Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa nếp tại vị xuyên hà giang - Pdf 28


đại học Thái Nguyên
Trờng đại học nông lâm

Hoàng quang hùng

"Nghiên cứu khả năng sinh trởng - phát triển
của một số giống lúa nếp tại vị xuyên - hà giang"
chuyên ngành: Trồng trọt
m số: 60.62.01

luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

Ngời hớng dẫn khoa học:
TS.Nguyễn Hữu Hồng


các hộ gia đình và bà con nông dân đã đón tiếp và ủng hộ nhiệt tình, tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi trong suất thời gian thực tập.
Đặc biệt là sự quan tâm sâu sát, giúp đỡ tận tình chu đáo của thầy giáo
TS. Nguyễn Hữu Hồng - Ngời hớng dẫn khoa học đã giúp tôi hoàn thành
công trình khoa học này.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới tất cả các
thầy giáo, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp, cơ quan và chính quyền các địa phơng,
các hộ gia đình đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn./.
Tác giả
Hoàng Quang Hùng Mục lục

Trang

Mở đầu
1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 3
2.1. Mục tiêu tổng thể 3
2.2. Mục tiêu cụ thể 4
2.3. ý nghĩa của đề tài
4
Chơng 1: Tổng quan tài liệu
5

38
3.1. Đặc điểm thời tiết khí hậu vụ mùa năm 2005 tại Hà Giang 38
3.1.1. Nhiệt độ 38
3.1.2. Độ ẩm không khí 39
3.1.3. Lợng ma 39
3.1.4. Số giờ nắng 39
3.2. Kết quả điều tra nhu cầu và tình hình sản xuất lúa nếp tại Hà Giang 40
3.2.1. Nhu cầu về sử dụng gạo nếp của ngời dân 40
3.2.2. Thực trạng sử dụng lúa nếp ở Hà Giang 41
3.3. Những khó khăn và thuận lợi trong việc trồng lúa nếp 45
3.3.1. Khó khăn 45
3.3.2. Thuận lợi 46
3.3.3. Các giải pháp để phát triển các giống lúa nếp 50
3.4. Kết quả so sánh các giống lúa nếp tại Việt Nam 51
3.4.1. Thời gian sinh trởng và phát triển của cây mạ 51
3.4.2. Thời gian sinh trởng và phát triển của các giống lúa 52
3.4.3. Động thái sinh trởng chiều cao 53
3.4.4. Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa 54
3.4.5. Chỉ số diện tích lá qua các thời kì sinh trởng - phát triển 56
3.4.6. Khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống lúa 58
3.4.7. Một số đặc tính nông học của các giống lúa thí nghiệm 63
3.4.8. Một số đặc điểm hình thái của các giống lúa thí nghiệm 65
3.4.9. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 67
3.4.10. Hiệu quả kinh tế trồng giống lúa tham gia khảo nghiệm 72
3.4.11. Chất lợng các giống lúa tham gia thí nghiệm 74
3.5. Kết quả sản xuất thử ở 4 điểm tại địa bàn tỉnh Hà Giang vụ mùa
năm 2005
75
Kết luận và đề nghị
77

Bảng 3.10. Khả năng đẻ nhánh của các giống thí nghiệm 55
Bảng 3.11. Chỉ số diện tích lá ở các thời kỳ sinh trởng phát triển 57
Bảng 3.12. Tình hình sâu, bệnh hại trên các giống lúa TN 60
Bảng 3.13. Một số đặc điểm nông học của các giống lúa thí nghiệm 63
Bảng 3.14. Các đặc điểm nông học của các giống thí nghiệm 65
Bảng 3.15. Các yếu tố cấu thành năng suất 69
Bảng 3.16. Năng suất của các giống lúa tham gia thí nghiệm 71
Hình 3.2. Năng suất lý thuỷết và năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm 72
Bảng 3.17. Hạch toán sơ bộ kinh tế cho 1ha 73
Hình 3.3: Hạch toán kinh tế các giống lúa thí nghiệm 74
Bảng 3.18. Đánh giá chất lợng bằng cách nấu ăn thử và cho điểm 74
Bảng 3.19. Kết quả sản xuất thử ở 4 điểm tại Hà Giang vụ mùa 2005 76
Các danh mục viết tắt

NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
Đ/C : Đối chứng
T1; T2; T3; T4; T5; T6 : Giống mang số thứ tự trong thí nghiệm
TGST : Thời gian sinh trởng
KHKT : Khoa học kỹ thuật 1
Mở đầu
1. Đặt vấn đề
Cây lơng thực đóng vai trò quan trọng trong đời sống con ngời và
trong nền kinh tế quốc dân. Nhóm cây lơng thực bao gồm nhiều loại cây

P
2
P
. Dân số năm 2005, theo số liệu thống
kê của tỉnh là 679.909 ngời, gồm 22 dân tộc anh em cùng chung sống. Mật độ
dân số bình quân 88 ngời/km
P
2
P
. Diện tích lúa nớc cả năm đạt 35.323,7 ha tập
trung chủ yếu ở các huyện Bắc Quang, Quang Bình,Vị Xuyên và Thị xã Hà
Giang chiếm tới 72% diện tích trong toàn tỉnh với điều kiện thời tiết khí hậu
thuận lợi, nhiệt độ trung bình giao động từ 16,6 - 28,4
P
0
P
C, ẩm độ trung bình 79 -
86%, lợng ma hàng năm cao, các nguồn nớc tới tiêu chủ động. Vì thế đây
đợc coi là vùng trọng điểm lúa của tỉnh. Năm 2005 bình quân lơng thực đầu
ngời đạt 356 kg/ngời/năm.
Sở dĩ sản lợng lơng thực qua các năm đều tăng là do địa phơng đã
chọn lọc, bồi dục và phục tráng đợc một số giống tốt. Mặt khác chúng ta
cũng đã nhập nội một số giống lúa mới từ IRRI, ấn Độ, Trung Quốc Các
giống nhập nội có u điểm là chịu thâm canh và cho năng suất rất cao, nhng
chất lợng của gạo thấp, ăn không ngon, bán không đợc giá trên thị trờng.
Trung bình giá gạo bán trên thị trờng từ 3.000 - 3.500 đ/kg. Ngợc lại các
giống lúa tẻ, lúa nếp truyền thống tuy năng suất không cao nhng chất lợng
tốt, giá bán gấp 2 - 3 lần giống lúa thờng.
Xu thế ở các nớc phát triển và đang phát triển có mức thu nhập cao,
đời sống ổn định và khá giả đòi hỏi nhu cầu chất lợng trong cơ cấu bữa ăn

2.1. Mục tiêu tổng thể
- Xác định và tuyển chọn đợc những giống lúa nếp có chất lợng cao,
phẩm chất tốt, góp phần tham gia vào việc bổ xung thêm giống lúa mới cho
vùng, đáp ứng đợc nhu cầu của đồng bào trong việc sử dụng lúa nếp có chất
lợng tốt phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt thờng xuyên cũng nh làm nguyên
liệu chế biến các loại bánh trong ngày lễ cổ truyền của dân tộc.
- Chọn ra đợc những giống lúa nếp có triển vọng để bổ xung cho cơ
cấu lúa của tỉnh.

4
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá khả năng sinh trởng, phát triển của một số giống lúa nếp
đợc thu thập và gieo trồng tại Hà Giang.
- Đánh giá khả năng chống chịu sâu, bệnh hại của các giống lúa nếp
thí nghiệm.
- Đánh giá khả năng cho năng suất của các giống.
- Tính hiệu quả kinh tế của việc trồng lúa nếp.
- Góp phần bảo tồn nguồn gen quý hiếm của các giống lúa nếp để phục
vụ cho công tác nghiên cứu lai tạo sau này.
- Đánh giá chất lợng để có cơ sở khuyến cáo cho sản xuất.
- Chọn ra đợc những giống lúa nếp có năng suất cao, phẩm chất tốt để
giới thiệu cho sản xuất.
2.3. ý nghĩa của đề tài
* ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu xác định đợc sinh trởng, phát triển khả năng thích ứng
và khả năng cho năng suất của các giống lúa nếp mới tại Hà Giang.
- Đóng góp những t liệu phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu về lúa nếp.
- Là cơ sở cho việc xây dựng về dự án phát triển các giống lúa nếp chất
lợng cao ở Hà Giang.
* ý nghĩa thực tiễn của đề tài

