Khóa luận tốt nghiệp Phát triển chăn nuôi và bảo tồn giống gà nhiều cựa ở xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN oOo
PHẠM THỊ VÂN
PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI VÀ BẢO TỒN
GIỐNG GÀ NHIỀU CựA Ở XÃ XUÂN SƠN,
HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • •
Chuyên ngành: Kỹ thuật nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học
ThS. VŨ THỊ THƯƠNG
HÀ NỘI - 2013
PHÀN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu hướng phát triển của nền kinh tế, ngành nông nghiệp nói chung và
ngành chăn nuôi nói riêng đã phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của các giống cao
sản. Tuy nhiên cùng với đó là sự mất đi nguồn gen bản địa với các giống có khả
năng thích nghi cao và mang nét văn hóa của từng vùng miền.
Theo báo cáo của FAO - 1993, có ít nhất 40-45% tất cả các nguồn di truyền
động vật toàn cầu bao gồm khoảng 3.800 giống trong 40 loài đang có nguy cơ bị
tuyệt chủng và khoảng 70% trong số đó lại nằm ở các nước đang phát triển.
Việt Nam vốn có nguồn gen bản địa rất phong phú với các giống gà như:
Hồ, Mía, Đông Tảo, Ri ; các giống lợn như: ỉ, Móng Cái và còn rất nhiều giống
quý khác như sếu đầu đỏ, hươu sao nhưng cũng không nằm ngoài danh sách các quốc gia có
nguồn gen bản địa cần được bảo vệ tránh khỏi nguy cơ tuyệt chủng.
Để bảo tồn sự đa dạng sinh học của nguồn gen bản địa, từ những năm 1990 Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn cùng với Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường đã có nhiều đề tài về
nghiên cứu bảo tồn gen một số giống gà nội theo phương pháp in-situ, nuôi giữ trong nông hộ với
quần thể nhỏ, theo dõi các đặc điểm ngoại hình, tính năng sản xuất của chúng.
Ngày 1-2-2012, Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn có Thông tư số 06/2012/TT-
BNNPTNT ban hành “ Danh mục bổ sung nguồn gen vật nuôi quý hiếm cần được bảo tồn” trong đó

1.1.1. Phân loại
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [11] gà thuộc:
Giới (Kingdom): Animal Ngành (Phylum): Chordata Lớp (Class):
Aves Bộ (Orders): Galli formes Họ (Family): Phasianidae Chủng
(Genus): Gallus Loài (Species): Gallus Nòi gà Ri, gà Đông Tảo, gà
Hồ
1.1.2. Nguồn gốc và phân bổ gà nhà
Theo tác giả Đặng Hữu Lanh và cộng sự (1999) [5], gà nhà ngày nay có nguồn gốc từ gà
rừng gallusgallus bao gồm 3 loại kiểu hình sau:
- Kiểu Bankiva: nhiều lông, dán vào mình, ức nở, mào và dái tai lớn, mỏ cong dài và nhọn.
- Kiểu Mã Lai: ít lông, cấu trúc lông cứng, mào và dái tai nhỏ, đầu nhỏ, mắt lõm, mỏ khỏe
ngắn.
- Kiểu Cocbin: nhiều lông, bồng, mào dái tai vừa nhỏ, mào đỏ, mỏ
ngắn.
Gà được thuần hoá đầu tiên ở Đông Nam Á và từ đó phân bố đi khắp thế giới.
Nước ta là một ừong những trung tâm thuần hoá gà đầu tiên của vùng Đông Nam Á, đản gà
được nuôi sớm nhất ở vùng Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Tây cách đây chừng hơn 3.000 năm. Từ những
giống gà nuôi ban đầu là tiền thân của gà Ri hiện nay, trải qua hàng ngàn năm nhân dân ta đã tạo ra
các giống gà: gà Hồ, gà Đông Tảo, gà Mía, gà Chọi
1.2. Các tính trạng ngoại hình của gia cầm
Theo Đặng Hữu Lanh (1999) [5], màu sắc da, lông là mã hiệu của giống, là tín hiệu để nhận
dạng giống.
- Bộ lông:
Màu sắc lông da là một chỉ tiêu chọn lọc con giống, thông thường màu sắc lông đồng nhất là
giống thuần, màu không đồng nhất là giống không thuần đã bị pha tạp (tất nhiên không phải giống
nào cũng thế).
Màu sắc lông gia cầm do sắc tố melanin và xantophin. Melanin có ở da và gốc lông không
phụ thuộc vào lứa tuổi. Xantophin chỉ nằm ở da và từ thức ăn đưa vào.
Sắc tố lông được cố định ngay từ lúc còn trong bào thai do thể nhiễm sắc của tùng tế bào hay
từng mảng da có thể do nhũng biến dị soma.

