Khóa luận tốt nghiệp Nghiên cứu đặc điểm hình thái và mức độ gaya hại của Nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa tại Phúc Yên, Vĩnh Phúc - Pdf 28

LỜI CẢM ƠN
Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu khóa luận này được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy
Dương Tiến Viện, tôi đã từng bước tiến hành khóa luận này với đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm hình
thái và mức độ gây hại của nhện gié Steneotarsonemus spỉnki Smiley hại lúa tại Phúc Yên, Vĩnh
Phúc”.
Qua đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Dương Tiến Viện, các thầy cô trong
khoa Sinh - KTNN cùng các thầy cô trong trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Cuối cùng tôi xin được chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, tập thể bạn bè những người đã
động viên, giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề
tài.
Một lần nữa tôi xin được chân thành cảm ơn tất cả!
Hà Nội, tháng năm 2013 Sinh viên
Phạm Thị Huế
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài do tôi trực tiếp nghiên cứu và có tham khảo tài liệu của một số nhà
nghiên cứu, một số tác giả. Tuy nhiên đó là cơ sở để tôi thực hiện đề tài này. Đề tài này là kết quả
nghiên cứu của cá nhân tôi, các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và
chưa được công bố trong bất kì báo cóa khoa học nào. Nếu phát hiện bất cứ gian lận nào tôi xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
KHÓA LUẬN TỐT
Hà Nội, tháng năm 2013
Sinh viên
Phạm Thị Huế
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KHÓA LUẬN TỐT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
KHÓA LUẬN TỐT
BT7 Băc thơm sô 7

quân 472 USD/tấn, tăng khoảng 10% về lượng và giá trị so với năm 2010. Trong
năm 2011 Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 7,3 triệu tấn so với năm 2010 là 6,83
triệu tấn đứng vị trí thứ 2 thế giới sau Thái Lan đã xuất khẩu 10 triệu tấn năm 2011
[17].
Hình Tên hình Trang
3.1 Trứng nhện gié s. spinki trong khoang mô lá 18
3.2 Pha nhện non di động của nhện gié s. Spinki 18
3.3 Pha nhện non không di động của nhện gié s. Spinki 19
3.4
Pha trưởng thành con đực nhện gié s. Spinki
20
3.5
Pha trưởng thành con cái nhện gié s. Spinki
21
3.6
Diễn biến mật độ nhện gié hại lúa vụ mùa 2011 tại Vĩnh Phúc
23
3.7 Tỷ lệ hại và chỉ số hại của nhện gié hại lúa vụ mùa 2011 24
KHÓA LUẬN TỐT
4 sv. PHẠM THỊ HUẾ - K35D
Sản xuất lúa gạo chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, giải
quyết được vấn đề an ninh lương thực cho hơn 80 triệu dân và lúa gạo cũng là mặt
hàng xuất khẩu quan trọng.
Hàng năm bên cạnh những ảnh hưởng xấu của thiên tai, sản xuất lúa gạo
còn bị giảm đáng kể năng suất do chuột, cỏ dại và đặc biệt là sâu bệnh hại. Gần
đây do áp dụng công nghệ tiên tiến, thâm canh tăng vụ đã đưa năng xuất lúa lên
42,7 tạ/ha đứng đầu các nước Đông Nam Á. Nhưng việc sử dụng thuốc trừ sâu quá
mức đã làm cho nhóm nhện nhỏ hại lúa từ sinh vật gây hại thứ yếu đã trở thành
chủ yếu. Chúng là đối tượng mới nguy hiểm mà người nông dân hầu như chưa có
kinh nghiệm trong phòng trừ.

