Khóa luận tốt nghiệp Vận dụng phương pháp dạy học tích cực Đặt và giải quyết vấn đề trogn dạy học Sinh học 11 - Pdf 28

LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại khoa Sinh - KTNN, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn khoa học: ThS. An
Biền Thùy đã tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Phương pháp
giảng dạy Sinh học, cùng các thầy cô của khoa Sinh - KTNN, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2 đã động viên, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn BGH trường THPT Tây Tiền Hải đã tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn.
Đề tài này chỉ nghiên cứu trong phạm vi nhỏ và thời gian có hạn nên không
tránh khỏi thiếu sót. Kính mong được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thày cô
giáo, các bạn sinh viên để vấn đề nêu trong khóa luận được đầy đủ và hoàn thiện
hơn.
Tôi xỉn chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 5 năm 2013 Sinh viên
Phan Thị Hồng
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh
SVTH: PHAN THỊ HÒNG 1 GVHD: TH.S AN BIÊN THỦY
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của đề tài đảm bảo tính chính xác,
khách quan, trung thực, không trùng lặp YỚi bất kì đề tài nào.
Nấu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2013 Sinh viền
Phan Thị Hồng
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Đọc là
BGH Ban giám hiệu
CTC Chương trình chuẩn
Đ & GQVĐ Đặt và giải quyết vấn đề
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

học ở các cấp học, bậc học. Áp dụng phương pháp giáo dục
hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo,
năng lực giải quyết vẩn đề”. Tiếp đó dạy - học theo phương pháp tích
cực tiếp tục được quan tâm ở Nghị quyết Hội nghị làn thứ 2 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khoá VIII: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo
dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện
thành nề nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp
dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào
quá trình dạy học đảm bảo điều kiện và thời gian tự học
Tuy vậy, ở các trường THPT hiện nay sự chuyển biến về thay đổi các
PPDH, đặc biệt là các PPDHTC còn khá chậm chạp YỚi hình thức dạy học chủ
yếu là thầy đọc - trò chép, GV chủ yếu dùng pp thuyết trình - giảng giải xen kẽ
với vấn đáp - tái hiện, biểu diễn phương tiện trực quan - minh hoạ. Ngược lại,
cũng có những GV vận dụng thành công những biện pháp tích cực phát huy được
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh
SVTH: PHAN THỊ HÒNG 4 GVHD: TH.S AN BIÊN THỦY
năng lực tư duy độc lập sáng tạo, năng lực trí tuệ của học sinh, trong đó có dạy
học “Đ & GQVĐ” nhưng chủ yếu là trong các tiết thao giảng, các giờ dạy thi GV
dạy giỏi.
PPDH “Đ & GQVĐ” không phải là một PPDH mới nhưng qua quan sát
cho thấy hầu hết các GV chưa vận dụng thành thạo. Một số ít GV vận dụng ở
mức độ thấp do chưa nắm vững pp còn lúng túng khi vận dụng hoặc do lo sợ
thiếu thời gian và không đủ phương tiện dạy học hiện đại hỗ trợ do vậy chưa phát
huy hiệu quả của PPDH này.
Chương trình SH lớp 11 hiện nay mang tính trừu tượng khá cao chủ yếu là
kiến thức quá trình sinh lí do đó GV phải hướng dẫn HS lĩnh hội và tư duy trừu
tượng bằng việc Đ & GQVĐ mới hiểu sâu sắc được kiến thức.
Với mong muốn giúp cho GV và HS có phương pháp giảng dạy và học tập
tốt hơn trong bộ môn SH lớp 11 (CTC) góp phần phát triển các PPDHTC và
“phát triển trí lực học sinh trong quá trình học tập ” phù hợp với