trứng, tuổi thành thục sinh dục.
1.3.1. Tuổi thành thục sinh dục
Tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham gia quá
trình sinh sản. Đối với cá thể là tuổi đẻ quả trứng đầu tiên, còn đối với đàn gà thì tuổi đẻ quả trứng
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Văn-K35D 4
đầu tiên là thời điểm tỷ lệ đẻ đạt 5% so với toàn đàn.
Tuổi bắt đầu đẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch. Những gia cầm tầm vóc bé, khối
lượng cơ thể nhỏ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn gia cầm có khối lượng cơ thể to hơn. Tuổi
thành thục sinh dục chịu sự ảnh hưởng của ngày, tháng nở của gà con, nói đúng hơn là độ dài ngắn
của ngày chiếu sáng, khoảng thời gian chiếu sáng tự nhiên hay nhân tạo cũng như khối lượng cơ
thể.
1.3.2. Năng suất trứng và tỷ lệ đẻ
Năng suất trứng hay sản lượng trứng là số lượng trúng đẻ ra trong một thời gian nhất định.
Năng suất trứng là một tính trạng di truyền, phản ánh chất lượng giống và phụ thuộc nhiều vào điều
kiện ngoại cảnh. Sản lượng trứng của gà giảm dần theo tuổi, thường thì sản lượng năm thứ hai giảm
15 - 20% so với năm thứ nhất (Nguyễn Thị Mai và cộng sự, 2009) [8].
Việc sản xuất trứng do các yếu tố quyết định là: thời gian kéo dài sự đẻ trứng, cường độ đẻ
trứng, thời gian nghỉ đẻ mùa đông, tuổi thành thục và bản năng đòi ấp.
• Thòi gian đẻ:
Thời gian đẻ ảnh hưởng rõ rệt đến sức sản xuất trứng. Thời gian đẻ được tính theo thời gian
đẻ trứng của năm đầu, nghĩa là từ khi bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên đến khi thay lông hoàn toàn.
Thời gian đẻ chịu ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng. Do đó để kéo dài thời gian đẻ có thể
sử dụng ánh sáng nhân tạo.
• Cường độ đẻ trứng:
Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong thời gian ngắn, có lien quan chặt chẽ đến sức đẻ
trứng trong cả năm của gia cầm. cường độ đẻ trứng mang đặc điểm của từng giống và đặc trưng
riêng cho từng cá thể gà mái và cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như chế độ nuôi dưỡng,
phương thức chăn nuôi. Theo Nguyễn Văn Thạch (1996) [10], gà Ri nuôi bán thâm canh có tỷ lệ đẻ
cao hơn so với gà Ri nuôi chăn thả (39,43% so với 31,45%). Chu kỳ đẻ trứng là sản lượng trứng đẻ