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu nhện gié ở nước ngoài
1.1.1 Những nghiên cứu về vị tí phân loại, tình hình phân bố, mức độ gây hại
của nhện gié hại lúa Steneotarsonemus spinki Smiley
Nhện gié Steneotarsonemus spinki được mô tả lần đầu tiên năm 1967
(Smiley, 1967) [33]. Nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley thuộc ngành chân
đốt (Arthropoda), lớp hình nhện (Arachnida), bộ ve bét (Acarina), tổng họ
Tarsonemoidae, họ Tarsonemidae, giống Steneotarsonemus Beer, 1954, loài
Steneotarsonemus spinki Smiley, 1967 (Mendonça et ai, 2004) [28]. Trong họ
Tarsonemidae có 3 loài nhện gây hại lúa: Steneotarsonemus spỉnki,
Steneotarsonemus furcates và Steneotarsonemus spirifex. Trong đó loài s. spinki là
loài nguy hiểm nhất vì ngoài những thiệt hại do nó trực tiếp gây ra, nó còn là môi
giới truyền bệnh nấm Sarocladium oryzae Sawada và bệnh vi khuẩn.
KHÓA LUẬN TỐT
6 sv. PHẠM THỊ HUẾ - K35D
về phân bố địa lý, Rao et al., (1977) [32] đã chỉ ra rằng có thể các tài liệu
đầu tiên về nhện gié s. spinki là trong tài liệu tham khảo “động vật chân đốt nhỏ”
đã tấn công cây lúa ở Ấn Độ. Việc xuất bản tài liệu tham khảo đầu tiên nói đến s.
spinki như là một dịch hại của cây lúa là từ miền Nam Trung Quốc năm 1968 (Ou
et al., 1978) [29]. Tiếp theo là báo cáo ghi nhận nhện gié ở Ấn Độ vào tháng 11
năm 1975 (Rao et al., 1977) [32], ở Đài Loan, Kenya và Philippines năm 1977
(Rao et al., 1977) [32].
Năm 1999, nhện gié S.spinki đã được tìm thấy tại Hàn Quốc, Thái Lan và
Sri Lanka (Cabrera et al., 2002) [21].
Các báo cáo đầu tiên về nhện gié s. spinki như là một dịch hại lúa của châu
Mỹ là ở Cu Ba vào năm 1997 (Ramos et al., 1998)[30]. Sau đó nhện gié s. spỉnki
nhanh chóng lan rộng khắp vùng Caribe và Trung Mỹ, tại Cộng hòa Dominica vào
năm 1999 (Ramos et al., 2000) [31].
về mức độ gây hại, nhện gié là loài dịch hại nguy hiểm ở các vùng trồng
lúa ở châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc, Philipin và Thái Lan

Rhizoctonia tổng họp gây ra. Nhện gié còn là trung gian truyền các bệnh nấm
và vi khuẩn cho cây lúa như Fusarium moniliform, Currvularia lunata,
Alternaria padwickii, Pseudomonas glumae. Nhện gié được coi là loài mới
xuất hiện trở lại ở Mỹ vào năm 2007 (Hummel et al., 2009 dẫn) [25].
1.1.2. Đặc điểm hình thái và sinh học của nhện gié
• • • ơ
Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học của loài nhện gié
Steneotarsonemus spinki cho thấy, nhện gồm các pha phát dục: trứng, nhện non
tuổi 1, nhện non tuổi 2 và nhện trưởng thành (Ramos et al., 2000) [31], (Xu et al.,
2001) [34].
Trứng có màu trắng trong, được đẻ rải rác từng quả, chúng thường dính lại
với nhau. Nhện non di động và nhện non không di động có màu trắng đục với 3
đôi chân.
KHÓA LUẬN TỐT
8 sv. PHẠM THỊ HUẾ - K35D
Theo Dossmann (2005) [22] nhện gié có 4 pha phát dục: trứng, nhện non di
động, nhện non không di động và trưởng thành. Trứng có màu trắng trong, hình
ôvan dài, kích thước của trứng 110 X 74|j,m. Nhện non có 3 đôi chân, cơ thể màu
trắng sáng, kích thước (147 - 186) X (73 - 110)|xm. Nhện trưởng thành và nhện
non không di động có kích thước tương đối bằng nhau 250 X lio^m.
Đặc điểm hình thái nhện gié có sự khác nhau rõ rệt giữa con đực và con
cái. Con đực mang một đôi kìm dùng để di chuyển con cái đi tạo lập quần thể
mới. Còn con cái có đôi chân thứ tư biến thành dạng vuốt dài.
Trưởng thành cái nhện gié s. spinki sinh sản nhanh và hiệu quả, từ 50 đến
70 trứng trong thời gian sống của mình (Xu et al, 2001) [34].
Trong điều kiện phòng thí nghiệm tại Cu Ba, ở nhiệt độ trung bình 24,42 ±
l,l°c và độ ẩm trung bình 70,07 ± 4,7%, thời gian từ trứng đến trưởng thành là 7,7
ngày, thấp nhất là 5,75 ngày và cao nhất là 9,64 ngày. Thời gian phát triển của
trứng, nhện non di động và nhện non không di động tương ứng là 2,94, 2,22 và
2,74 ngày (Ramos et al., 2000) [31].

