ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA THUẦN
CHẤT LƢỢNG CAO TẠI TUYÊN QUANG
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Mã số : 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng
TS. Trần Trung Kiên Thái Nguyên, năm 2012
Nguyên, Phòng Quản lý đào tạo sau đại học, Khoa Nông học, Trại Thực
nghiệm - Trường Trung học Kinh tế kỹ thuật Tuyên Quang, Trung tâm
Khuyến nông Tuyên Quang, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và
gia đình.
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
1. PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng, TS. Trần Trung Kiên – Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, các thầy đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực
hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
2. Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo sau đại học, Khoa Nông học
và các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.
3. Phòng Kiểm nghiệm sản phẩm, giống cây trồng và phân bón (Trung
tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón Quốc gia), Sở
Nông nghiệp và PTNT Tuyên Quang, Trung tâm Thực nghiệm thực hành và
Chuyển giao khoa học công nghệ - Trường Cao đẳng Tuyên Quang, Trung
tâm Khuyến nông Tuyên Quang, cấp uỷ, chính quyền và nhân dân xã Hào
Phú (Sơn Dương), xã Mỹ Bằng (Yên Sơn), cùng bạn bè đồng nghiệp và người
thân đã quan tâm giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực
hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả Trần Thị Nhung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
iv
2.3. Nội dung nghiên cứu 38
2.4. Phương pháp nghiên cứu 39
2.4.1. Thí nghiệm so sánh giống 39
2.4.2. Xây dựng mô hình trình diễn 48
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 49
3.1. Kết quả thí nghiệm so sánh các giống lúa 49
3.1.1. Sinh trưởng của mạ 49
3.1.2. Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm 51
3.1.3. Khả năng đẻ nhánh các giống lúa thí nghiệm 53
3.1.4. Về khả năng nhiễm sâu bệnh hại và chống chịu với điều kiện bất
lợi 56
3.1.5. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất lúa 58
3.1.6. Năng suất thực thu của các giống thí nghiệm 63
3.1.7. Chỉ tiêu chất lượng gạo qua phân tích 65
3.1.8. Phẩm chất cơm các giống lúa qua đánh giá cảm quan 69
3.2. Kết quả mô hình trình diễn 70
3.2.1. Quy mô và kết quả xây dựng mô hình trình diễn 70
3.2.2. Đánh giá của người dân đối với các giống xây dựng mô hình trong
vụ xuân 2012 72
3.2.3. Hiệu quả kinh tế của các giống lúa thử nghiệm 73
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
BVTV
nghiệm 50
Bảng 3.2. Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm 51
Bảng 3.3. Khả năng đẻ nhánh của các giống thí nghiệm 55
Bảng 3.4. Mức độ nhiễm sâu bệnh và chống chịu của các giống thí
nghiệm 57
Bảng 3.5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của
các giống lúa tham gia thí nghiệm 59
Bảng 3.6. Năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm 64
Bảng 3.7. Một số chỉ tiêu phân tích chất lượng gạo của giống lúa thí
nghiệm 66
Bảng 3.8. Phẩm chất cơm các giống lúa thí nghiệm 70
Bảng 3.9. Kết quả trình diễn giống có triển vọng trong vụ Xuân 2012 71
Bảng 3.10. Kết quả lựa chọn giống lúa mới của nông dân 72
Bảng 3.11. Hạch toán kinh tế cho 1 ha gieo cấy giống chất lượng 73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1. So sánh năng suất thực thu của 8 giống lúa thí nghiệm 65
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
km
2
(586.000ha), trong đó: Đất lâm nghiệp: 357.354,3 ha, đất nông nghiệp:
71.979,8 ha (đất lúa 28.284 ha; đất màu 20.434 ha; đất trồng cây lâu năm
8.113,3 ha). Trong thời gian qua, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được ứng
dụng vào sản xuất, nhất là lĩnh vực giống cây trồng, thuỷ lợi, phân bón Nhờ
vậy, năng suất cây trồng của tỉnh đã liên tục tăng. Năm 2010, tổng sản lượng
lương thực (lúa và ngô) toàn tỉnh đạt 33,5 vạn tấn, bình quân lương thực đầu
người đạt 450 kg/người/năm.
