ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG THỊ MAI DUYÊN
Tên đề tài:
“ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC VỤ XUÂN NĂM 2014 TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa : Nông học
Khóa học : 2013 – 2015
Thái Nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG THỊ MAI DUYÊN
Tên đề tài:
“ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC VỤ XUÂN NĂM 2014 TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa : Nông học
Lớp : K9 - LTTT
Khóa học : 2013 – 2015
Giảng viên hướng dẫn : Th.S.Ma Thị Phương Thái Nguyên, năm 2014
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Thành phần dinh dưỡng của một số cây có dầu 6
Bảng 4.7: Kết quả xử lý IRRISTAT của NSTT của các giống lạc tham gia thí
nghiệm 41DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Đ/C : Đối chứng
CSDTL : Chỉ số diện tích lá
KNTLVCK: Khả năng tích lũy vật chất khô
M
1000
hạt : Khối lượng 1000 hạt
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
CV : Hệ số biến động
LSD : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
FAO : Tổ chức lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp quốc
MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Yêu cầu của đề tài 2
2.4. Tình hình sản xuất lạc tại Thái Nguyên 18
Phần 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 20
3.1.3.Địa điểm và thời gian tiến hành thí nghiệm 20
3.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 20
3.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
3.2.2. Quy trình kỹ thuật trồng trọt áp dụng trong thí nghiệm 21
3.3. Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 22
3.3.1. Chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển: 22
3.3.2. Chỉ tiêu về hình thái: 22
3.3.3. Chỉ tiêu sinh lý: 22
3.3.4. Đánh giá tính chống chịu sâu bệnh: 24
3.3.5. Chỉ tiêu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 25
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây lạc (Arachis hypogaea. L) là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị
kinh tế lớn, có giá trị dinh dưỡng cao. Trong hạt có chứa từ 40 – 60% lipit, 24
– 26% protein, 2 – 4,5% xenlulo, 1,8 – 4,6 tro. Ngoài ra trong hạt lạc còn
chứa nhiều vitamin A, B1, B2, B6, PP… (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn,
1979) [3]. Lạc có nhiều các axit amin quý không thể thay thế như lyzin,
phenylalain… Lạc là một loại thức ăn bổ dinh dưỡng quan trọng trong khẩu
phần thức ăn. Đặc biệt ở các nước thường dùng hạt ngũ cốc trong khẩu phần
thức ăn như nước ta. Với đầy đủ các axit amin dầu lạc có thể thay thế hoàn
toàn cho đạm động vật giúp ta tránh được các bệnh như: Xơ cứu động mạch,
bệnh về tim mạch (bệnh do chất nholesterol hay chất ncleoablminoid có trong
protein và mỡ động vật gây nên).
Cây lạc ngoài có giá trị cung cấp dinh dưỡng cho con người còn là
nguồn thức ăn rất tốt cho chăn nuôi gia súc. Sản phẩm phụ của lạc trong công
nghiệp ép dầu là nguồn bổ xung chất béo quan trọng trong chế biến thức ăn
tổng hợp cho chăn nuôi gia súc, gia cầm, đặc biệt là trâu, bò sữa. Đây là một
trong những yếu tố góp phần quan trọng trong việc phát triển chăn nuôi. Bên
cạnh những giá trị về mặt dinh dưỡng và hàng hóa cây lạc còn có giá trị quan
trọng về mặt sinh học. Rễ còn có khả năng cố định đạm từ ni tơ tự do của khí
trời thong qua hệ thống vi sinh vật cộng sinh đó là vi khuẩn rizobiumvigna có
trong các nốt sần ở rễ. Nhờ vậy mà cây lạc có thể trồng được trên đất nghèo
dinh dưỡng mà vẫn cho thu hoạch, đồng thời có giá trị cải tạo đất. Chính vì
vậy trong các loại cây họ đậu đỗ thì cây lạc đóng vai trò quan trọng trong hệ
canh tác đất dốc miền núi. Trồng lạc trên đất dốc không những mang lại hiệu
quả kinh tế mà còn có tác dụng tăng độ phì cho đất.
LỜI CẢM ƠN
giống lạc tham gia thí nghiệm thí nghiệm.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập
- Giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống hóa những kiến thức đã học
để áp dụng vào thực tế. Đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp cận
với những phương pháp nghiên cứu khoa học tạo điều kiện cho sinh viên có
thêm kiến thức và kinh nghiệm thưc tế.