1.1.3. Đặc điểm sinh thái học của nhện gié
Theo nghiên cứu của Fang (1980) [23] cho thấy, tỷ lệ cao nhất của nhện gié
phù họp đối với nhiệt độ cao, lượng mưa giảm, liều lượng cao của phân bón ni tơ
và quản lý yếu kém của phân bón nói chung. Đối với các nước châu Á, nhện phát
triển đạt mức độ tối đa từ tháng tám đến tháng mười, trùng họp với điều kiện có
nhiệt độ cao và độ ẩm thấp.
Tại Trung Quốc, Lo et aỉ., (1977) [27] đã ghi nhận rằng nhện gié được tìm
thấy trên cây lúa giai đoạn trỗ, chín sữa, chín sáp và chúi hoàn toàn và mật độ của
nhện gié s. spỉnki khác nhau giữa các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa.
KHÓA LUẬN TỐT
10 sv. PHẠM THỊ HUẾ - K35D
Các nghiên cứu về biến động quần thể của nhện gié cũng đã được tiến hành
tại Cu Ba, Ramos et al., (2000) [31] đánh giá biến động mật độ nhện gié và cho
rằng mật độ nhện gié là thấp trong giai đoạn đẻ nhánh, mật độ tăng nhanh ở giai
đoạn trỗ. Mật độ đạt tối đa vào giai đoạn chín sữa và sau đó giảm xuống ở giai
đoạn chín sáp, chín hoàn toàn.
Nhện gié ưa thích phá hại hạt ở giai đoạn lúa chín sữa hơn giai đoạn chín
sáp và chín hoàn toàn. Nhện được phát hiện chủ yếu ở trong bẹ lá nơi mà ta dễ
dàng bắt gặp quần thể nhện cao ở pha nhện non và trưởng thành. Nhện cũng dễ
thấy ở phần trong hạt lúa. Đôi khi chúng rất khó phát hiện trên cánh đồng vì cơ thể
trong suốt không màu, kích thước cơ thể nhỏ bé và vị trí sống ở trong bẹ lá
(Fernando, 2007) [24].
1.1.4. Phòng trừ nhện gié
Để ngăn chặn sự gây hại của nhện gié lây lan từ vụ này sang vụ khác, việc
làm cần thiết là tiêu diệt nguồn nhện tồn dư trong gốc rạ, trong tàn tích cây trồng
và trên cây lúa chét. Việc làm đất, vệ sinh đồng ruộng, cỏ dại đều có tác dụng diệt
nhện gié không cho chúng có cơ hội lây lan từ vụ trước sang vụ sau. Ngoài ra,
biện pháp kéo dài khoảng cách giữa 2 vụ lúa cũng có tác dụng làm giảm khả năng
tồn tại của nhện gié. Khoảng cách giữa 2 vụ ít nhất là 25 ngày mới có khả năng
làm chết và giảm khả năng tồn tại của nhện gié trên ruộng (Mendonça et al., 2004)