So với 10 năm trước đây, năng suất và sản lượng lúa của Tuyên Quang
đã tăng gần gấp 2 lần. Sở dĩ đạt được kết quả trên là do tỉnh đã đưa một số
tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, đặc biệt là công tác giống. Mấy
năm gần đây, mặc dù tỉnh Tuyên Quang đã đưa vào sản xuất một số giống lúa
năng suất cao như: Lúa thuần Khang dân 18 (KD18), HT1 ; lúa lai Trung
Quốc như Sán ưu 63, Nhị ưu 63, Nhị ưu 838 , song, hầu hết là giống có chất
lượng gạo chưa ngon, giá bán không cao, dẫn đến thu nhập của người nông
dân chưa được cải thiện. Hiện nay, nhu cầu sử dụng gạo chất lượng cao tại
Tuyên Quang khá cao, một số địa phương trong tỉnh như Thành phố Tuyên
Quang, các huyện Yên Sơn, Hàm Yên, Sơn Dương có điều kiện đất đai, khí
hậu phù hợp để phát triển gieo trồng lúa chất lượng cao, tuy nhiên do chưa
được quan tâm đúng mức, nhất là về bộ giống nên diện tích và hiệu quả gieo
trồng còn thấp.
Do đó để lựa chọn được giống lúa vừa đảm bảo năng suất cao, chất
lượng ngon, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt và thích nghi với điều kiện
ngoại cảnh của Tuyên Quang, không ảnh hưởng đến sản xuất vụ 3 là yêu cầu
hết sức cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả
năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa thuần chất lượng cao tại
Tuyên Quang".
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
- Lựa chọn các giống lúa có năng suất, chất lượng cao và khả năng
chống chịu tốt, góp phần mở rộng diện tích các giống lúa chất lượng cao làm
tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích.
- Thay đổi cơ cấu giống lúa phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã
hội vừa thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng
hoá, vừa là nhân tố làm ổn định và bảo vệ môi trường.
- Việc ứng dụng thành công những giống lúa có chất lượng gạo ngon,
không những đáp ứng được nhu cầu thị hiếu hiện nay của người dân địa
phương mà còn thoả mãn được nhu cầu sử dụng gạo chất lượng cao cho phát
triển du lịch đang phát triển của tỉnh và nhu cầu tiêu dùng của các tỉnh lân cận.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
1.1.1. Cơ sở khoa học
Lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng của khoảng 3 tỷ người trên thế
giới. Trong khi dân số thế giới tiếp tục tăng thì diện tích đất dùng cho trồng
lúa không những không tăng mà còn đang bị suy giảm. Do đó, vấn đề lương
thực được đặt ra như mối đe dọa đến an ninh và ổn định của Thế giới trong
tương lai. Theo dự đoán của các chuyên gia dân số học, nếu dân số thế giới
tiếp tục tăng trong vòng 20 năm tới thì sản lượng lúa gạo phải tăng 80% mới
đáp ứng đủ nhu cầu sống còn của số dân mới.
Thực tế trong những năm qua, Việt Nam đã có những nỗ lực rất lớn
trong việc nâng cao sản lượng lương thực để vừa cung cấp đủ lương thực cho
xuất khá nhanh, thuận lợi cho việc phát triển vùng chuyên canh sản xuất các
giống lúa chất lượng cao tham gia vào thị trường. Những năm gần đây, sản
xuất nông nghiệp tại Tuyên Quang tăng trưởng rõ nét cả về số lượng cũng
như chất lượng, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lúa gạo.Với diện tích tuy
không lớn, đứng thứ bốn mươi bốn so với cả nước và đứng thứ năm trong
vùng trung miền núi phía Bắc, nhưng do làm tốt việc cải tiến các khâu kỹ
thuật từ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật thâm canh mới về giống, bón phân cân
đối, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ
lợi…nên năng suất lúa của Tuyên Quang đạt cao nhất so với các tỉnh trong
vùng trung du miền núi phía Bắc, đồng thời cao hơn bình quân chung của các
tỉnh miền Bắc và của cả nước. Sản lượng lúa năm 2008 đạt trên 255 ngàn tấn,
đứng thứ tư trong vùng sau Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ. Do ứng dụng
nhanh các giải pháp kỹ thuật đã góp phần đưa năng suất lúa tăng từ 37,02tạ/
ha năm 1996 lên 56,7tạ/ha năm 2008, lương thực bình quân đầu người tăng từ
231kg/người năm 1996 lên 450kg/ người năm 2010 (Sở Nông nghiệp và
PTNT Tuyên Quang, 2011)[34].