nghiên cứu giống. Viện nghiên cứu lúa quốc tế International Rice Research
Institute (IRRI) đã có chơng trình nghiên cứu lâu dài về lúa, các vấn đề về
chọn giống, tạo giống nhằm đa ra những giống có đặc trng chính nh: thời
gian sinh trởng, tính chống bệnh, sâu hại, chất lợng gạo, tính mẫn cảm với
quang chu kỳ thích hợp nhất với những vùng trồng lúa khác nhauvv

6
Giống lúa mới đợc coi là giống lúa tốt thì phải có độ thuần cao, thể
hiện đầy đủ các yếu tố di truyền của giống đó, khả năng chống chịu tốt các
điều kiện ngoại cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu, đồng thời chịu thâm
canh, kháng sâu bệnh hại, năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định qua nhiều
thế hệ. Muốn phát huy hết tiềm năng năng suất của một giống tốt đó phải sử
dụng chúng hợp lý, phù hợp với đất đai, điều kiện khí hậu, kinh tế xã hội của
vùng đó.
Các giống khác nhau có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi
vùng khác nhau. Do đó để xác định đợc một số giống tốt cho từng vùng sản
xuất nông nghiệp là việc làm cần thiết và đòi hỏi có thời gian. Bởi vậy việc xác
định tính thích nghi của một giống mới trớc khi đa ra sản xuất trên diện rộng
thì giống đó phải đợc trồng ở những vùng sinh thái khác nhau. Mục đích là để
đánh giá tính khác biệt, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng thích ứng, khả
năng chống chịu sâu bệnh cũng nh điều kiện bất thuận và khả năng cho năng
suất chất lợng, hiệu quả kinh tế của giống đó.
Nh vậy, gieo trồng các giống lúa mới ở các vùng sinh thái khác nhau
nhằm đánh giá khách quan, chính xác, công nhận kịp thời các giống tốt, phù
hợp với từng hệ thống thâm canh là việc làm cần thiết và có hiệu quả. Trong
điều kiện tỉnh Hà Giang hiện nay nhu cầu về lúa nếp rất cao, tuy nhiên để phát
triển sản xuất lúa nếp cần có những giống lúa nếp có phẩm chất cao, có khả
năng chống chịu với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh tốt, có khả năng chịu
đợc thâm canh. Để đáp ứng vấn đề này, chúng tôi đã thu thập các giống lúa
nếp có những đặc điểm trên vào sản xuất tại tỉnh Hà Giang. Đề tài nghiên cứu
8
Biểu 1.1: Diện tích, năng suất và sản lợng lúa
của toàn thế giới trong vài thập kỷ gần đây

Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(Tạ/ha)
Sản lợng
(Triệu tấn)
1961 115,50 18,7 215,65
1970 133,10 23,8 316,38
1980 144.67 27,4 396,87
1990 146,98 35,3 518,23
2000 154,11 38,9 598,97
2001 151,97 39,4 598,03
2002 147,69 39,1 577,99
2003 149,20 39,1 583,00
2004 151,02 40,3 608,37
2005 153,78 40,2 618,53
(Nguồn: FAOSTAT, 2006) [40]
Sang những năm đầu của thế kỷ 21, ngời ta có xu hớng hạn chế sử
dụng các chất hoá học tổng hợp trong thâm canh lúa, chú trọng chỉ tiêu chất
lợng hơn là số lợng làm cho năng suất lúa có xu hớng chững lại hoặc tăng
chút ít. Tất nhiên ở những nớc có nền khoa học kỹ thuật phát triển, năng suất
lúa vẫn cao hơn hẳn. Theo số liệu thống kê của 10 nớc có sản lợng lúa
hàng đầu trên thế giới (Biểu 1.2) (FAOSTAT 2006) [40].

