Pháp luật Việt Nam về tập đoàn kinh tế nhà nước Luận văn ThS. Luật - Pdf 28


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN NGỌC DUNG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TẬP ĐOÀN KINH
TẾ NHÀ NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. LÊ THỊ CHÂU
HÀ NỘI - 2011

4
MỤC LỤC

Trang
Lời cam đoan
1
Danh mục viết tắt

2.2.1. Về thành lập tập đoàn kinh tế Nhà nước
2.2.2. Cơ chế giám sát hoạt động bộ máy quản lý TĐKT Nhà nước

45
45

45
48

54

54

65

5
2.2.3. .Quy định pháp luật quản lý tài chính trong TĐKT Nhà nước
2.3. Bài học kinh nghiệm từ hoạt động của Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ
Việt Nam
67

70
CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM, PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP VÀ
KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƢỚC
3.1. Quan điểm, phương hướng của Đảng và Nhà nước về Tập đoàn kinh
tế Nhà nước hiện nay
3.2 Một số giải pháp về quá trình hoạt động của Tập đoàn kinh tế Nhà
nước
3.3. Một số kiến nghị về quy định của pháp luật và cách thức tổ chức của


93

96 98
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
101
103 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TĐKT: Tập đoàn kinh tế
TCT: Tổng công ty
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
WTO: Tổ chức thương mại quốc tế
TVN: Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam
VNPT: Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
PVN: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
EVN: Tập đoàn Điện lực Việt Nam
VINASHIN: Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam
DMC: Công ty dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí
HĐQT: Hội đồng quản trị
IMCA: Xí nghiệp liên doanh giữa viện ứng dụng vật liệu của Ucaraina
và công ty Lionnes Consulting Ldt của Mỹ.
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
KTNN: Kiểm toán nhà nước

nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế ở nước ta, cũng như phát huy
các ngành kinh tế mũi nhọn nhằm tạo thế và lực phục vụ cho quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá của đất nước thì việc từng bước hình thành và phát
triển các tập đoàn kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần
thiết mà bước đầu là thành lập thí điểm các tập đoàn kinh tế từ các Tổng công
ty nhà nước.
Hội nhập kinh tế với nền kinh tế toàn cầu cần phải tổ chức sắp xếp các
doanh nghiệp nhỏ, manh mún thành những doanh nghiệp có quy mô lớn đủ
khả năng hợp tác cũng như cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.
Ngoài ra việc tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước còn nhằm tăng cường vị trí
của doanh nghiệp nhà nước trong việc bảo đảm vai trò chủ đạo, dẫn dắt các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Tập đoàn hoạt động có hiệu quả sẽ là những mô hình nòng cốt
trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Do nền kinh tế hội nhập sẽ phải chấp nhận

8
cạnh tranh, là một tất yếu dẫn đến tích tụ và tập trung vốn, là điều kiện hình
thành tập đoàn kinh tế.
Khác với các tập đoàn kinh tế thế giới, hầu hết đều đi từ các các công ty
nhỏ, hoạt động rất hiệu quả, tích tụ vốn và phát triển quy mô dần trở thành các
tập đoàn khổng lồ, các tập đoàn kinh tế Việt Nam được thành lập dựa trên các
tổng công ty có quy mô chưa lớn, yếu kém trong quản lý, quen dựa vào bao
cấp đã vừa độc quyền lại thích có thêm quyền, phần lớn vị trí chủ chốt được
bổ nhiệm vì lý do chính trị chứ không dựa trên năng lực quản trị kinh doanh
nên sự tác hại của tập đoàn kinh tế khi làm ăn thiếu hiệu quả có thể gây hậu
quả lớn cho nền kinh tế, vì vậy cần thận trọng trong việc thành lập.
Ngày 1-7-2010, thời điểm Luật Doanh nghiệp Nhà nước hết hiệu lực, cả
nước đã hình thành 12 tập đoàn kinh tế nhà nước thí điểm dưới mô hình công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu nhà nước, ngoại trừ tập
đoàn Bảo Việt được cổ phần hóa vào năm 2007:

hóa, hiện đại hóa - Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, 2005 PGS.TSKH
Vũ Huy Từ (chủ biên); những rủi ro tiềm ẩn của tập đoàn kinh tế nhà nước
của T.S Trần Văn Hùng; Mô hình các tập đoàn kinh tế được thành lập theo
nghị định 101/2009/NĐ-CP của Phạm Viết Đào; Tập đoàn kinh tế nhà nước
Việt Nam sau 5 năm thí điểm hoạt động của TS Đinh La Thăng; “Địa vị pháp
lý của Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Lan - luận
văn thạc sĩ luật học tại Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội; “Tập đoàn kinh
tế nhà nước tại Việt Nam bản chất pháp lý và vấn đề xây dựng khung pháp lý
điều chỉnh” của Nguyễn Hương Ly - luận văn thạc sĩ luật học tại Khoa Luật-
Đại học Quốc gia Hà Nội ; “Những vấn đề bất cập về tập đoàn kinh tế theo
Luật doanh nghiệp 2005” Đoàn Trung Kiên , Vũ Phương Đông - tạp chí luật

10
học số 9-2010; “Bất cập trong các quy định liên quan tập đoàn kinh tế và việc
sử dụng tên gọi “tập đoàn” ở Việt Nam hiện nay – kiến nghị sửa đổi” Ngô
Hồng Quang – tạp chí khoa học pháp lý số 1- 2010; “Về địa vị pháp lý của
tập đoàn kinh tế nhà nước” PGS.TS. Trần Văn Nam – PGS.TS.Nguyễn Thế
Quyền- kỷ yếu hội thảo về Tập đoàn kinh tế nhà nước, Đại học kinh tế quốc
dân ngày 19/7/2011; “Những vấn đề rút ra từ thí điểm mô hình tập đoàn kinh
tế” Trần Thị Lan Hương – tạp chí tổ chức nhà nước số 8 -2010; “Hoàn thiện
pháp luật về tập đoàn kinh tế nhà nước” PGS.TS Nguyễn Thế Quyền – Tạp
chí nghiên cứu lập pháp số 13/2011…và một số bài viết khác có đề cập đền
thực trạng và giải pháp hoàn thiện mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước.
Tuy nhiên, theo chúng tôi chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập
một cách toàn diện về pháp luật tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay, cũng
như đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tập đoàn kinh tế nhà nước
một cách cụ thể.
3. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản
của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát

- Nghiên cứu, lý giải khái niệm pháp luật về Tập đoàn kinh tế nhà nước;
từ đó xác định vai trò của pháp luật đối với việc hình thành và phát triển Tập
đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
- Phân tích, đánh giá thực trạng những nội dung cơ bản của pháp luật
Việt Nam về Tập đoàn kinh tế nhà nước. Đây cũng chính là những thành tựu
đã đạt được cũng như một số vấn đề còn tồn tại của quá trình xây dựng pháp
luật về Tập đoàn kinh tế nhà nước ở nước ta trong thời gian qua.
- Đề ra những định hướng, giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp
luật Việt Nam về Tập đoàn kinh tế nhà nước.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

12
Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay là mô hình kinh doanh
mới được thành lập khoảng 6 năm trở lại đây. Từ khi được thành lập tới nay,
đã có một số vụ bê bối lớn của các Tập đoàn kinh tế nhà nước xảy ra nên đây
là mô hình kinh doanh được coi là nhạy cảm trong thời gian này. Mô hình này
có quan hệ mật thiết với nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội và pháp luật.
Pháp luật đươc coi là phương tiện quan trọng nhất đảm bảo cho Tập đoàn kinh
tế vận hành bình thường và phát huy tác dụng. Luận văn tập trung nghiên cứu
trong khuôn khổ những quy định pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp tới Tập
đoàn kinh tế nhà nước mà không nghiên cứu toàn bộ vấn đề liên quan tới cơ
chế kinh tế và cũng không nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng gián tiếp tới
Tập đoàn kinh tế nhà nước. Khái niệm pháp luật Tập đoàn kinh tế nhà nước
được đề cập trong luận văn là khái niệm tổng hợp chỉ tổng thể các nguyên tắc
pháp lý cơ bản của pháp luật Việt Nam về Tập đoàn kinh tế nhà nước cùng
tổng thể các qui phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau có
quan hệ trực tiếp đến quá trình hình thành, phát triển và hoạt động của Tập
đoàn kinh tế nhà nước.
Khi nghiên cứu pháp luật Việt Nam về Tập đoàn kinh tế nhà nước, luận
văn cũng tập trung nghiên cứu những nội dung có liên quan trực tiếp nhất đến

- Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về Tập
đoàn kinh tế nhà nước.
- Luận văn phân tích và đánh giá về việc làm ăn thua lỗ của Tập đoàn
Vinashin vừa qua, và rút ra bài học kinh nghiệm chung cho cách quản lý và
hoạt động của các Tập đoàn kinh tế nhà nước.
- Luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện những nội dung pháp luật
quan trọng có liên quan trực tiếp đến việc vận hành và phát triển Tập đoàn
kinh tế nhà nước ở Việt Nam.
8. Kết cấu của đề tài

14
Ngoài phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về tập đoàn kinh tế nhà nước.
Chương 2: Thực trạng về pháp luật Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt
Nam hiện nay.
Chương 3: Quan điểm, phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về Tập đoàn kinh tế nhà nước

trách nhiệm là những đơn vị kế hoạch, đơn vị kinh doanh của ngành ".
Như vậy, ngay từ đầu chúng ta đã khẳng định sự tôn trọng quy luật khách
quan của nền kinh tế, bước đầu hình thành ý tưởng tách quản lý nhà nước với
sản xuất kinh doanh, xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu mới của mô hình sản
xuất mới trong các doanh nghiệp. Sau một thời gian ngắn tổ chức thực hiện,

16
Hội nghị Trung Ương 6, khoá IV tiếp tục cụ thể hoá quá trình tổ chức liên
hiệp xí nghiệp ,tổ chức sản xuất phải theo hướng từng bước thực hiện tập
trung hoá, chuyên môn hoá, hiệp tác hoá và liên hiệp hoá nhằm đạt hiệu quả
kinh tế cao. Các liên hiệp xí nghiệp phải hoạt động theo nguyên tắc hạch toán
kinh tế. Việc tổ chức liên hiệp các xí nghiệp phải được tiến hành chu đáo,
vững chắc, đạt hiệu quả kinh tế thiết thực, không để trở thành cấp trung gian
hình thức.
Lần đầu tiên cụm từ "Tập đoàn kinh tế" được xuất hiện trong Nghị quyết
đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII: "Nhà nước hỗ trợ, khuyến
khích và thực hiện từng bước vững chắc, phù hợp với yêu cầu phát triển của
nền kinh tế, việc đổi mới các liên hiệp xí nghiệp, các tổng công ty theo hướng
tổ chức các tập đoàn kinh tế, khắc phục tính chất hành chính trung gian". [7]
Việc nghiên cứu và tìm hiểu quá trình hình thành, sử dụng cụm từ "Tập
đoàn kinh tế" trong các nghiên cứu, văn kiện của Đảng chính là cơ sở để có
thể đưa ra những nhận xét, những đánh giá khách quan về mô hình tổ chức
sản xuất này. Như một số đoạn trích đã nêu trên, chứng tỏ tư duy về mô hình
tổ chức sản xuất của nhóm doanh nghiệp cũng phát triển với quá trình đổi mới
tư duy kinh tế phù hợp với thực tế phát triển lực lượng sản xuất, phát triển đời
sống xã hội và bối cảnh kinh tế quốc tế. Muốn thực hiện công nghiệp hoá theo
hướng hiện đại đất nước thì phải đẩy mạnh quá trình tích tụ, tích lũy và tập
trung nguồn lực, nguồn vốn lớn. Tương ứng với quá trình này là những doanh
nghiệp có quy mô ngày một lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong
nước và quốc tế. Năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 91/TTg -

có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, phát triển, nâng cao khả
năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế;

18
2 – Bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, ứng dụng công
nghệ cao, tạo động lực phát triển cho các ngành, các lĩnh vực khác và toàn bộ
nền kinh tế; thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành
phần kinh tế khác;
3 – Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà
nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn;
4 – Tạo cơ sở để hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về tập đoàn
kinh tế.
Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung Ương tháng 01 năm 2004 đã
đưa ra định hướng xác định: “Tiếp tục củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt
động của các Tổng công ty nhà nước; tích cực chuẩn bị để hình thành một số
tập đoàn kinh tế mạnh do tổng công ty làm nòng cốt, có sự tham gia mạnh mẽ
của các thành phần kinh tế trong nước và đầu tư của nước ngoài”.
Triển khai Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khóa
IX (tháng 9-2001) và định hướng của Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành
Trung Ương tháng 01 năm 2004, tháng 11-2005, Tập đoàn kinh tế nhà nước
đầu tiên của nước ta là Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam
(TVN) đã ra đời và đi vào hoạt động, theo Quyết định số 198/2005/QĐ-TTg,
ngày 8-8-2005 của Thủ tướng Chính phủ, về việc thành lập công ty mẹ. Cùng
năm đó, Tổng công ty Dệt may Việt Nam cũng được chuyển thành Tập đoàn
Dệt may Việt Nam; Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam cũng được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt đề án thành lập Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo
Việt. Tiếp theo đó năm 2006, tổng công ty Bưu chính – Viễn thông Việt Nam
chuyển thành Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam (VNPT), tổng công
ty Dầu khí Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN).
Đầu năm 2007, Thủ tướng Chính phủ có văn bản đồng ý để tổng công ty

Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí quốc
gia Việt Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam,

20
Tập đoàn Bảo Việt, Tập đoàn Viễn thông Quân đội, Tập đoàn Hóa chất Việt
Nam. Tổ hợp các doanh nghiệp độc lập có cùng lĩnh vực hoạt động: gồm 2 tập
đoàn là Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam được thành lập trên cơ sở
tổ hợp các doanh nghiệp độc lập hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng
và cơ khí chế tạo, bao gồm: Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty Sông Hồng,
Tổng công ty Cơ khí Xây dựng, Tổng công ty Đầu tư phát triển xây dựng,
Tổng công ty Lắp máy Việt Nam và Tổng công ty Xây dựng và Phát triển hạ
tầng. Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị Việt Nam thành lập trên cơ sở tổ hợp
từ: Tổng công ty Phát triển nhà và đô thị, Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng,
Tổng công ty Xây dựng Hà Nội, Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng,
Tổng công ty Đầu tư xây dựng cấp thoát nước và Môi trường Việt Nam.
Sự phát triển của mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước trải qua một số giai
đoạn, được đánh dấu bởi một số quyết định của Thủ tường chính phủ và văn
bản pháp lý của nhà nước. Như đã nói ở phần trên, mô hình tập đoàn kinh tế
được manh nha từ quyết định 91/TTg ban hành năm 1994. Thế nhưng theo
đánh giá của một nhóm nhà nghiên cứu của viện quản lý kinh tế trung ương
(CIEM) thì mặc dù đây là “văn bản đầu tiên xác lập các tiêu chí về tập đoàn
nhưng chưa đề cập đúng bản chất và đặc thù về mô hình, tổ chức quản lý và
hoạt động của Tập đoàn kinh tế, dẫn đến hoạt động của các tổng công ty chưa
thể phát triển theo mô hình tập đoàn kinh tế”. Vì lý do này nên cho đến năm
2003 – tức là sau gần 10 năm khi ý tưởng về mô hình tập đoàn kinh tế được
tuyên bố chính thức – kết quả hoạt động và tổ chức của các tổng công ty vẫn
chưa đủ mạnh để là cơ sở cho sự hình thành các tập đoàn kinh tế nhà nước.
Theo báo cáo của ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp ngày
15.2.2011, quy mô vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước
được xác định là 540.701 tỉ đồng, tăng 11,75% so với năm 2009. Trong khi

đoàn kinh tế có thể là chính thức hoặc không chính thức.

22
- Consortium:
Xét về phương diện ngôn ngữ, “Consortium” là một từ gốc Latin có
nghĩa là “đối tác, hiệp hội hoặc hội”, được sử dụng để chỉ sự tập hợp của 2
hay nhiều thực thể nhằm mục đích tham gia vào một hoạt động chung hoặc
đóng góp nguồn lực để đạt được mục tiêu chung. Khi tham gia vào một
Consortium, các công ty vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân độc lập của mình.
Thông thường, vai trò kiểm soát của Consortium đối với các công ty
thành viên chủ yếu giới hạn trong các hoạt động chung của cả tập đoàn, đặc
biệt là việc phân phối lợi nhuận. Sự ra đời của một Consortium được xác lập
trên cơ sở hợp đồng, trong đó quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của từng
công ty thành viên tham gia Consortium;
 Tập đoàn kinh doanh chuyên sâu như:
Tập đoàn dầu khí, tập đoàn tài chính - ngân hàng, tập đoàn truyền
thông, tập đoàn xây dựng, tập đoàn dịch vụ du lịch, tập đoàn nhà hàng –
khách sạn… Đây là những tập đoàn kinh tế chuyên kinh doanh trong một lĩnh
vực, ngành nghề nhất định.
 Theo phạm vi hoạt động:
Là các tập đoàn đa quốc gia nếu tập đoàn đó có cơ sở kinh doanh ở các
quốc gia khác nhau; hoặc các doanh nghiệp có thể dựa trên sự liên kết kiểu gia
đình như dạng Family Business (như của Ford, Motorola, Cargill…).
Tuy có sự khác nhau về thuật ngữ và nội dung chuyển tải, nhưng các khái
niệm “Tập đoàn kinh tế” trên thế giới đều được hiểu là một cơ cấu, hoặc một
tổ hợp, một nhóm các doanh nghiệp có quan hệ với nhau về vốn, quản trị,
công nghệ, thương hiệu, thị trường, ngành nghề, phân phối lợi ích… mối quan