gié Steneotarsonemus spỉnki Smiley đã trở thành đối tượng gây hại khá phổ biến,
do những thiệt hại đáng kể mà nó gây ra trên lúa, loài dịch hại này mới được quan
tâm nghiên cứu nhiều hơn mà chủ yếu là ở Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Ở nước ta, nhện gié được ghi nhận gây hại trên lúa tại Thừa Thiên - Huế
(Ngô Đình Hòa, 1992) [8], ở vùng đồng bằng sông Hồng (Nguyễn Yăn Đĩnh,
KHÓA LUẬN TỐT
12 sv. PHẠM THỊ HUẾ - K35D
1994) [4]. Tại nhiều tỉnh phía Nam (An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Kiên
Giang, ) đã ghi nhận triệu chứng “bệnh cạo gió” gây ra bởi loài này. Trong
khoảng 10 năm trở lại đây, nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley đã trở thành
đối tượng gây hại khá phổ biến trên lúa.
Nhện gié Steneotarsonemus spỉnki Smiley với phương thức sống: đục vào
bẹ lá lúa, sống trong tổ, khả năng chịu nước và chịu lạnh cao, sức sinh sản lớn,
khác biệt với nhiều loài nhện nhỏ hại cây trồng như nhện trắng
Polyphagotarsonemus latus Banks, nhện đỏ son Tetranychus cinnabarius
Boisduval, nhện đỏ hại chè Olỉgonychus coffeae Niet., nhện đỏ cam chanh
Panonychus citri McG. Triệu chứng gây hại lại dễ nhầm lẫn với triệu chứng của
các bệnh do vi sinh vật gây nên (như nấm, vi khuẩn Pseudomonas glumae, ) mà
người ta thường gọi là “bệnh lem lép”.
Theo thống kê của Trung tâm BVTV phía Bắc, 2008 [11], trong 2 năm
2007, 2008 có 11/25 tỉnh thành ở miền Bắc bị nhện gié gây hại lúa, diện tích lúa
bị hại trên 5000 ha. Có nhiều tỉnh như Thái Nguyên, Phú Thọ diện tích lúa mùa bị
hại nặng lên tới trên 500 ha, toàn thân cây lúa chuyến sang màu xám nâu hơi đen,
mất màu vàng đặc trang khi lúa chửi, năng suất giảm đáng kể. Các tỉnh miền núi
cao như Điện Biên, Sơn La và ở đồng bằng sông Hồng như Hải Dương, Ninh
Bình, Bắc Ninh, cũng đã ghi nhận sự gây hại của nhện gié.
Trong vụ mùa năm 2009, nhện gié gây hại và phân bố rộng hơn năm trước,
hại nặng cục bộ ở một số tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Hoà Bình, Điện Biên,
Quảng Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên Diện tích nhiễm hơn 2.000 ha, nhiễm nặng
115 ha (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2009) [12]. Năm 2010, nhện gié xuất hiện ở

gây hại của nhện gié khi lây nhiễm trong phòng thí nghiệm và ghi nhận năng suất
giảm 42,3 - 48,3%.
KHÓA LUẬN TỐT
14 sv. PHẠM THỊ HUẾ - K35D
Đỗ Thị Đào và cộng sự (2008) [3] đã xác định nếu được phòng trừ nhện gié
đúng kỹ thuật, năng suất tăng hơn so với đối chứng là 59,6%, ngoài ra các tác giả
còn xác định mức độ nhiễm nhện gié khác nhau của 10 giống lúa trồng phổ biến ở
miền Bắc.
Nhện gié có vòng đời ngắn, trung bình 9,33 ngày ở 24,6°c và 5,83 ngày ở
29,9°c (Nguyễn Văn Đũủi và Trần Thị Thu Phương, 2006) [6].
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, dụng cụ, địa điểm và thời gian nghiền cứu
2.1.1. Đổi tượng nghiên cứu
- Loài nhện Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa.
- Một số giống lúa trồng phổ biến ở Vĩnh Phúc: Khang dân 18, nếp N97, Bắc thơm
số 7, Hương thơm số 1.
2.1.2. Dụng cụ nghiên cứu
- Túi nilon các cỡ, giấy nilon, giấy lọc. Hộp petri, khay, ống nghiệm, lồng nuôi sâu,
bút lông, chổi lông, kim côn trùng số 00, panh, lam kính, dao tem.
- Kinh lúp 2 thị kính, kính lúp soi nổi Optika cùng phụ kiện khác để chụp ảnh, tủ
định ôn, tủ lạnh, máy ảnh.
2.1.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 8/2011 đến tháng 12/2011.
Địa điểm: Điều tra ngoài đồng ruộng được thực hiện tại thị xã Phúc Yên,
Vĩnh Phúc, phòng thí nghiệm trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Xác định kích thước các pha phát dục của nhện gié.
- Mô tả đặc điểm hình thái các pha phát dục của nhện gié.
- Điều tra diễn biến mật độ và mức độ gây hại của nhện gié trên một số giống lúa.

