Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực Thuế xuất nhập khẩu, Thuế nhập khẩu theo pháp luật Việt Nam - Pdf 28


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THU TRANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC THUẾ
XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


7
1.1.1.
Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
7
1.1.2.
Đặc điểm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
10
1.2.
Khái niệm và nội dung cơ bản về quản lý nhà nước trong
lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
11
1.2.1.
Khái niệm về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu
11
1.2.2.
Nội dung cơ bản về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu
12
1.3.
Vai trò của quản lý nhà nước đối với thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu
21
1.3.1.
Kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
21
1.3.2.
Đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước
21
1.3.3.

lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở một số nước trên
thế giới.
1.5.1.
Kinh nghiệm của Singapore trong quản lý thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu
30
1.5.2.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong quản lý thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu
33
1.5.3.
Kinh nghiệm của Đài Loan trong quản lý thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu
34
1.5.4.
Bài học kinh nghiệm cho Việt nam trong việc hoàn thiện
hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu
36

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC THUẾ XUẤT
KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM
39
2.1.
Chủ thể quản lý nhà nước về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
39
2.1.1.
Vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ
thể quản lý nhà nước về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Chương 3: PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC
THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM
93
3.1.
Sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật
93

4

về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu
3.2.
Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
96
3.2.1.
Theo chương trình cải cách, hiện đại hóa ngành hải quan,
ngành tài chính, cải cách nền hành chính nhà nước
96
3.2.2.
Đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước
98
3.2.3.
Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và lộ trình thực
hiện các cam kết quốc tế về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
98
3.3.
Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

114
3.3.8.
Hoàn thiện khung pháp lý để triển khai hải quan điện tử
115
3.3.9.
Xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá hoạt động quản lý nhà
nước đối với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
116

KẾT LUẬN
118

TÀI LIỆU THAM KHẢO
121 5

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời
là cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà
nước. Nhà nước để có thể tồn tại và hoạt động, thực hiện tốt chức năng,
nhiệm vụ của mình thì cần phải có cơ sở vật chất nhất định. Do vậy, Nhà
nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một bộ phận của cải
xã hội vào tay Nhà nước. Việc huy động, tập trung nguồn của cải đó được
thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc
được gọi là thuế. Trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu là một trong những sắc thuế có ý nghĩa quan trọng, vừa

sở pháp lý để thực hiện hiện đại hoá công tác quản lý thuế như kê khai thuế điện
tử, hải quan điện tử
Đồng thời, thực tiễn của Việt Nam về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
trong những năm qua cũng có nhiều biến chuyển. Việc hội nhập quốc tế,
phát triển thương mại quốc tế khiến cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
hàng hóa ở Việt Nam có sự thay đổi lớn. Số lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu tăng lên nhanh chóng, nhu cầu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa dưới
nhiều hình thức đa dạng phong phú. Điều này kéo theo việc quản lý hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu cần phải có sự thay đổi để phù hợp với thực tiễn.
Do đó, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về việc quản lý thuế
xuất khẩu, nhập khẩu, chính sách thuế xuất khẩu nhập khẩu ở Việt Nam là
một nhu cầu cần thiết.
Từ tất cả những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Quản lý nhà
nƣớc trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo pháp luật Việt
Nam” để nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cao học luật của mình.

7

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đề tài về pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một đề tài thu hút sự
quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả cả ở phương diện
lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, nghiên cứu về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
trên phương diện chuyên sâu về quản lý nhà nước trong lĩnh vực này thì chưa
có nhiều. Theo dõi các công trình nghiên cứu hoặc tài liệu liên quan đến thuế
xuất khẩu, nhập khẩu cho thấy:
Trong chương trình đào tạo bậc đại học, một số vấn đề của pháp luật
quản lý thuế được đề cập ở nội dung giảng dạy như, “Giáo trình Luật tài
chính Việt Nam” của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2002; “Giáo trình
Luật thuế Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005; “Giáo
trình nghiệp vụ thuế” và “Giáo trình lý thuyết thuế” của Học viện Tài

thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam qua các thời kỳ, so sánh đối chiếu pháp
luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt
Nam với pháp luật nước ngoài, các Cam kết quốc tế mà Việt Nam ký kết, tham
gia có liên quan. Đồng thời Luận văn cũng đưa ra một số ý kiến đóng góp, kiến
nghị với hy vọng góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý
nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam.
Với mục đích như trên, Luân văn có nhiệm vụ:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: khái niệm thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu; quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
- Phân tích, đánh giá khái quát các quy định của pháp luật về quản lý nhà
nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thực tiễn áp dụng như:
cơ quan quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thủ tục hành chính quản lý
thuế cơ bản như khai thuế, ấn định thuế, thu nộp thuế; miễn, giảm, hoàn thuế;
kiểm tra, thanh tra thuế; xử lý vi phạm pháp luật vê thuế…Các quy định này