23
hệ này dựa trên nhiều yếu tố khác nhau nhưng chủ yếu trên ba nền tảng của

buộc đơn thuần giữa các công ty, mặt khác ngăn ngừa một nhóm công ty sát
nhập với nhau thành một tổ chức duy nhất” (Granovette, 1994).
Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ động hội
nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, việc cơ cấu sắp xếp lại các
doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé, hoạt động manh mún thành những doanh
nghiệp lớn không chỉ có đủ khả năng trở thành đối tác mà còn có thể cạnh
tranh với các Tập đoàn kinh tế của nước ngoài trở thành một yêu cầu hết sức
cấp thiết và phù hợp với quy luật phát triển.
Tại nhiều nước trên thế giới, Tập đoàn kinh tế đã có bề dày lịch sử phát
triển từ hàng trăm năm nay và trở thành một trong những nhân tố quan trọng
thúc đẩy sự phát triển của kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, khái niệm Tập đoàn kinh tế mới chỉ được nhắc
đến nhiều trong thập niên cuối của thế kỷ trước. Có lẽ vì thế mà những nghiên
cứu về Tập đoàn kinh tế ở nước ta cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn vẫn còn rất
hạn chế. Ở Việt Nam, hiện nay vẫn chưa có khái niệm chính xác về tập đoàn
kinh tế, mà thực chất xung quanh vấn đề này còn rất nhiều tranh cãi và chưa
được thống nhất, nhiều quan điểm đã được đưa ra.
Theo Luật Doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì Tập
đoàn kinh tế được xếp là một thành phần trong nhóm công ty, cụ thể như sau:
Điều 146 quy định: "Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan
hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch

25
vụ kinh doanh khác. Thành phần của nhóm công ty gồm có: Công ty mẹ, công
ty con, tập đoàn kinh tế, các hình thức khác."
Điều 149 quy định: “Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn,
chính phủ quy định hướng dẫn tiêu chí tổ chức quản lý và hoạt động của tập
đoàn kinh tế”
Ngoài các quy định trong Luật và nghị định còn có các quan điểm khác
về Tập đoàn kinh tế:

công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp: Sở hữu trên 50% vốn điều
lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành của công ty đó; có quyền trực
tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị,
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó; Có quyền quyết định việc sửa
đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó).
Công ty con được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty
trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc của pháp luật
liên quan. Công ty mẹ, công ty con và các công ty khác hợp thành tập đoàn
kinh tế có các quyền, nghĩa vụ, cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động phù hợp
với hình thức tổ chức doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp,
pháp luật liên quan và Điều lệ công ty.
Cụm từ "tập đoàn" có thể sử dụng như một thành tố phụ trợ cấu thành
nên tên riêng của công ty mẹ, phù hợp với những quy định từ Điều 31 đến
Điều 34 của Luật Doanh nghiệp sửa đổi bổ sung năm 2009 về các yêu cầu đặt
tên doanh nghiệp.
Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ báo cáo tài chính hợp nhất, giám sát hoạt
động tài chính của Tập đoàn kinh tế, của nhóm công ty mẹ - công ty con thuộc
Tập đoàn kinh tế.
Bộ Công Thương hướng dẫn việc giám sát các tập đoàn kinh tế, nhóm
công ty mẹ - công ty con thuộc tập đoàn kinh tế thực hiện các quy định về hạn

Trích đoạn Quy định pháp luật quản lý tài chính trong tập đoàn kinh tế nhà nƣớc Bài học kinh nghiệm từ hoạt động của Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam Quan điểm, phƣơng hƣớng của Đảng và nhà nƣớc về tập đoàn kinh tế nhà nƣớc hiện nay Một số giải pháp về quá trình hoạt động của các TĐKT nhà nƣớc Một số kiến nghị về các quy định của pháp luật, và cách thức tổ chức của Tập đoàn kinh tế nhà nƣớc.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status