Thái Lan 10,20 26,5 27,00
Myanma 6,27 39,1 24,50
Philippin 4,12 36,0 14,80
Braxin 3,94 33,4 13,14
Nhật Bản 1,68 65,4 10,99
(Nguồn: FAO STAT.2006) [40]
Theo dự báo của các nhà khoa học thì sản lợng lúa sẽ tăng chậm và có
xu hớng chững lại vì diện tích trồng lúa ngày càng bị thu hẹp do tốc độ đô thị
hoá gia tăng (Beachel, H.M 1972) [36]. Giá lúa tăng chậm trong khi đó giá vật
t đầu vào tăng cao không khuyến khích nông dân trồng lúa, hệ số sử dụng
ruộng đất khó có thể tăng cao hơn nữa (ví dụ ở Việt Nam nhiều nơi đã trồng
tới 3 vụ lúa/năm), nông dân chuyển diện tích trồng lúa sang trồng các cây

10
khác và nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả kinh tế cao hơn hoặc chuyển sang
trồng các giống lúa có chất lợng cao mặc dù năng suất thấp hơn.
1.2.2. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam là một nớc trồng lúa trọng điểm trên thế giới, ngời Việt
Nam vẫn thờng tự hào về nền văn minh lúa nớc của đất nớc mình. Từ xa
xa cây lúa đã trở thành cây lơng thực chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng trong
đời sống của ngời dân Việt Nam (Bùi Huy Đáp, 1999) [3]. Suốt từ Bắc đến
Nam, đâu đâu cũng cũng thấy ngời dân trồng lúa, song diện tích tập trung
chủ yếu ở hai vùng châu thổ lớn đó là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng
sông Cửu Long. Quá trình khai hoang phục hoá cùng với việc thâm canh tăng
vụ đã đa tổng diện tích lúa thu hoạch của nớc ta từ 4,74 triệu ha năm 1961
lên 7,67 triệu ha năm 2000, sau đó giảm dần xuống còn 7,34 triệu ha vào năm
2005 (Nguyễn Thị Lẫm và cộng sự 2003). Cùng thời gian đó năng suất và sản
lợng lúa cũng tăng lên rõ rệt nhờ vào công cuộc cải cách về giống lúa và
ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về phân bón, tới tiêu, phòng trừ dịch
sâu, bệnh một cách hợp lý, đồng bộ. Tính từ năm 1961 đến năm 2005, năng

2001 7,49 42,9 32,11
2002 7,50 45,9 34,45
2003 7,45 46,4 34,57
2004 7,44 48,2 35,89
2005 7,34 49,5 36,34
(Nguồn FAOSTAT, 2006) [40]
Nhìn chung ngành sản xuất lúa của nớc ta đến nay đã đạt đợc nhiều
thành tựu quan trọng. Tuy nhiên một điều đáng chú ý là trong những năm gần
đây, ngợc lại với quá trình khai hoang phục hoá trong mấy thập kỷ trớc thì
quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đã và đang làm giảm đáng kể diện tích
đất nông nghiệp nói chung và dành cho sản xuất lúa nói riêng (Nguyễn Ngọc
Ngân 1998) [15]. Vì thế mặc dù việc thâm canh tăng vụ rất đợc chú trọng,
song tổng diện tích lúa thu hoạch hàng năm trong khoảng thời gian từ 2001 -
2005 đang giảm dần. Nếu so với năm 2000 thì diện tích lúa của nớc ta đã
giảm tới 330.000 ha. Ngoài ra nếu so sánh với các nớc trồng lúa tiên tiến nh
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan thì năng suất lúa của Việt Nam
vẫn còn kém xa (Itoh và cộng sự 2000) [45]. Mặc dù so với nhiều nớc trồng
lúa khác thì năng suất lúa của Việt Nam đã cao hơn hẳn. Vì thế để đảm bảo an