Khối lượng trứng có mối tương quan nghịch với năng suất và tương quan thuận với tuổi thảnh thục
sinh dục và khối lượng cơ thể. Khối lượng trứng phụ thuộc vào: loài, giống, tuổi đẻ, tuổi thành thục
sinh dục, khối lượng gà lúc bắt đầu đẻ, chỉ số hình thái trứng Ngoài ra khối lượng trứng còn phụ
thuộc vào mùa vụ, thức ăn, hoạt động của tuyến giáp và các loại thuốc dùng để chữa bệnh.
Khối lượng trứng của các giống gà nước ngoài từ 55 - 60g. Đối với gà nội khoảng 40 - 50g là
phù hợp với sinh lý và bản năng ấp của gà.
1.3.3.3. Màu sắc và chất lượng vỏ trứng
Trứng gà thường có màu nâu và trắng (riêng gà Araukan - Nam Mỹ trứng có màu xanh).
Màu vỏ trứng đậm nhất vào mùa thu và đầu mùa đông (nguyên nhân do trứng đẻ ra nhiều làm giảm
sự tích luỹ sắc tố của tế bào).
Độ dày và độ bền (hay độ chịu lực) của vỏ trứng là những chỉ tiêu quan trọng đối với trứng
gia cầm, có ảnh hưởng đến kết quả ấp nở và vận chuyển. Độ dày vỏ trứng được xác định bằng
thước đo độ dày khi đã bóc vỏ dai.
Độ dày và độ bền của vỏ trứng phụ thuộc vào giống, tuổi, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng.
Độ dày vỏ trứng được xác định bằng thước đo độ dày khi đã bóc vỏ dai. Trứng gà Mía ở 38 tuần
tuổi có độ dày trung bình 0,36mm và độ chịu lực 2,88 kg/cm
2
. Trứng gà Lương Phượng Hoa ở 38
tuần có độ dày vỏ trung bình 0,35mm và độ chịu lực 4,46 kg/cm
2
.
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Văn-K35D 6
Độ dày vỏ trứng biến động 0,311 - 0,588 mm.
Vỏ trứng bình thường xốp và soi không có vết.
1.3.3.4. Khả năng thụ tinh, tỷ lệ ấp nở
• Khả năng thụ tinh
Khả năng thụ tinh được đánh giá qua tỷ lệ trứng có phôi. Sự thụ tinh là quá trình tinh trùng
kết họp với tế bào trứng tạo thành 1 hợp tử. Khả năng thụ tinh là một chỉ tiêu để đánh giá sức sinh
sản của đời bố mẹ. Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào trạng thái dinh dưỡng, sự chênh lệch về khối lượng

Sinh trưởng là sự tăng kích thước và khối lượng của sinh vật đang ở giai đoạn lớn lên. Trong
hai chỉ tiêu tăng kích thước và tăng khối lượng, chỉ tiêu tăng kích thước là đáng tin cậy hơn vì khối
lượng sinh vật có thể tạm thời biến động tuỳ theo chế độ dinh dưỡng.
Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao,
chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở di truyền của đời
trước. Sự sinh trưởng chính là quá trình tích lũy dần dần các chất mà chủ yếu là protein, nên tốc độ
tích lũy của các chất cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ
thể.
Phát triển là sự biến đổi không những về đặc điểm hình thái mà cả chức năng sinh lý theo
từng giai đoạn của cuộc đời sinh vật.
Sinh trưởng và phát triển luôn gắn liền với nhau, bổ sung cho nhau để sinh vật lớn lên và
trưởng thành. Sinh trưởng là điều kiện của phát triển và phát triển làm thay đổi sự sinh trưởng.
Ở gà, căn cứ vào sự sinh trưởng của các cá thể con, người ta có thể phân biệt các giai đoạn
phát triển như sau: giai đoạn phát triển của phôi trong trứng trước khi đẻ, giai đoạn phát triển của
phôi trong trứng sau khi đẻ, giai đoạn trứng nở thành con (sơ sinh) đến khi thành thục sinh dục, giai
đoạn sinh sản. Mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm hình thái, sinh lý đặc trưng.
1.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá độ sinh trưởng
• Tốc độ mọc lông:
Quá trình thay đổi bộ lông sơ sinh để mọc lông mới đầu tiên trong một thời gian nhất định
của một giống, trải qua nhiều giai đoạn nhanh, chậm khác nhau gọi là tốc độ mọc lông.
Tốc độ mọc lông là một tính trạng di truyền có liên quan đến đặc điểm trao đổi chất, sinh
trưởng phát triển của gia cầm, là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục. Gia cầm có tốc độ mọc
lông nhanh, sự thành thục về thể trọng sớm, chất lượng thịt tốt, khả năng kháng bệnh cao hơn gia
cầm có tốc độ mọc lông chậm. Song dù có tốc độ mọc lông chậm thì từ 8 -12 tuần tuổi gà cũng mọc
lông đủ. Tốc độ mọc lông của gia cầm phụ thuộc vào giống, cá thể, giới tính và điều kiện chăm sóc.
• Kích thước các chiều đo:
Kích thước cơ thể là một biểu hiện cho sinh trưởng, đặc trưng cho quá trình sinh trưởng và
đặc trưng cho giống, qua đó phân biệt giống, dòng. Kích thước cơ thể luôn có mối tương quan với
khối lượng cơ thể qua đó có thể đánh giá sự sinh trưởng và áp dụng cho chọn giống.
• Khối lượng C thể:

lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700g (từ 15 - 30%).
Theo Hoàng Phanh (1996) [9], khối lượng gà Mía lúc 12 tuần tuổi là 1503g. Còn kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Huy Đạt và cộng sự (2005) [3] trên gà Đông Tảo giai đoạn 12 tuần tuổi là
1404,7g.
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Văn-K35D 9
+ Ảnh hưởng của tính biệt
Giới tính khác nhau thì đặc điểm và chức năng sinh lý cũng khác nhau nên khả năng đồng
hoá, dị hoá và quá trình trao đổi chất dinh dưỡng của chúng là khác nhau. Thường con trống có
cường độ sinh trưởng lớn hơn so với con mái.
Gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái, các tác giả cho rằng sự sai khác này do
gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống hoạt động mạnh hơn gà mái. Lúc mới nở gà trống
nặng hơn gà mái và tuổi càng tăng thì sự khác nhau càng lớn.
+ Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1995) [11], khẳng định
thức ăn và dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng của gia cầm. Hàm lượng các axit
amin là rất quan trọng, đặc biệt nếu thiếu Methionin trong khẩu phần sẽ có hại cho sinh trưởng và
hiệu số chuyển hóa thức ăn.
+ Ảnh hưởng của các yểu tổ môi trường.
Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng của gia cầm như: Nhiệt độ, độ
ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng Trong đó nhiệt độ và ẩm độ là hai yếu tố luôn thay đổi theo mùa
vụ và có ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm.
Nhiều nghiên cứu cho rằng khi nhiệt độ môi trường lên cao trên 36 - 37°c sẽ gây stress nhiệt,
làm giảm quá trình trao đổi chất và hoạt động của cơ thể, từ đó giảm lượng thức ăn tiêu thụ và
giảm tốc độ sinh trưởng. Do vậy, cần phải đảm bảo điều kiện chuồng nuôi có độ thông thoáng tốt,
cung cấp đủ ôxy, đồng thời có mật độ nuôi cũng như chế độ chiếu sáng thích họp để tăng hiệu quả
chăn nuôi.
Trong chăn nuôi gia cầm cần phải chú ý đến yếu tố ánh sáng, vì gia cầm là loài rất nhạy cảm
với ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn gà con và giai đoạn gà đẻ. Nếu thời gian và cường độ chiếu sáng
phù họp thì thuận lợi cho hoạt động ăn, uống từ đó ảnh hưởng tốt tới khả năng sinh trưởng.

trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP). Bên cạnh đó nhiều khu bảo tồn quy mô
lớn đã được thiết lập ở nhiều khu vực sinh thái khác nhau, tại nhiều quốc gia khắp
các châu lục, Hiệp định về cấm buôn bán các loài thú quý hiếm đã được ký kết và
thi hành có hiệu quả. Sách đỏ (Red book) đã được Uỷ ban về các loài thú sống sót
(Species Suvival Commission của IUCN) xuất bản. Nhờ đó nhiều loài thú bị đe
doạ tuyệt chủng đã được bảo hộ, nhiều loài biến mất trong hoang dã đã được khôi
phục và đưa trở lại môi trường sống của chúng.
Nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ ra đời ở các nước, các khu vực
dẫn đến sự ra đời của Tổ chức Quốc tế về các giống qúy hiếm (RBI). Các hội thảo
Quốc tế về bảo tồn giống động vật được tổ chức tại nhiều nơi trên thế giới thống
nhất chương trình hành động và đặt ra các mục tiêu, nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen
động vật trên bình diện toàn cầu. Có hai phương thức bảo tồn nguồn gen vật nuôi
đó là bảo tồn in-situ và bảo tồn ex-situ.
• Bảo tồn in-situ
Là bảo tồn tại chỗ: là hình thức bảo tồn vật nuôi ngay trong môi trường mà
nó sinh ra và lớn lên, là hình thức bảo tôn đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái
vận động tiến hoá của nơi cư trú nguyên thuỷ hoặc môi trường tự nhiên.
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân - K35D 12
• Bảo tồn ex-situ
Là hình thức duy trì quần thể nhỏ, được quản lý chặt chẽ ở ngoài môi trường
tự nhiên của nó bằng phương pháp nhân tạo hay bán nhân tạo. Bảo tồn ex-situ bao
gồm:
- Bảo tồn trong phòng thí nghiệm.
- Bảo tồn lạnh vật chất di truyền: Tinh trùng, phôi, AND, tế bào hoặc trứng.
1.6.2. Tĩnh hình bảo tồn nguồn gen vật nuôi trong nước
Việt Nam là một trong số ít nước phong phú về giống vật nuôi nội địa. Đặc
điểm nổi bật của các giống này là khả năng chống bệnh cao, khả năng sử dụng thức
ăn nghèo dinh dưõng tốt, thịt thơm ngon, thích nghi với điều kiện sinh thái từng
vùng.