16 sv. PHẠM THỊ HUẾ - K35D
- Điều tra diễn biến mật độ và mức độ gây hại của nhện gié theo vụ lúa: Mỗi vụ lúa
trong năm điều tra đại diện ở trà chính vụ (vụ mùa chính vụ 2011). Ở mỗi vụ điều
tra trên một số giống lúa cấy phổ biến: Khang dân 18, Nếp N97, Bắc thơm số 7,
Hương thơm số 1.
- Điều tra định kỳ 7 ngày một lần, từ sau lúa cấy/sạ đến khi thu hoạch.
- Điều tra 10 điểm ngẫu nhiên theo đường chéo, điểm cách bờ ít nhất 2m.
- Mỗi điểm lấy 10 khóm, mỗi khóm lấy 1 dảnh, dùng kéo cắt sát gốc dảnh lúa và
cho 10 dảnh của 1 điểm vào 1 túi nilon có đánh số, đem về phòng thí nghiệm quan
sát và soi trên kính lúp, độ phóng đại 40x.
Ở các ruộng đại diện cho mỗi yếu tố (thời vụ, giống lúa, chân đất) tiến hành
điều tra theo QCVN01-38:2010/BNNPTNT (Bộ NN&PTNT).
Chỉ tiêu điều tra
- Mật độ nhện gié/dảnh, phân cấp hại, tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%).
Phân cấp hại của dảnh lúa (trước trỗ) và của bông lúa (sau trỗ).
Phân cấp hại theo 9 cấp.
Trước trỗ:
+ Cấp 1: < 1/6 diện tích bẹ lá có vết hại.
+ Cấp 3: >1/6 -1/3 diện tích bẹ lá có vết hại.
+ Cấp 5: >1/3 -1/2 diện tích bẹ lá có vết hại.
+ Cấp 7: > 1/2 - 3/4 diện tích bẹ lá có vết hại.
+ Cấp 9: > 3/4 diện tích bẹ lá và thân có vết hại, thân cây bị thâm đen.
Trẽn bỗng:
+ Cấp 1: < 1% hạt bị hại +
Cấp 3 : 1 - 5% hạt bị hại +
Cấp 5: > 5 - 25% hạt bị hại +
Cấp 7: > 25 - 50% hạt bị hại
KHÓA LUẬN TỐT
17 sv. PHẠM THỊ HUẾ - K35D
+ Cấp 9: > 50 % hạt bị hại

Cắt một đoạn ống thân lúa được nuôi đem ra quan sát trên kính lúp soi
nổi, có thể cho đoạn mẫu đó vào tủ lạnh khoảng 1 phút rồi đem ra quan sát các
pha của nhện gié. Dùng kim côn trùng số 00 chuyển từng pha của nhện gié
(Trứng, nhện non di động, nhện non không di động, trưởng thành đực và
trưởng thành cái) để quan sát tỉ mỉ dưới kính lúp soi nổi, chụp ảnh, đo kích
thước và mô tả đặc điểm hình thái, kết quả được nghi lại qua bảng 3.1.
KHÓA LUẬN TỐT
19 sv. PHẠM THỊ HUẾ - K35D
Bảng 3.1: Kích thước các pha phát triển của nhện gié
s.
spinki
Pha phát dục Chỉ tiêu Kích thước
Nhỏ nhất
Om)
Lớn
nhất
Trung bình Om)
Trứng Chiều dài 101,9 166,9 130,1 ±6,2
Chiều rộng 70,0 101,6 82,9+2,6
Nhện non di động Chiều dài 155,5 320,1 241,7+18,1
Chiều rộng 75,6 137,1 101,6+6,1
Nhện non không di động
Chiều dài 272,1 313,6 287,6+4,8
Chiều rộng 86,3 145,3 108,9+6,2
Trưởng thành đực Chiều dài 218,7 326,9 242,7+12,5
Chiều rộng 120,2 150,7 128,8+3,4
Trưởng thành cái Chiều dài 250,9 310,5 286,2+6,2
Chiều rộng 75,6 113,5 94,2+3,4
Qua bảng 3.1, cho thây kích thước pha trứng của nhện trung bình là chiều dài
130,1 ± 6,2|J.m và chiều rộng 82,9 + 2,6|J.m.