12
ninh lơng thực cho một quốc gia đông dân nh nớc ta và giữ vững vị thế là
một nớc xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới thì điều cần thiết là phải tiếp tục
đầu t thâm canh tăng vụ, lai tạo và nhập khẩu các giống mới có năng suất
cao, phẩm chất tốt, chống chịu tốt với sâu, bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất
lợi. Để nâng cao giá trị xuất khẩu, Nhà Nớc Việt Nam cũng đã có chiến lợc
phát triển 1 triệu ha lúa chất lợng cao phục vụ cho công tác xuất khẩu (Báo
Nhân Dân ngày 02/6/2004) [18].
1.3- Tình hình nghiên cứu lúa trong và ngoài nớc
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.3.1.1. Thu thập nguồn gen cây lúa và ứng dụng trong sản xuất

nớc châu lục có trồng cây lúa. Ngoài những nghiên cứu tập đoàn của từng
quốc gia còn có sự hợp tác chặt chẽ của các trung tâm nghiên cứu nông nghiệp
thế giới IRAT, ITA, WARDA(IRRI, 1997) [44].
1.3.1.2. Tình hình nghiên cứu giống lúa có chất lợng trên thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp, giống là t liệu sản xuất quan trọng không
kém gì đất đai, phân bón và công cụ sản xuất. Ngời dân Việt Nam đã đúc kết
thành câu ngạn ngữ: nhất nớc, nhì phân, tam cần, tứ giống. Nh vậy đủ thấy
giống cây trồng nói chung và giống lúa có tầm quan trọng nh thế nào. Nếu
không có giống thì không thể sản xuất ra một loại nông sản nào cả. Vì thế
việc nghiên cứu chọn lọc, lai tạo giống đã đợc các nhà khoa học, các viện
nghiên cứu và các trờng đại học nông nghiệp đặt u tiên hàng đầu. Vào đầu
những năm 1960, viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) đã đợc thành lập
tại Losbanos, Laguna, Philippin. Sau đó các viện nghiên cứu nông nghiệp
quốc tế khác cũng đợc thành lập ở các châu lục và tiểu vùng sinh thái khác
nhau nh IRAT, EAT, CIAT, ICRISAT (IRRI, 1997) [44]. Tại các viện này
việc chọn lọc và lai tạo các giống lúa cũng đợc u tiên hàng đầu. Chỉ tính
riêng viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) cũng đã lai tạo và đa ra sản

14
xuất hàng nghìn giống lúa các loại, trong đó tiêu biểu là các giống lúa nh:
IR5, IR6, IR8, IR30, IR34, IR64, Jasmin Đặc biệt là 2 giống IR64, và
Jasmin là những giống có phẩm chất gạo tốt, đợc trồng rộng rãi ở nhiều nơi
trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Hiện nay viện IRRI đang tập trung vào
nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa có năng suất siêu cao (siêu lúa) có thể
đạt 13 tấn/vụ, đồng thời tập trung vào nghiên cứu chọn tạo các giống lúa có
chất lợng cao (giàu vitamin A, giàu Protein, giàu Lisine, có mùi thơm ) để
vừa hỗ trợ các nớc giải quyết vấn đề an ninh lơng thực, vừa đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của ngời tiêu dùng (Cada, E.C 1997) [35].
Trung Quốc là một nớc trồng lúa hàng đầu trên thế giới nên công tác
giống đã đợc chú trọng đặc biệt. Vào những năm 1960, 1970 của thế kỷ