Bộ GD & ĐT trong đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực.
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh
SVTH: PHAN THỊ HÒNG 6 GVHD: TH.S AN BIÊN THỦY
- Nghiên cứu các tài liệu chuyên môn làm cơ sở lí thuyết cho đề tài.
6.2. Điều tra quan sát sư phạm
- Điều tra thực trạng dạy - học môn SH, thực trạng vận dụng PPDHTC
“Đ&GQVĐ” ở một số trường THPT qua phiếu điều tra.
- Điều tra việc áp dụng PPDHTC “Đ & GQVĐ” của GV thông qua giáo án,
quan sát giờ học.
7. Những đóng góp của đề tài
7.1. Hệ thống hóa cơ sở lí luận về PPDHTC “Đ & GQVĐ” trong dạy học
môn SH.
7.2. Điều tra về thực trạng sử dụng PPDHTC “Đ & GQVĐ” trong dạy học
SH 11 THPT.
7.3. Xác định các nội dung trong SH 11 có thể áp dụng PPDHTC “Đ &
GQVĐ”.
7.4. Thiết kế được một số giáo án cho dạy học SH 11 có sử dụng PPDHTC
“Đ & GQVĐ”.
NÔIDUNG
CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÝ LUÂN VÀ THƯC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
• •
1.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.1.1. Ngoài nước
Thuật ngữ “Dạy học nêu vấn đề” xuất phát từ thuật ngữ “Orixtic” hay còn
gọi là pp phát kiến, tìm tòi. pp này còn có tên gọi là “Đ & GQVĐ”. pp này đã
được nhiều nhà khoa học nghiên cứu như A. Ja Ghecđơ, B. E Raicôp, vào
những năm 70 của thế kỉ XIX. Các nhà khoa học này đã nêu lên phương án tìm
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh
SVTH: PHAN THỊ HÒNG 7 GVHD: TH.S AN BIÊN THỦY
tòi, phát kiến trong dạy học nhằm hình thành năng lực nhận thức của HS bằng

Qua một thời gian khảo sát chúng tôi thấy việc nghiên cứu, vận dụng
PPDHTC “Đ & GQVĐ” đã được nhiều người quan tâm nhưng việc vận dụng vào
giảng dạy ở mọi cấp học, môn học vẫn chưa được đồng đều và đồng bộ.
Trong lí luận dạy học ở các môn học khác nhau được dùng với các thuật
ngữ khác nhau như: Nêu vấn đề, giải quyết vấn đề, nêu và giải quyết vấn đề, đặt
và giải quyết vấn đề, phát hiện và giải quyết vấn đề Tuy thuật ngữ có khác nhau
đôi chút nhưng đặc điểm của pp là đặt và giải quyết được Yấn đề và kết luận vấn
đề để rút ra kiến thức cần lĩnh hội hoặc áp dụng kiến thức vào thực tiễn.
Trong dạy học SH, đã xuất hiện một số GV nghiên cứu, vận dụng vào
giảng dạy như ở THCS có cô giáo Võ Thị Liễu - Trường THCS Mỹ Thủy đã đưa
ra sáng kiến kinh nghiệm “Sử dụng dạy học giải quyết vấn đề để dạy học các quy
luật di truyền của Men Đen”.
Ở trường THPT việc vận dụng pp “Đ & GQVĐ” vào giảng dạy bộ môn
SH vẫn còn hạn chế, đặc biệt là các bài có kiến thức trừu tượng như SH 11
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh
SVTH: PHAN THỊ HÒNG 9 GVHD: TH.S AN BIÊN THỦY
chưa có thầy cô nào vận dụng. Vì vậy việc vận dụng PPDHTC “Đ & GQVĐ” vào
chương trình SH 11 là một trong những hướng mới mẻ trong quá trình đổi mới
PPDH, nâng cao chất lượng dạy - học môn SH ở trường THPT.
1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1. Cơ sở triết học, tâm lí, giáo dục của dạy học “đặt và giải quyết vẩn
để”
Theo Nguyễn Bá Kim (Phương pháp dạy học đại cương môn Toán)
phương pháp “Đ & GQVĐ” dựa trên các cơ sở sau:
1.2.1.1. Cơ sở triết hoc
Theo triết học duy vật biện chứng “Mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của
sự phát triển”. Trong quá trình học tập của HS luôn luôn xuất hiện mâu thuẫn đó
là mâu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ nhận thức với tri thức, kinh nghiệm sẵn có
của bản thân là động lực thúc đẩy ở HS. Dựa vào đó, trong quá trình dạy học GV
tạo ra cho HS những tình huống có Yấn đề (tức là tạo mâu thuẫn) đó chính là cơ