Hiện nay, diện tích gieo cấy lúa của Tuyên Quang ổn định khoảng 45.000 ha.
Năm 1996, diện tích gieo cấy lúa là 40.508 ha, do làm tốt công tác thuỷ lợi, kiên
cố kênh mương nên diện tích gieo cấy lúa đạt cao nhất là 47.054 ha vào năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
2003, sau đó giảm dần do xây dựng công trình thuỷ điện Tuyên Quang tại
huyện Na Hang và một phần diện tích lúa có hiệu quả thấp chuyển đổi sang
trồng cây khác. Đến năm 2008, diện tích gieo cấy lúa là 45.000 ha.
Với chủ trương mở rộng diện tích gieo cấy lúa lai và cải tiến bộ giống
lúa thuần nên năng suất lúa trung bình của tỉnh Tuyên Quang đã tăng từ 37,02
tạ/ha năm 1996 lên 56,7 tạ/ha năm 2008, từ đó góp phần quan trọng trong
việc tăng nhanh sản lượng lương thực của tỉnh. Năm 1996, diện tích gieo cấy
lúa lai của tỉnh mới chiếm 15 % tổng diện tích, đến năm 2008 diện tích gieo
Các giống chất lượng mới chỉ tập trung vào giống lúa Hương thơm số 1 và
một ít diện tích Bắc thơm số 7 và Hương cốm. Tuy nhiên, chưa có một nghiên
cứu nào ở trong tỉnh đề cập đến hiệu quả và những hạn chế của các giống lúa
này, đồng thời cũng cần bổ sung một số giống lúa mới chất lượng cao, năng
suất khá vào sản xuất nhằm đa dạng cơ cấu giống lúa chất lượng cao góp phần
tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế từ sản xuất lúa.
1.2. Nhu cầu lƣơng thực trong nƣớc và trên thế giới
1.2.1. Nhu cầu lương thực trên thế giới
Gạo là lương thực quan trọng trong những bữa ăn hàng ngày của người
dân ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Châu Á gạo là nguồn cung cấp calori
chủ yếu, đóng góp 56 % năng lượng, 42,9 % protein hàng ngày [35]. Nó đặc
biệt quan trọng đối với những người nghèo, khi mà lương thực cung cấp tới
70 % năng lượng và protein thông qua bữa ăn hàng ngày.
Tuỳ theo truyền thống ẩm thực và thu nhập của các quốc gia, bộ phận
dân cư khác nhau mà yêu cầu về chất lượng gạo cũng khác nhau.
Các nghiên cứu của Kaosai và Trung tâm thông tin Bộ nông nghiệp
(2001) [32] cho thấy: Tại thị trường Hồng Kông các loại gạo hạt dài, tỷ lệ gạo
nguyên cao, cơm mềm luôn được bán với giá cao. Tại Rome các loại gạo
Japonica được ưa chuộng. Trái lại khách hàng Tây Á và Italia lại ưa chuộng
gạo đục và cơm cứng. Người Nhật Bản ưa gạo tròn, mềm ướt, thật trắng
không có mùi thơm. Còn thị trường và người Thái Lan lại thích gạo hạt dài,
cơm khô.