9

sẽ được phân tích đánh giá trên cơ sở đánh giá sự thay đổi so với quy định cũ
của pháp luật trước đây kết hợp với so sánh đối chiếu với pháp luật nước
ngoài, các Cam kết quốc tế có liên quan;
- Trên cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong
lĩnh vực thuế xuất khẩu, nhập khẩu để rút ra những mặt được cũng như chưa
được, nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về
quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định hiện hành về quản lý nhà
nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam ; các cam kết quốc
tế về lĩnh vực này mà Việt Nam đã ký kết, tham gia cũng như một số quy định
của pháp luật nước ngoài về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, xác định theo

xuất khẩu, thuế nhập khảu ở Việt Nam
Chương 3; Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam 11

Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP
KHẨU
1.1. Khái niệm và đặc điểm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.1.1. Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Lịch sử phát triển xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời, tồn
tại và phát triển là đòi hỏi cần thiết, khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại
và phát triển của Nhà nước. Nhà nước muốn tồn tại, hoạt động và phát triển
cần phải có cơ sở vật chất nhất định. Do vậy, Nhà nước phải dùng quyền lực
chính trị vốn có để tập trung một bộ phận của cải trong xã hội vào tay Nhà
nước. Việc huy động này được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như
quyên góp của dân, vay dân và dùng quyền lực bắt dân phải đóng góp. Trong
đó, quyên góp và vay của dân là những hình thức không mang tính ổn định
lâu dài, thường chỉ được sử dụng giới hạn trong những trường hợp đặc biệt.
Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính
trị buộc dân phải đóng thuế.
Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm như sau: C.Mác viết:
“Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc
thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà
nước”. Ph.Ăng ghen cũng đã viết: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải
có đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế má.” Còn theo Lê Nin,
“Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “thuế cấu
thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai

thể xuất khẩu ra nước ngoài, đồng thời hàng hóa dịch vụ nước ngoài nhập
khẩu vào trong nước để đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Để
quản lý, kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu vào quốc gia, điều tiết nền
kinh tế, đồng thời để tăng thêm nguồn thu cho Ngân sách, Nhà nước đặt ra

13

thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và có những chính sách áp dụng phù hợp với
từng thời kỳ. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ra đời như là chiếc cầu nối để
hòa nhập kinh tế thế giới mà không phá vỡ tính cân bằng của nền kinh tế cũng
như phát huy tính lợi thế của mỗi quốc gia và trở thành công cụ điều tiết vĩ
mô nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới.
Theo Từ điển Luật học: “Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại
thuế gián thu đánh vào các loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên
giới”[48].
Theo Từ điển Kinh tế học (Anh – Việt – Giải thích): “Thuế nhập khẩu là
khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu. Thuế nhập khẩu
được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo hộ ngành sản xuất
trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài [48].
Để có thể đưa ra một khái niệm đầy đủ về thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu ta phải xác định được thuế xuất khẩu, nhập khẩu hàm chứa những nội
dung cơ bản sau:
Một là, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại thuế gián thu, một
yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa;
Hai là, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu áp dụng đối với hàng hóa được
phép xuất khẩu, nhập khẩu;
Ba là, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có nét khác biệt so với các loại
thuế khác là không áp dụng đối với hàng hóa sản xuất và tiêu thụ ở thị trường
nội địa mà chỉ đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu; luôn gắn với hoạt động
xuất nhập khẩu để quản lý hoạt động này và do vậy thuế xuất khẩu, thuế nhập

đánh thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thường căn cứ vào giá trị và chủng loại
hàng hóa cũng như chính sách thương mại trong từng thời kỳ.
Thứ ba, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp của các
yếu tố quốc tế như: sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc

15

tế. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu điều chỉnh vào hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hóa của một quốc gia. Sự biến động của kinh tế thế giới, xu hướng
thương mại quốc tế trong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới hàng hóa xuất
nhập khẩu của các quốc gia, nhất là trong giai đoạn tự do hóa thương mại, mở
cửa và hội nhập quốc tế như hiện nay. Để đạt được những mục tiêu đặt ra,
chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải có sự linh hoạt, thay đổi phù
hợp theo sự biến động của kinh tế thế giới và thương mại quốc tế, đồng thời
cũng phải đảm bảo tuân thủ theo các cam kết quốc tế mà mỗi quốc gia ký kết,
tham gia.
1.2. Khái niệm và nội dung cơ bản về quản lý nhà nƣớc trong lĩnh
vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.2.1. Khái niệm về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu
Khái niệm quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa rộng được thực hiện bởi tất
cả các cơ quan nhà nước. Cũng có khi do nhân dân trực tiếp thực hiện bằng
hình thức bỏ phiếu toàn dân, hoặc do các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội
thực hiện nếu được nhà nước giao quyền thực hiện chức năng nhà nước. Quản
lý nhà nước ở đây không phải là quản lý cái tổ chức chính trị gọi là nhà nước,
mà là sự quản lý có tính chất nhà nước, do nhà nước thực hiện thông qua bộ
máy nhà nước, trên cơ sở quyền lực nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ
và chức năng của nhà nước [54].
Quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa hẹp tức là hoạt động chấp hành và
điều hành của nhà nước - chỉ là một trong bốn loại hoạt động của nhà nước