Nếu câu hỏi trên đưa ra cho HS lớp dưới, khi chưa được học về động vật
thì quá xa lạ và do đó các em sẽ rơi vào tình trạng “Vịt nghe sấm”.
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh
SVTH: PHAN THỊ HÒNG 11 GVHD: TH.S AN BIÊN THỦY
Trong lí luận nhận thức, vấn đề như là một phạm trù lôgic biện chứng, như
là sự hiểu biết về cái chưa biết, như là sự biến dạng của câu hỏi mà câu trả lời cho
nó không có sẵn trong tri thức đã có. vấn đề quy định hoạt động nghiên cứu, tìm
tòi để phát hiện tri thức mới hay áp dụng tri thức đã biết vào tình huống mới. vấn
đề chứa đựng trong tình huống có vấn đề, khi HS đã ý thức được sẽ phát triển
thành câu hỏi có vấn đề. Câu hỏi có vấn đề là một thu hoạch của HS nhờ quá
trình tư duy tích cực phân tích tình huống xảy ra.
Như vậy, vấn đề là một câu hỏi cuả chủ thể nhận thức nảy sinh trong tình
huống vốn hiểu biết cuả bản thân chưa đủ để giải thích, nhận thức các hiện tượng,
sự vật khách quan.
*Tình huống có vẩn đề
Theo M.I Macmutôp: “Tình huống có vấn đề là sự trở ngại về trí tuệ
cuả con người, xuất hiện khi người đó chưa biết cách giảithích hiện tượng, sự
kiện của quá trình thực tại, khi chưa thể đạt tới mục đích bằng cách thức hành
động quen thuộc. Tình huống này kích thích con người tìm cách giải thích hay
xuất hiện hành động mới. Tình huống có Yấn đề là quy luật hoạt động nhận thức
một cách sáng tạo, có hiệu quả. Nó tạo ra sự mở đầu của tư duy, hoạt động tư duy
tích cực diễn ra trong quá trình nêu và giải quyết vấn đề”
Như vậy tình huống có vấn đề là một trạng thái tâm lí của chủ thể nhận
thức khi vấp phải một mâu thuẫn, một khó khăn về nhận thức. Mâu thuẫn và khó
khăn đó vượt qua khỏi giới hạn của tri thức Yốn có của chủ thể, bao hàm một
điều gì đó chưa biết, đòi hỏi một sự tìm tòi tích cực, sáng tạo.
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh
SVTH: PHAN THỊ HÒNG 12 GVHD: TH.S AN BIÊN THỦY
Theo Lí luận dạy học Sinh học của tác giả Đinh Quang Báo: Tình huống
có vấn đề được xác định bởi ba đại lượng sau:

quan hô hấp mà vẫn xảy ra quá trình hô hấp?
Như vậy đây là một tình huống có vẩn đề.
* Các điều kiện tạo tình huống có vẩn đề
- Trong tình huống có vấn đề phải vạch ra được điều chưa biết, điều mới trong mối
quan hệ với cái đã biết. Trong đó cái mới phải lọt vào nhu cầu muốn biết (A), tạo
ra tính tự giác tìm tòi của HS. Điều cần nhấn mạnh là khi tạo tình huống, GV
phải cân nhắc tỷ lệ hợp lý giữa cái đã biết và cái chưa biết.
- Tình huống đặt ra phải phù hợp với khả năng của HS. Sự
phù hợp được hiểu theo hai khía cạnh. Một là, cái đã biết chứa đựng trong
đó giúp HS thiết lập được mối quan hệ với cái chưa biết mới tạo điều kiện
cho các em giải quyết. Liều lượng cái đã biết phải vừa đủ thì mới không
quá khó với HS. Hai là, cái đã biết không quá lớn, nếu lớn quá thì trở lên
quá dễ, không kích thích sự tìm tòi của người học. Tóm lại khó quá và dễ
quá đều không kích thích sự tìm tòi. Khó quá sẽ làm cho HS trở thành đàn
“Vịt nghe sấm”, dễ quá làm các em khinh thường, không hứng thú. Việc
xác định liều lượng hợp lí giữa cái đã biết và cái chưa biết đòi hỏi GV phải
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh
SVTH: PHAN THỊ HÒNG 14 GVHD: TH.S AN BIÊN THỦY
có kinh nghiệm và nghệ thuật sư phạm. Có thể minh họa điều trên bằng YÍ
dụ sau:
Ví dụ: GV đặt ra và yêu càu HS giải quyết tình huống sau:
Khỉ tim ngừng đập —> Cơ thể chết Tỉm
cỏ ngừng đập? <— Khi cơ thể chết
Khi GV đưa ra tình huống này HS biết rõ một điều hiển nhiên là:
Khỉ tỉm ngừng đập —*■ Cơ thể chết, (đây là cái đã biết)
Nhưng khi GV lật lại: Khi cơ thể chết —*■ Tỉm cỏ ngừng đập?
HS tiếp nhận vấn đề, nhưng chưa thể đưa ra câu trả lời như vậy đây là
cái chưa biết, cái chưa biết này sẽ kích thích tính tò mò của HS.
Nếu GV đưa tình huống này ra cho HS lớp 11 trước khi học về tính tự
động của tim trong Bài 19: “Tuần hoàn máu” (tiếp theo) thì sẽ rất phù họp với

muối khoáng ở trong đất cách vị trí của nó tới hàng chục km?”
+ Mâu thuẫn giữa tri thức khoa học đã có với thực tiễn đa dạng.
Ví dụ. Khi dạy bài 18: “Tuần hoàn máu”, GV thông báo: “Trong cơ thể
có khoảng 5 lít máu. Với lượng máu đó có thể hòa tan 100 ml ôxi. Khi nghỉ ngơi
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh
SVTH: PHAN THỊ HÒNG 16 GVHD: TH.S AN BIÊN THỦY
hoàn toàn cơ thể tiêu dùng ít năng lượng mà cũng cần tới 10 - 12 lít ôxi trong 1
giờ. Còn khi lao động mạnh nhu cầu đó có thể lên tới 60 - 120 lít. Như vậy nhu
cầu ôxi tối thiểu của cơ thể đã gấp 100 lần lượng ôxi hòa tan trong máu, chưa nói
đến khi cơ thể hoạt động mạnh”. Mâu thuẫn YỚi một điều HS đã biết là cơ thể
không thể sản sinh ra một lượng máu như thế trong một giờ.
+ Mâu thuẫn có thể là một nghịch lý, một bất ngờ, một cái gì không bình
thường so YỚi cách hiểu cũ của HS.
Vỉ dụ: Khi dạy bài 19: “Tuần hoàn máu" (tiếp theo), GV khẳng định: Khi
tim ngừng đập —> Cơ thể chết. GV cho HS quan sát thí nghiệm: cắt rời tim ếch
ra khỏi cơ thể, nuôi trong điều kiện thích hợp, tim ếch vẫn có khả năng co giãn
nhịp nhàng. Nghịch lí là: Cơ thể chết —> Tim vẫn đập.
+ Mâu thuẫn cũng có thể là một sự kiện, một hiện tượng mới mà HS
không giải thích được trên cái Yốn hiểu biết đã có.
Ví dụ: Khi dạy bài 19: “Tuần hoàn máu" (tiếp theo), GV đưa ra tình
huống: Tim người có khối lượng chừng 300g mà sản ra một lượng công rất lớn
vẫn đảm bảo hoạt động liên tục suốt cả đời người để cung cấp máu cho cơ thể.
Trong 24h, riêng tâm thất phải sản ra một công khoảng 170 - 180 nghìn kilojun.
Công đó tương đương một cằn cẩu nâng một vật nặng một tấn lên độ cao bằng
tầng thượng nhà 5 tầng, mà không mệt mỏi.
+ Mâu thuẫn cũng nảy sinh khi HS phải lựa chọn một phương án giải
quyết khác nhau mà xem ra phương án nào cũng có vẻ hợp lí.
- Vấn đề đặt ra càn được phát biểu dưới dạng câu hỏi nêu Yấn đề. Trong
trường hợp GV để HS tự phát hiện ra vấn đề thì không cần bước này.
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh

Thuyết trình, thí nghiệm, trao đổi, quan sát, làm việc với SGK, hoạt động nhóm
Dạy học đặt và giải quyết vấn đề có thể xâm nhập vào các phương pháp khác để
“kích” các phương pháp đó lên một thế năng cao hơn trong việc kích thích tính
tích cực, tự lực giành lấy kiến thức của HS.
* Bản chất của dạy học đặt và giải quyết vẩn đề
Bản chất của PPDHTC “Đ & GQVĐ” là đặt người học trước những vấn
đề của nhận thức - học tập có chứa mâu thuẫn giữa “cái đã cho” và “cái phải tìm”
rồi đưa người học vào tình huống có Yấn đề để kích thích người học tự giác, có
nhu cầu giải quyết vấn đề. PPDHTC “Đ & GQVĐ” chính là hướng dẫn hoạt
động tìm kiếm và tiếp thu tri thức mới bằng con đường giải quyết vấn đề học tập
một cách sáng tạo.
Để có thành công trong quá trình DH “Đ & GQVĐ” cần áp dụng một tổ
hợp PPDH phức hợp. Trong đó các PPDH liên kết và tương tác với nhau chứ
không phải là dùng một phương pháp đơn nhất.
Trong PPDH “Đ & GQVĐ” việc tạo tình huống có vấn đề giữ vai trò
trung tâm, chủ đạo. PPDH “Đ & GQVĐ” dựa trên nguyên tắc hoạt động nhận
thức - học tập tìm kiếm, tức là nguyên tắc mở ra cho người học những kết luận
khoa học, những pp hoạt động, sự mô tả đối tượng mới hoặc những cách bổ sung
tri thức vào thực tiễn Mục đích của PPDHTC “Đ & GQVĐ” là giúp người học
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh
SVTH: PHAN THỊ HÒNG 19 GVHD: TH.S AN BIÊN THỦY
nắm vững không chỉ những kết quả nhận thức khoa học, hệ thống tri thức mà cả
con đường, quá trình thu nhận các kết quả đó, hình thành tính tích cực nhận thức
và phát triển khả năng sáng tạo của người học.
* Các mức độ đặt và giải quyết vấn đề
PPDH “Đ & GQVĐ” giúp HS tập dượt khả năng phát hiện nhanh và giải
quyết hợp lí các vấn đề đặt ra, thích ứng được YỚi sự phát triển của xã hội hiện
đại.
Căn cứ vào mức độ tích cực của HS người ta chia ra làm 4 mức độ của
dạy học đặt và giải quyết vấn đề:

Tuy nhiên trong một lớp học có nhiều đối tượng HS có trình độ khác nhau,
vì vậy tùy từng nội dung dễ hay khó mà phối hợp các mức độ cho họp lí.
* ưu điểm, nhược điểm của phương pháp dạy học đặt và giải quyết vẩn đề
+ Ưu điểm: Sinh học là một bộ môn thực nghiệm do đó:
- Khi áp dụng PPDHTC “Đ & GQVĐ” vào dạy học SH không chỉ trang bị
cho HS vốn kiến thức về thế giới khách quan mà còn rèn luyện cho các em
các kĩ năng như: Quan sát, làm thí nghiệm và phát triển năng lực tư duy
như: Phân tích, tổng hợp, so sánh. Từ đó hình thành cho các em nhân cách
con người.
- PPDH “Đ & GQVĐ” góp phàn quan trọng trong việc phát triển cơ bản của
người lao động đó là năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo. Năng
lực giải quyết Yấn đề là năng lực cần thiết cần phát triển ở HS, chuẩn bị
hành trang cho người học đối diện, giải quyết những vấn đề nảy sinh trong
cuộc sống.
- Trong dạy học “Đặt và giải quyết Yấn đề”: Kiến thức, kĩ năng được hình
thành ở HS một cách sâu sắc, vững chắc đặc biệt là các kiến thức trừu
tượng ở SH 11. Nhưng quan trọng hơn là HS biết cách chủ động chiếm
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh
SVTH: PHAN THỊ HÒNG 21 GVHD: TH.S AN BIÊN THỦY
lĩnh kiến thức và đánh giá được kết quả học tập của bản thân mình và của
người khác. Thông qua đó các năng lực cơ bản đã được hình thành trong
đó có năng lực vận dụng tri thức để giải quyết Yấn đề thực tiễn một cách
linh hoạt và sáng tạo.
+ Nhược điểm: Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng hiện nay PPDH “Đ &
GQVĐ” vẫn chưa được nhiều GV sử dụng trong dạy học SH do pp này còn có
một số nhược điểm sau:
- Trong bộ môn SH, để thực hiện theo đúng quy trình của pp GV phải đầu
tư nhiều thời gian do trong SH 11 chủ yếu là các kiến thức quá trình sinh
lí đòi hỏi nhiều thời gian thực hiện.
- Khi học môn SH có áp dụng PPDHTC “Đ & GQVĐ” HS cần có thói quen

và HS lớp 11 Ag
tại trường THPT Tây Tiền Hải thuộc huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
1.3.4. Kết quả điều tra
Bảng 1-1: Kết quả điều tra ý kiến GV Trường THPT Tây Tiền Hải về
ứng dụng PPDHTC “Đ & GQVĐ” vào thiết kế và dạy SH 11 (CTC).
Phương pháp thường xuyên sử dụng
Qua phân tích các phiếu điều tra cho thấy:
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh
SVTH: PHAN THỊ HÒNG 24 GVHD: TH.S AN BIÊN THỦY
Sinh học lớp 11 - THPT
(25%)
Phương
pháp hiệu
quả nhất
Khôn
g
quan
trọng:
0
(0%)
Bình
thường:
3
(75%)
Quan
trọng:
1
(25%)
2
(50%)

(100%)
PPDHTC “Đặt và giải quyết vấn đề’
pp đặt và giải quyêt
vấn đề: 0 (0%)
pp trực quan: 2
(50%)
pp dùng lời: 2
(50%)
Bình
thường: 0
(0%)
Thời gian
Đa số các thầy cô giáo đều cho rằng PPDHTC “Đ & GQVĐ” đem lại hiệu
quả cho bài lên lớp nghiên cứu tài liệu mới, đưa HS học tập tích cực,
Khóa luận tốt nghiệp Lớp K35B - Sinh
SVTH: PHAN THỊ HÒNG 25 GVHD: TH.S AN BIÊN THỦY

Trích đoạn Nút xoang nhĩ: Nằm trên thành nhĩ phải, có khả năng tự phát xung điện HS phân tích, tổng hợp:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status