55 g/quả.
Gà trống có màu lông đỏ sẫm xen lông đen, hai hàng lông cánh chính xanh
biếc, gà trống đạt 3,0 - 3,5 kg.
• Gà Hồ: Có nguồn gốc từ tỉnh Bắc Ninh. Cả gà trống và gà mái đều có mào
xuýt, mào nụ, gà to cao trường, chân cao. Tuổi thành thục muộn ( 7-8
tháng).
Gà mái có mã thó (màu đất thó, màu trắng), mã sẻ (màu chim sẻ). Khối
lượng gà mái 3 - 3,5 kg. Sức đẻ trứng 40-50 quả/mái/năm, khối lượng trứng 51
g/quả.
Gà trống có mã lĩnh (màu đen), mã mận (màu mận chín). Khối lượng gà
trống 3,5 - 4 kg.
• Gà Đông Tảo: Có nguồn gốc từ tỉnh Hưng Yên. Gà có dáng to, thô, đùi và
ống chân rất to, ngón chân múp míp, chân có vảy thịt, mào kép, mào nụ, da
màu vàng.
Gà mái trưởng thành có lông màu vàng nhạt hoặc màu nâu nhạt, khối lượng
giai đoạn trưởng thành của gà mái là 3 - 3,5 kg. Sản lượng trứng 60 - 70
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Văn-K35D 14
quả/mái/năm
Gà trống hầu hết có màu lông mận chín pha lẫn lông đen, đỉnh đuôi và cánh
có màu lông đen ánh xanh. Khối lượng giai đoạn trưởng thành gà trống là 3,5 - 4
kg.
• Gà Ác Việt Nam; Gà được thuần dưỡng và phát triển đầu tiên ở các tỉnh
Trà Vinh, Long An, Kiên Giang Hiện nay, đã được di thực ra miền Trung
và miền Bắc. Gà Ác thường được sử dụng như một vị thuốc bổ (hầm với
thuốc bắc).
Đây là một giống gà có tầm vóc nhỏ bé, thịt và xương màu đen, lông trắng
tuyền xù như bông, mỏ chân cũng màu đen, mào cờ phát triển, chân có 5 ngón
(ngũ trảo), có lông.
Kết quả nghiên cứu của một số tác giả về tỷ lệ nuôi

Xã Xuân Sơn phía đông giáp xã Xuân Đài, phía tây giáp Phù Yên Sơn La - tỉnh
Sơn La và huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình, phía bắc giáp xã Đồng Sơn Lai Đồng và
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân - K35D 16
Tân Sơn - huyện Tân Sơn, phía nam giáp xã Kim Thượng - huyện Tân Sơn. Tổng
diện tích tự nhiên là 65,48 km
2
.
Nhiệt độ trung bình năm biến động từ 22°C-23°C. Mùa lạnh từ tháng 11 đến
tháng 3 năm sau, ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ trong các tháng này
xuống dưới 20°c, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là tháng 1. Mùa nóng do ảnh
hưởng của gió mùa Đông Nam nên thời tiết luôn nóng ẩm mưa nhiều. Nhiệt độ
trung bình trên 25°c, nóng nhất vào tháng 6 và 7[15].
3.1.2. Tình hình phát triển kinh tế, xã hội
Trên địa bàn xã có tổng số: 274 hộ với 1095 nhân khẩu, có 4 khu hành
chính là: xóm Lạng, xóm Dù, xóm cỏi, xóm Lấp. Đồng bào dân tộc Dao chiếm
50,3%, Mường 49,3%, dân tộc Nùng: 0,4% dân số (2012).
Người dân chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, phong tục tập quán lạc hậu,
nhận thức còn hạn chế, khó tiếp thu, vận dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất trồng trọt, chăn nuôi. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn xã chủ
yếu là chăn thả tự nhiên, đàn gia súc phần lớn là thả dông cho nên việc chăm sóc
phòng dịch bệnh chưa được kịp thời.
Bên cạnh đó thời tiết khí hậu những năm vừa qua diễn biến phức tạp, hệ
thống thủy lợi kém phát triển, thiếu nước tưới tiêu gây khó khăn cho hoạt động
canh tác cây trồng của người dân. Tất cả những yếu tố này ảnh hưởng không nhỏ
đến phát triển kinh tế ở xã.
Trên địa bàn xã có vườn Quốc gia Xuân Sơn, hang Lạng là những danh lam
nổi tiếng thu hút khách du lịch, tuy nhiên chính quyền và người dân nơi đây chưa
khai thác tốt thế mạnh này để tăng thêm thu nhập, chỉ là những dịch vụ nhỏ, lẻ, tự
phát, không chuyên nghiệp.