Chủ thể quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
là cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước như: hệ thống các cơ quan lập
pháp với vai trò là người nghiên cứu và xây dựng hệ thống pháp luật thuế; các
cơ quan hành pháp với tư cách là người chỉ đạo, điều hành công tác quản lý

17

thuế. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài, luận văn chỉ đề cập đến cơ
quan Hải quan là chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trong
lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với nhiệm vụ được quy định tại Điều
11 Luật Hải quan đã được sửa đổi, bổ sung năm 2005: “thực hiện kiểm tra,
giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển
trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với
hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;
kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách
thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu”.
1.2.2.2. Đối tượng chịu sự quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Đối tượng chịu sự quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là các tổ chức
và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Tổ chức, cá nhân
nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm: Chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu; tổ chức nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu; cá nhân có hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu khi xuất cảnh, nhập cảnh, gửi hoặc nhận hàng hóa qua cửa
khẩu, biên giới Việt Nam; đối tượng được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thay
thuế (Đại lý làm thủ tục hải quan trong trường hợp được đối tượng nộp thuế
ủy quyền nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế trong trường hợp nộp thay thuế
cho đối tượng nộp thuế); tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo
quy định của Luật các tổ chức tín dụng trong trường hợp bảo lãnh, nộp thay
thuế cho đối tượng nộp thuế.

trên thế giới áp dụng. Theo cơ chế này thì các tổ chức, cá nhân nộp thuế căn
cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ kê khai của m
́
ình và căn cứ vào
các quy định của pháp luật về nghĩa vụ thuế tự tính ra số thuế phải nộp ngân
sách Nhà nước, từ đó tự kê khai và tự thực hiện nghĩa vụ nộp số thuế đã kê

19

khai vào Ngân sách Nhà nước theo đúng thời hạn qui định của pháp luật. Cơ
quan thuế không can thiệp vào quá trình kê khai, nộp thuế của tổ chức, cá
nhân kinh doanh, nhưng cơ quan thuế sẽ tiến hành thanh tra, kiểm tra và áp
dụng các biện pháp xử phạt, cưỡng chế theo luật định đối với những trường
hợp có hành vi vi phạm pháp luật về thuế như không kê khai, kê khai không
đúng, không nộp thuế, trốn thuế, gian lận về thuế
Trước đây, Việt Nam áp dụng quản lý thuế theo cơ chế cơ quan quản lý
thuế tính thuế và ra thông báo thuế. Năm 2006, Luật Quản lý thuế số 78
được ban hành với quy định về việc áp dụng quản lý thuế theo cơ chế người
nộp thuế tự kê khai, tự nộp thuế. Điều 30 Luật Quản lý thuế số 78 năm 2006
quy định:
“Điều 30. Nguyên tắc khai thuế và tính thuế
1. Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung
trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đủ các loại
chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế.
2. Người nộp thuế tự tính số thuế phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế
do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ.”
Đây được coi là bước ngoặt quan trọng trong lộ trình cải cách thuế ở
nước ta nhằm hướng đến một nền quản lý thuế tiên tiến, phù hợp với thông lệ
quốc tế. Để vận hành cơ chế quản lý thuế theo phương thức này, các quy định
pháp luật về quản lý thuế phải chặt chẽ, minh bạch để làm sao quy định của

Ngân sách theo quy định. Cơ quan Hải quan có trách nhiệm theo dõi việc thu
nộp và tổ chức việc thu đòi khi quá thời hạn mà đối tượng nộp thuế chưa nộp
vào Ngân sách. Việc quản lý các phát sinh về tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu cần được thực hiện theo chuẩn mực kế toán hiện hành.
Cơ quan Hải quan tổ chức thực hiện việc thu thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu và quản lý người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm một số