Những nơi mà gạo là lương thực thứ yếu (Châu Âu) thì họ yêu cầu loại
gạo tốt. Gạo 5 – 10% tấm được tiêu thụ nhiều ở Tây Âu và 10-13% ở các
nước Đông Âu. Ngày nay, loại gạo hạt dài chiếm ưu thế trên thị trường Tây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Âu. Một số nước như Hà Lan, Bỉ, Thuỵ Sĩ, Anh và một số vùng nước Pháp có
chiều hướng tăng các món ăn phương Đông nên sử dụng nhiều loại gạo hạt
10
- Xuất khẩu: Giai đoạn 1995-2004, lượng gạo xuất khẩu trên thế giới
hàng năm khoảng 23- 25 triệu tấn/năm (chiếm trên 6% tổng sản lượng gạo),
bình quân tăng 3%/năm. Năm 2007, mức xuất khẩu gạo đạt mức 30,2 triệu tấn
(tăng 3,4% so với năm 2006). Châu Á chiếm 77% lượng gạo xuất khẩu của
Thế giới. Có trên 20 nước tham gia xuất khẩu gạo, trong đó 7 nước xuất khẩu
gạo chủ lực gồm: Thái Lan, Việt Nam, Mỹ, Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc,
Myanma chiếm 85% tổng khối lượng gạo xuất khẩu trên toàn thế giới.
- Nhập khẩu: Hiện nay có khoảng 80 nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu
gạo, trong đó chủ lực là các nước thuộc châu Á như: Philippin, Inđônêxia,
Banglades; khu vực châu Phi, Trung Đông và một số các nước thuộc khu vực
Trung Mỹ nhập khẩu lượng gạo khá lớn.
- Giá gạo thị trường thế giới: Giai đoạn 1995-2000 diễn biến trong
khoảng 220-250 USD/tấn (loại 25% tấm); giai đoạn 2001-2005 giá gạo Thế
giới xuống thấp dao động trong khoảng 160-200 USD/tấn. Từ 2006 trở lại đây
giá gạo liên tục tăng, đặc biệt vào cuối 2007 đầu năm 2008 giá gạo tăng kỷ
lục do nguồn cung bị hạn chế, giá gạo giao dịch trên thị trường thế giới đã đạt
trong khoảng 800 - 1.000 USD/tấn. Hiện nay giá gạo đã giảm xuống còn
khoảng 450-500 USD/tấn FBO loại 5% tấm. Theo dự báo giá gạo sẽ tăng
trong thời gian tới.
Dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên thế giới đến năm 2020 (Bộ
Nông nghiệp & PTNT, 2008) [3]:
- Trong 10 năm tới, sản xuất lúa gạo trên thế giới tăng chậm do hạn chế
việc mở rộng diện tích gieo cấy, một số nước có diện tích lúa lớn có xu hướng
giảm và năng suất lúa kém ổn định khi phải chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch
bệnh và giá vật tư, phân bón tăng.
+ Diện tích sản xuất lúa: Trong 10 năm tới, dự báo diện tích trồng lúa sẽ
không có khả năng tăng nhiều và ở mức khoảng 151,5 triệu ha. Hầu hết các
nước châu Á đều không có hoặc có rất ít khả năng mở rộng diện tích đất trồng
lúa. Một số nước như Thái Lan, Inđônêxia, Tiểu vùng Sahara của châu Phi có
khi nhu cầu nhập khẩu gạo tăng, nguồn cung thị trường gạo sẽ thiếu hụt so
với cầu, giá gạo trên thị trường thế giới giữ ở mức khá cao. Dự báo lượng gạo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
thương mại trên thế giới trong thập kỷ tới sẽ tăng bình quân 2,4%/năm và sẽ
đạt mức 35 triệu tấn vào năm 2017. Tuy nhiên, trước nguy cơ khủng hoảng
lương thực toàn cầu, để đảm bảo an ninh lương thực trong nước, một số nước
như Trung Quốc, Ấn độ, Pakistan, Mỹ giảm lượng gạo xuất khẩu, trong khi
nhiều nước tăng lượng nhập khẩu như Philippin, Inđônêxia, Bangladesh và
Tiểu vùng Sahara của châu Phi, Trung Đông, một số nước Tây bán cầu thiếu
hụt nguồn cung sẽ làm cho giá gạo thế giới duy trì giữ ở mức cao trong trung
và dài hạn.