(ICRISAT). ấn Độ cũng là nớc có những giống lúa chất lợng cao nổi tiếng
trên thế giới nh: Basmati, Brimphun trong đó giống lúa Basmati có giá trị
trên thị trờng tới 850 USD/tấn (trong khi giống gạo thơm Thái Lan nổi tiếng
trên thế giới cũng chỉ có giá trị 460 USD/tấn), (Nông thôn 7/5/2004) [24].
Nhật Bản là một trong 10 nớc trồng lúa có sản lợng hàng đầu thế
giới, tuy diện tích trồng lúa không lớn. Điều đó đợc lý giải là do năng suất
lúa của Nhật Bản rất cao, thuộc loại hàng đầu thế giới. ở Nhật Bản ngời ta
chỉ trồng lúa 1 vụ/năm nên cây lúa đợc gieo trồng trong những điều kiện thời
tiết thuận lợi nhất. Công tác giống lúa của Nhật Bản đợc đặc biệt chú trọng vì
ngời Nhật Bản giàu có, ít ăn cơm nên đòi hỏi cơm phải ngon còn giá bán có
cao thì họ vẫn chấp nhận. Thực tế giá gạo tại Nhật Bản vào loại cao nhất thế
giới từ 5 - 10 USD/kg. Để đáp ứng thị hiếu tiêu dùng cao, các Viện và các
Trạm nghiên cứu giống lúa đợc thành lập ở hầu hết các tỉnh thành của Nhật
Bản, trong đó có các trung tâm quan trọng nhất đặt ở Sendai, Niigata, Nagoya,
Fukuoka, Kochi, Miyazaki, Saga, là những nơi có diện tích trồng lúa lớn.
Các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã lai tạo và đa ra các giống lúa vừa có
năng suất cao, vừa có phẩm chất tốt nh: Koshihikari, Sasanisiki,

16
Nipponbare, Koenshu, Minamisiki đặc biệt Giáo S Tiến Sĩ E.Tsuzuki đã
lai tạo đợc 2 giống lúa đặt tên là Miyazaki1 và Miyazaki 2. Giống Miyazaki
1 là kết quả lai tạo và chọn lọc từ tổ hợp lai Koshihikari và Brimphun của ấn
Độ. Đây là giống lúa có mùi thơm đặc biệt, chất lợng gạo ngon và năng
suất cao, có giá trị bán cao trên thị trờng. Giống Migazaki 2 là kết quả lai
tại giống Nipponbare và một giống lúa khác của ấn Độ. Giống này có hàm
lợng Protein cao tới 13% và đặc biệt là hàm lợng Lysin cũng rất cao. Cho
đến giờ, giống này vẫn giữ vị trí hàng đầu về 2 chỉ tiêu quan trọng này
(Nguyễn Hữu Hồng 1993) [9].
Từ lâu Thái Lan đã nổi tiếng là nớc xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Nớc này cũng đợc thiên nhiên u đãi với những vùng châu thổ trồng lúa

Nepan đến Bắc Việt Nam, do đó nguồn gen cây lúa Việt Nam rất phong phú,
có đợc điều đó là do những sự đa dạng ở Việt Nam nh:
* Sự đa dạng về thành phần dân tộc, nớc ta có 54 dân tộc anh em, ở mỗi dân
tộc có tập quán canh tác và thị hiếu tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp riêng biệt.
Theo nhận định của Vũ Thị Lập, ở trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng
62.400 loài thực vật bậc cao, trong đó có khoảng 150 loài cây có bột, 130 loài
cây ăn quả, 100 loài cây có dầu, 90 loài cây có sợi, 8000 loài cây gỗ, 1863
loài cây dợc liệu .
Theo Lu Ngọc Trình (1996) [30], hiện nay chúng ta đang khai thác sử
dụng khoảng 700 loài cây trồng, thuộc 70 chi thực vật. Tại ngân hàng gen
Quốc gia đã thu thập và bảo quản 6.000 giống lúa cổ truyền, dự kiến trong
vòng 2- 3 năm tới con số này có thể lớn đến 10.000.
Đối với cây lúa do đặc điểm khí hậu thời tiết, sự đa dạng về địa
hình, đa dạng về thành phần dân tộc, nghề trồng lúa và những tập quán
canh tác lâu đời của nhân dân ta, tạo nên sự đa dạng về quỹ gen cây lúa.

Trích đoạn Hình 3.1. Diễn biến diện tích lúa nếp qua các năm Bảng 3.8. Thời gian sinh tr−ởng của các giống lúa thí nghiệm Hình 3.2. Năng suất lý thuỷết và năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status