảm (Tháng 92004).
51. Đại học Kinh tế quốc dân, Ngân hàng thƣơng mại- quản trị và nghiệp vụ, Nhà xuất bản
Thống kê- 2002.
52. Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội-2005.
53. Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội: Giáo trình Lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật Việt Nam,