Trong khi ở giai đoạn nhện non không di động, nhện nằm im chỉ chuyển
hóa về chất bên trong cơ thể mà không hề lớn lên nên kích thước không có sự biến
động lớn, kích thước trung bình là chiều dài 287,6 ± 4,8|J.m
và chiều rộng 108,9 + 6,2|J.m.
Hình 3.3. Pha nhện non không di động của nhện gié
s.
Spinki
Nhện non không di động cơ thể căng tròn, màu trắng đục. Chúng cũng có 3
đôi chân nhưng không di chuyển mà duỗi thẳng. Giai đoạn này kích thước của
nhện tương đương kích thước của nhện gié trưởng thành, tuy nhiên vẫn chưa phân
biệt được đực cái qua đặc điểm hình thành.
KHÓA LUẬN TỐT
22 sv. PHẠM THỊ HUẾ - K35D
Kích thước của nhện ở pha trưởng thành là lớn nhất do nhện đã phát triển
hoàn thiện để thực hiện vai trò sinh sản trong duy trì nòi giống. Tuy nhiên, con
đực có sự khác biệt khá rõ so với con cái. Con đực tuy to hơn về chiều ngang cơ
thể nhưng chiều dài lại kém hơn con cái khá nhiều, trung bình là chiều dài 242,7 ±
12,5|im và chiều rộng 128,8 + 3,4|im.
Hình 3.4. Pha trưởng thành đực nhện gié
s.
Spinki.
Trưởng thành đực màu vàng đậm, giữa lưng có một đốm trắng đục. Cơ thể
to và di chuyển rất nhanh nhẹn, chúng di chuyển qua lại qua khoang lá để tìm con
cái sắp hóa trưởng thành cho quá trình giao phối. Nhện có nhiều ngấn ngang, dọc,
mặt lưng sần sùi. Nhện có 4 đôi chân to khỏe, đôi chân thứ tư biến thành kìm để
giữ con cái trong quá trình giao phối. Khi di chuyển, đôi chân thứ tư của nhện đực
cong lên. Toàn bộ cơ thể và nhất là kìm có nhiều lông bao quanh. Trong quá trình
giao phối, trưởng thành đực đến vị trí có nhện non không di động chuẩn bị hóa
trưởng thành nhanh chóng dùng chân và kìm cắp con cái lên lưng rồi cõng đi. Nếu
trong quần thể nhện đó có nhiều con đực hơn hoặc đực cái xấp xỉ nhau, sẽ xảy ra

đực có kích thước tương ứng là 2\lụm và 121|J.m. Như vậy, về cơ bản qua
kích thước ta đều có thể phân biệt được giới tính, tuy nhiên vẫn có sự khác
nhau tùy thuộc các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn, mùa vụ
3.2. Diễn biến mât đô, tỷ lê hai và chỉ số hai của nhên gié trên môt số
giống lúa cấy vụ mùa 2011 tại Vĩnh Phúc
Vụ mùa 2011, điều tra trên 4 giống lúa cấy phổ biến tại Vĩnh Phúc là
Khang dân 18, Nếp N97, Bắc thơm số 7, Hương thơm số 1, kết quả thể hiện ở
bảng 3.2.
Kết quả điều tra cho thấy: nhện gié phát sinh gây hại vào giai đoạn lúa đẻ
nhánh (27/7) với mật độ thấp (0,1-0,6 con/dảnh). Mật độ nhện gié tăng dần theo
các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, mật độ tăng vào giai đoạn làm đòng (từ 1,8-
5,3 con/dảnh) và đỉnh cao vào giai đoạn trỗ và chín sữa (26,3-
KHÓA LUẬN TỐT
25 sv. PHẠM THỊ HUẾ - K35D
Bảng 3.2. Diễn biến mât đô nhên gié hai lúa vu mùa 2011 tai Vĩnh Phúc
s • • • s • • •
Giai đoạn sinh trưởng Mật độ nhện gié (con/dảnh)
KD18 Nêp N97 BT 7 HT 1
Đẻ nhánh (13/7) 0 0 0 0
Đẻ nhánh (20/7) 0 0 0 0
Đẻ nhánh (27/7) 0,2±1,5 0,3±1,7 0,1±0,7 0,6±2,5
Làm đòng (3/8) 0,8±4,2 1,9±6,3 0,5±2,3 2,1±6,7
Làm đòng (10/8) 4,2±14,8 4,7±13,7 1,8±6,8 5,3±14,5
Làm đòng (17/8) 9,8±30,3 12,6±29,2 3,8±11,2 14,7±31,4
Đòng -Trô (24/8) 18,1±40,5 20,4±38,6 6,6±15,2 22,1±37,5
Trỗ (31/8) 38,9±68,1 43,6±66,2 17,4±39,4 46,3±62,0
Chín sữa (7/9) 51,2±76,9 54,8±77,2 26,3±45,2 56,7±68,9
Chín sữa (14/9) 36,3±51,1 39,4±51,6 21,7±39,0 41,2±47,4
Chín sáp (21/9) 12,5±16,8 17,6±24,8 8,3±17,1 19,5±25,3
Chín hoàn toàn (28/9) 3,7±5,0 4,1±4,8 2,4±3,3 4,7±5,3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status