21

công việc cơ bản sau: (i) Tiếp nhận, kiểm tra việc khai thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu: phục vụ cho việc xác định chính xác số tiền thuế phải nộp, phát
hiện và ngăn chặn vi phạm, cập nhật số liệu để cung cấp thông tin cho các bộ
phận tiếp theo với độ tin cậy cao; (ii) Ấn định thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi thực hiện cơ chế người nộp thuế
tự tính, tự khai, tự nộp, cơ quan quản lý thuế sẽ không tính thuế và ra thông
báo thuế, người nộp thuế tự tính tự khai số tiền thuế phải nộp và tự nộp tiền
thuế vào ngân sách. Tuy nhiên, trong trường hợp người khai thuế dựa vào các
tài liệu không hợp pháp để khai báo căn cứ tính thuế, tính và kê khai số thuế
phải nộp; không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ, chính xác các căn cứ tính
thuế làm cơ sở cho việc tính thuế; người khai thuế từ chối hoặc trì hoãn, kéo
dài quá thời hạn quy định việc cung cấp các tài liệu liên quan cho cơ quan Hải
quan để xác định chính xác số thuế phải nộp; cơ quan Hải quan có đủ bằng
chứng về việc khai báo trị giá không đúng với trị giá giao dịch thực tế; hoặc
người khai thuế không tự tính được số thuế phải nộp thì cơ quan Hải quan sẽ
ấn định thuế. Căn cứ để ấn định thuế là hàng hoá thực tế xuất khẩu, nhập
khẩu; số lượng, trị giá, mức thuế suất, phương pháp tính thuế; tài liệu và các
thông tin khác có liên quan; (iii) Kế toán, thống kê thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu; (iv) Quản lý tốt nợ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Ba là, quản lý miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; giảm thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu; hoàn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [28].
Hoàn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là việc cơ quan Hải quan quyết
định trả một phần hoặc toàn bộ số tiền thuế mà Nhà nước đã nhận từ người
nộp thuế. Về bản chất, hoàn thuế là hành vi của cơ quan quản lý thuế trả lại
phần thuế đã thu thừa so với số thuế được quyền thu theo quy định của pháp
luật. Để được hoàn thuế, cá nhân, tổ chức có yêu cầu hoàn thuế phải gửi hồ sơ

23

đề nghị hoàn thuế đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan Hải quan
có thẩm quyền [28].
Bốn là, kiểm tra, thanh tra thuế xuất, thuế nhập khẩu.
Kiểm tra, thanh tra thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một hoạt động tất
yếu của cơ quan quản lý thuế để duy trì và kiểm soát hoạt động thực thi pháp
luật về thuế do nhà nước ban hành; có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với
hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Với chính sách khuyến khích chủ thể nộp
thuế tự kê khai, tính thuế và nộp thuế như hiện nay thì công tác kiểm tra thuế
là hết sức quan trọng nhằm đảm bảo phòng, chống gian lận thuế.
Kiểm tra thuế là hành vi của cơ quan quản lý thuế nhằm xác minh các
thông tin liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế để từ đó đánh giá mức độ chấp
hành pháp luật thuế của chủ thể nộp thuế. Theo Michel Bouvier, trích của
J.Bruron, thì kiểm tra thuế là một hoạt động nhằm xem xét tính trung thực,
tính chính xác của cơ sở tính thuế mà người nộp thuế đã kê khai (Michel
Bouvier, Nhập môn luật thuế đại cương và lý thuyết thuế, NXB chính trị quốc
gia, 2005) [28].
Kiểm tra thuế xuất nhập khẩu là việc cơ quan Hải quan áp dụng các biện
pháp nghiệp vụ kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa nhằm xác
định tính chân thực của các khai báo hải quan về thuế xuất nhập khẩu. Tùy
theo giai đoạn kiểm tra, chúng ta chia kiểm tra thuế đối với hàng hóa xuất
nhập khẩu thành nhiều loại khác nhau, như: nếu căn cứ vào tình trạng hàng

hành chính hay áp dụng chế tài hình sự. Các hành vi vi phạm pháp luật về
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là tội phạm sẽ bị áp dụng chế tài hình sự. Các
hành vi vi phạm không phải là tội phạm bị xử lý hành chính. Cơ quan Hải
quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu và tiến hành một số hoạt động điều tra hình sự theo quy định
của pháp luật.

25

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là
hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, vi phạm các
quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy
định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
Sáu là, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Mọi công dân được quyền khiếu nại, tố cáo khi có cơ sở cho rằng các
quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan Hải quan và công chức
Hải quan là trái pháp luật về thuế xuất nhập khẩu. Cơ quan Hải quan có trách
nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
1.3. Vai trò của quản lý nhà nƣớc đối với thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu
1.3.1. Kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là mục tiêu chủ chốt của mỗi
quốc gia, đặc biệt trong xu thế tự do hóa thương mại trên phạm vi khu vực và
thế giới. Thông qua việc quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cơ quan
nhà nước sẽ quản lý được số lượng, loại hình hàng hóa thực xuất khẩu, nhập
khẩu, từ đó kiểm soát được tất cả hàng hóa xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và
hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để Nhà
nước đưa ra chính sách pháp luật phù hợp đối với hoạt động xuất nhập khẩu,
cho phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nào, cấm xuất khẩu, nhập khẩu hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status