Phát biểu với các nhà lãnh đạo thế giới tại Hội nghị thượng đỉnh lương
thực vào tháng 6 năm 2008 ở Rome (Italia), Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban
Ki-Moon cho rằng: Lương thực của thế giới cần phải tăng thêm 50% vào năm
2030 mới đáp ứng được nhu cầu sử dụng lương thực do dân số gia tăng [1].
1.2.2. Nhu cầu trong nước
Trong những năm trước đổi mới, nước ta là quốc gia triền miên thiếu
lương thực. Năm 1986, cả nước sản xuất đạt 18,37 triệu tấn lương thực, sang
năm 1987 lại giảm chỉ còn 17,5 triệu tấn trong khi dân số tăng thêm 1,5 triệu
người. Ở Miền Bắc, Nhà nước đã phải nhập khẩu 1,28 triệu tấn để thêm vào
cân đối lương thực nhưng vẫn không đủ, vẫn có đến 9,3 triệu người thiếu ăn
trong đó có 3,6 triệu người bị đói gay gắt. Từ năm 1989 chúng ta đã giải
quyết được vấn đề lương thực thoả mãn nhu cầu lương thực trong nước và bắt
đầu tham gia vào thị trường xuất khẩu. Đến nay, Việt Nam là nước xuất khẩu
gạo lớn thứ 2 thế giới. Tuy nhiên chất lượng gạo của ta vẫn còn kém: Bạc
bụng, độ dài hạt trung bình, hương vị kém…nguyên nhân là do chúng ta chưa
có được bộ giống lúa chất lượng cao trong khi xu hướng về gạo phẩm chất
cao trên thị trường Châu Á và Châu Mỹ ngày càng cao. Cùng với việc hội
2008
2009
2010
Diện tích
(triệu ha)
154,987
155,610
159,869
158,510
158,592
159,461
Năng suất
(tấn/ha)
40,935
41,206
42,347
43,100
43,189
43,680
Sản lượng
(triệu tấn)
634,455
641,120
656,970
689,082
684,595
696,324
Nguồn: FAOSTAT, 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
33,828
143,963
Indonexia
12,883
49,985
64,398
13,253
50,152
57,157
Bangladet
11,353
42,035
47,724
11,700
42,787
50,061
Thái Lan
11,141
28,826
32,116
10,990
28,751
31,579
Việt Nam
7,437
52,372
38,950
7,513
52,121
39,988
ha, sau đó là Trung Quốc có diện tích trồng lúa là 29,179 triệu ha (bảng 1.2).
Có thể nói, tình hình sản xuất lúa trên thế giới đang có xu hướng tăng
dần nhưng tăng rất chậm, sản lượng năm 2005 là 623,272 triệu tấn và đến
năm 2010 là 660,278 triệu tấn. Tuy nhiên, với tốc độ tăng dân số như hiện nay
cần phải nâng cao hơn nữa năng suất, sản lượng cũng như chất lượng mới
đảm bảo được vấn đề an ninh lương thực của toàn xã hội.
1.3.2. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Nằm gần giữa vùng Đông Nam Châu Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc
biệt là lượng bức xạ mặt trời cao, Việt Nam rất thích hợp với sự phát triển của
cây lúa. Với nhiều đồng bằng châu thổ rộng lớn có lượng phù sa bồi đắp,
tương đối bằng phẳng và màu mỡ từ Bắc tới Nam (Đồng bằng sông Hồng,
Đồng bằng sông Cửu Long…) cùng một loạt châu thổ nhỏ hẹp ở ven sông,
ven biển miền Trung. Cũng giống như các đồng bằng của các nước Đông
Nam Á khác, đồng bằng châu thổ Việt Nam đều được dùng trong sản xuất
nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa. Chính vì thế, Việt Nam có thể là cái nôi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
hình thành cây lúa nước, từ lâu nó đã trở thành cây lương thực chủ yếu và có
ý nghĩa to lớn trong nền kinh tế nước ta.