Màu lông đa
dạng: Nâu, sọc
dưa, vàng nhạt
Bộ lông sặc sỡ
nhiêu màu: hoa mơ
pha tím sẫm và hoa
mơ đen thẫm, đen
đỏ, mận chín.
Vàng nhạt, vàng
trắng, vàng rơm,
vàng nâu đen,
trắng, màu pha
trộn.
Mào, mỏ
Mào cờ, đỏ tươi,
mào có 6-7 khía.
Mỏ có màu vàng
đậm, vàng nhạt.
Mào cờ, đỏ. Mỏ
cong màu vàng
đậm, vàng nhạt.
Chân
Chân thâp, có
nhiều cựa, mỗi
bên chân mọc từ
2 đến 3 cựa.
Chân tìiâp, có nhiêu
cựa (thường là 6,7,8
cựa; 9 cựa rất hiếm)
Chân thâp có nhiêu

400
350
1500
1200
3800
2300
K.lượng trưởng thành (gr)
- Gà trống
- Gà mái
1960
1510
1000
700
2100
1800
4400
2700
Sản lượng trứng bình quăn
(quả)
70-75 40-
50
80-100 40-
50
Số lứa đẻ (lứa) 4,5-5 3-4 5-6 4,23
So sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của giống gà nhiều cựa với một số
giống gà nội chúng tôi nhận thấy:
- Khối lượng trưởng thành của gà nhiều cựa (gà mái: 1510 gr; trống: 1960
gr) lớn hơn so với giống gà tre (gà mái: 600-700 gr; trống: 800-1.000 gr);
gần tương đương với giống gà ri (gà mái: 1200-1800 gr; gà trống: 1500-
2100 gr); nhưng lại nhỏ hơn so với Gà Hồ (gà mái: 2700 gr; trống: 4400

- Trước kia khi giá trị của giống gà nhiều cựa chưa được nhiều người biết
đến người dân địa phương chỉ nuôi để cải thiện bữa ăn trong gia đình số
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân - K35D 21
lượng đàn gà thay đổi không nhiều.
- Sau này khi có những nhà khoa học, du khách lên nghiên cứu, tham quan
học tập tại vườn quốc gia Xuân Sơn phát hiện giống gà quý của địa
phương đã viết bài giới thiệu và nhiều người biết đến. Nhiều người đã đến
tìm mua với giá cao, lượng tiêu thụ tăng mạnh. Trong khi đó người dân
vẫn chỉ chăn nuôi tự nhiên, không nắm được kỹ thuật chăm sóc và phòng
bệnh. Ket quả đàn gà sụt giảm nghiêm trọng về số lượng trong giai đoạn
2007-2009.
- Trước diễn biến như vậy với mục đích bảo tồn quỹ gen đồng thời phát triển
chăn nuôi giống gà quý, tăng thu nhập của người dân đã có một số dự án
được thực hiện tại địa phương. Năm 2008 Viện chăn nuôi đã xây dựng mô
hình “chăn nuôi bảo tồn gà nhiều cựa” ở các xóm thuộc xã Xuân Sơn,
huyện Tân Sơn, Phú Thọ với sự hỗ trợ của tổ chức DANIDA (Đan Mạch);
năm 2010 dự án “Phát triển nuôi gà nhiều cựa quy mô hộ gia đình để xóa
đói giảm nghèo”, với chủ đầu tư là UBND huyện Tân Sơn đã được triển
khai ở các xã Xuân Sơn, Xuân Đài, Kim Thượng. Nhờ sự hỗ trợ về vốn
đầu tư, kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng của các dự án mà giai đoạn 2010-
2012 có sự gia tăng nhanh chóng về số lượng giống gà nhiều cựa ở địa
phương.
Chúng tôi cũng điều tra cơ cấu đàn gà nhiều cựa trên địa bàn huyện trong
năm 2012. Kết quả thể hiện ở bảng 4.
Bảng 4: Cơ cẩu đàn gà nhiều cựa huyện Tân Sơn năm 2012 [14]
Cơ cấu đàn gà nhiều cựa Số lượng (con)
Mái sinh sản 350
Gà trông 50
Gà giống hậu bị 750