Trước năm 1945, diện tích trồng lúa ở nước ta là 4,5 triệu ha, năng suất trung
bình đạt 1,3 tấn/ha, sản lượng đạt 5,4 triệu tấn. Sở dĩ năng suất lúa thấp như vậy là
do trình độ kỹ thuật lạc hậu, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên.
Từ những năm 60 trở đi, do dân số ngày càng tăng dẫn tới nhu cầu lương
thực ngày càng lớn trong khi diện tích đất nông nghiệp có phần bị thu hẹp. Vì
vậy việc cung cấp đủ lương thực cho dân số ngày một tăng thực sự là một thách
thức lớn.
Nhờ chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước cùng với sự phát triển
của khoa học kỹ thuật như việc sử dụng các giống lúa mới năng suất cao, thay
đổi cơ cấu Mùa vụ, cải tạo đất, xây dựng hệ thống thuỷ lợi…dẫn tới năng suất
7,33
48,9
35,83
5,20
1399
2006
7,32
48,9
35,82
4,75
1306
2007
7,20
49,8
35,87
4,50
1454
2008
7,40
52,2
38,63
4,72
2902
2009
7,44
52,3
38,90
6,10
2664
2010
17
Đây là cơ sở cho các nhà chọn giống nghiên cứu, đánh giá chất lượng
của các dòng giống lúa.
* Chất lượng xay xát
Chất lượng xay xát được xem xét ở 2 chỉ tiêu chủ yếu đó là tỷ lệ gạo lật và
gạo xát tính theo % trọng lượng của thóc; tỷ lệ gạo nguyên tính theo % trọng
lượng gạo xát. Thóc có chất lượng xay xát tốt là thóc sau khi xát cho tỷ lệ gạo
tổng số và gạo nguyên cao. Xay xát thực chất là quá trình loại bỏ vỏ trấu,
phôi và vỏ cám. Khi loại bỏ các thành phần này thì hàm lượng của cellulose
và lipid bị giảm xuống rõ rệt. Khi giảm hàm lượng cellulose ở ngoài sẽ giúp
tăng khả năng tiêu hoá, còn khi giảm hàm lượng lipid sẽ làm tăng khả năng
bảo quản. Việc loại bỏ phôi và vỏ cám cũng sẽ làm giảm hàm lượng protein,
có thể làm giảm được sự mất mát nhiều dinh dưỡng do xay xát bằng kỹ thuật
xử lý thuỷ nhiệt, ngâm vớt thóc, hấp phơi khô rồi mới xát. Khi thu hoạch lúa
phải xác định đúng thời điểm chín sinh lý thì mới đạt tỷ lệ gạo nguyên cao.
Tỷ lệ vỏ trấu trung bình từ 20-22% và có thể thay đổi từ 16-26%. Cám và
phôi hạt chiếm 10%. Do đó tỷ lệ gạo trắng thường ở khoảng 70%. Tỷ lệ gạo
trắng thường ít biến động và nó cũng phụ thuộc ít vào môi trường (Bùi Chí Bửu
và cs, 2000)[5]. Tỷ lệ gạo nguyên biến động rất lớn. Đây là một tính trạng di
truyền và chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường, đặc biệt là nhiệt độ và độ ẩm
trong thời gian chín và sau thu hoạch.
Theo Ngô Quốc Trung (2007), hàm lượng trấu của lúa Việt Nam rải rộng
(18,18 đến 26.9%), các giống lúa ở Miền Nam gieo trồng trong vụ hè thu có
hàm lượng vỏ trấu gần như nhau, các giống lúa gieo trồng vụ Xuân Hè có hàm
lượng trấu cao nhất.
* Chất lượng thương phẩm
Chất lượng thương phẩm là tiêu chuẩn dùng để mua bán, trao đổi trong
nước và quốc tế. Chất lượng thương phẩm căn cứ vào: hình dạng, chiều dài,
chiều rộng, độ bóng, độ trong, độ bạc bụng và màu sắc hạt gạo. Hạt gạo càng