lượng hộ tham gia dự án đông nhất của huyện
Tân Sơn. Số lượng gà nhiều cựa phân bố ở hai xóm này chiếm tỷ lệ cao nhất:
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân - K35D 23
Xóm Dù: 31,30%; Xóm cỏi: 28,47%.
3.3.2. Quy mô chăn nuôi gà nhiều cựa ở các hộ tại xã Xuân Sơn
Chúng tôi cũng đã tìm hiểu về quy mô chăn nuôi gà nhiều cựa ở các xóm
thuộc xã Xuân Sơn. Kết quả thể hiện ở bảng 6.
Bảng 6. Quy mô chăn nuôi gà nhiều cựa ở xã Xuân Sơn
Xóm
Chỉtìeíì\^
Dù + Cỏi
(n=30)
Lấp + Lạng
(n=36)
Quy mô
đàn
(con/hộ)
<1
5
15-
<50
50-
100
>
100
<15 15-
<50
50-
100

Nguồn gốc giống gần giống như gà rừng vì bản cỏi của người Dao nằm lọt thỏm
trong vòng vây của rừng già, núi cao và vực sâu.
Xuân Sơn là xã vùng sâu vùng xa đặc biệt khó khăn của huyện Tân Sơn,
dân cư thường sống rải rác không tập trung. Đời sống còn gặp nhiều khó khăn, vì
thế ảnh hưởng không nhỏ đến tập quán chăn nuôi của bà con. Chăn nuôi gà nhiều
cựa tại xã Xuân Sơn chủ yếu là phương thức chăn nuôi chăn thả tự nhiên (quảng
canh).
Chăn thả tự nhiên là hình thức chăn nuôi dựa vào nguồn thức ăn sẵn có,
hiệu quả chăn nuôi phụ thuộc rất lớn vào điều kiện khí hậu thời tiết. Bà con nuôi
theo hình thức tận dụng, ít chú trọng đến việc chăm sóc phòng bệnh. Do đó, ảnh
hưởng rất lớn đến sự phát triển đàn.
Gà được thả vào rừng từ sáng đến tối thì tự động về chuồng không phải bắt
nhốt. Thỉnh thoảng người dân cho ăn thêm ngô, thóc. Người dân ở đây ít chú trọng
đến thiết kế chuồng trại cho gà, chuồng nuôi được làm thô sơ, tạm bợ bằng các vật
liệu sẵn có của địa phương như: tranh, tre, nứa, lá cọ Ở một số gia đình còn
không có chuồng gà, gà thả tự nhiên ngủ dưới gầm nhà sàn, đậu trên cây hoặc ở
chung chuồng với gia súc khác (hình 2).
Vì gà nhiều cựa sinh trưởng chậm, sản lượng ít nên nhiều gia đình đã
chuyển sang nuôi các giống gà khác năng suất cao hơn. Giống gà này đứng trước
nguy cơ tuyệt chủng.
3.4.2. Mô hình phát triển chăn nuôi, bảo tồn giống gà nhiều cựa
- Nhằm bảo tồn loài gà nhiều cựa quý hiếm, tổ chức DANIDA (Đan Mạch)
phối họp cùng Viện chăn nuôi đã hỗ trợ xây dựng mô hình “chăn nuôi gà
nhiều cựa” ở xóm Dù và xóm cỏi, xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, Phú Thọ.
Dự án triển khai từ năm 2008 với 3 mô hình được thực hiện ở 2 gia đình
xóm Dù và một gia đình ở xóm cỏi. Tham gia dự án, mỗi gia đình được hỗ trợ làm
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Vân - K35D 25

Trích đoạn Vệ sinh phòng bệnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status