1.4.2. Ý nghĩa thực tế
- Chọn ra giống có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất
cao phù hợp với điều kiện vụ xuân ở tỉnh Thái Nguyên. 4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
5
2.1.2. Phân loại
Lạc trồng thuộc: Họ phụ cánh bướm Fabaceae
Chi: Arachics
Loài: Lạc trồng Archis Hypogaea.L (1753)
2.1.2.1. Phân loại dựa vào dặc điểm thực vật học
Căn cứ vào đặc điểm thực vật học: Tính trạng, kích thước và thời gian
sinh trưởng chia làm 3 loại hình khác nhau.
+ Căn cứ vào thời gian sinh trưởng của các giống được chia làm 3
nhóm chính:
- Nhóm chín sớm có thời gian sinh trưởng 130 ngày.
- Nhóm chín sớm trung bình có thời gian sinh trưởng lớn hơn
130 - 160 ngày.
- Nhóm chín muộn có thời gian sinh trưởng lớn lớn hơn 160 ngày.
+ Căn cứ vào kích thước hạt chia làm 3 loại:
- Loại hạt to: Có khối lượng P
1000
hạt lớn hơn hoặc bằng 70g.
- Loại hạt trung bình: Có khối lượng P
1000
hạt lớn hơn hoặc bằng
50 - 70g.
- Loại hạt nhỏ: Có khối lượng nhỏ hơn 50g.
2.1.2.2. Phân loại theo loài
a. Phân loại theo loài có nhiều tác giả phân loài khác nhau từ một
loài được phân làm hai loài phụ, từ hai loài phụ được phân thành bốn thứ
khác nhau.
Arrachis (loài) :
+ Hypogaea (Loài phụ): Hypogace (Thứ 1) và Histusa (Thứ 2)
+ Patigiata (Loài phụ): Pastigiata (Thứ 3) và Vulgais (Thứ 4)
(Nguồn: Ưng Định, Đặng Phú, 1978)[4]
Qua bảng cho thấy hàm lượng dầu trong hạt lạc cao chiếm 40 – 60%,
tương đương với vừng (46 -61%) và hướng dương (40 – 68,8%), và cao hơn
nhiều so với đậu tương (10 – 28%). Do vậy lạc là một trong những cây cung
cấp dầu chủ yếu cho nghành công nghiệp ép dầu thực vật.
Hàm lượng đạm trong lạc là 20 – 33,7% cao hơn vừng (17,6 – 27%)
xấp xỉ bằng hướng dương (21 – 34,4%) và thấp hơn đậu tương (35 – 52%).
7
Riêng hàm lượng đường tinh bột trong lạc là 6 – 22% thấp hơn của đậu
tương (28%), cao hơn của hướng dương (2 – 6,5%). Tuy lượng đường tinh
bột không cao nhưng khả năng cung cấp năng lượng của nó rất lớn. Trung
bình cứ 100g lạc cung cấp 590calo trong khi đó ở đậu tương là 411calo, gạo
tẻ là 353calo, thịt lợn nạc 286calo
Ngoài ra trong hạt lạc còn chứa các chất khoáng chiếm tỷ lệ 1,8 – 4,6%
thấp hơn so với đậu tương (4,4 – 6,0%) vừng (3,3 – 7%), hướng dương (3,2 –
5,4%). Tuy hàm lượng khoáng trong hạt lạc không đáng kể nhưng nó chứa
đầy đủ các vitamin như: A, B1, B6, PP, E Đặc biệt trong hạt lạc còn chứa
đủ 8 axit amin không thay thế là: Phenilalanin, Lycin, Triptophan, Metionin,
Trionin, Lơxin, Izo lơxin, Valin (Chu Thị Thơm và Cộng Sự, 2006) [11].
2.2.2. Giá trị kinh tế của cây lạc
Lạc ngoài được dùng làm thực phẩm và các mặt hàng có giá trị như:
Lạc rút dầu, bơ lạc, kẹo lạc, thì nó còn là thức ăn tốt cho gia súc, các sản
phẩm như: Khô dầu lạc, thân lá (làm thức ăn xanh) và vỏ lạc đều có thể làm
thức ăn cho gia súc. Trong khô dầu rất giàu protein và lipit.
Hàm lượng dinh dưỡng của một số loại khô dầu dùng cho chăn nuôi
được thể hiện qua bảng 2.2.
Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của một số khô dầu thực vật trong
chăn nuôi
(Đơn vị: %)
2.3.1. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Trong các loài cây trồng làm thực phẩm cho con người, lạc có vị trí
quan trọng. Mặc dù cây lạc đã có từ lâu đời, nhưng vai trò kinh tế của lạc chỉ
mới được xác định trên 100 năm trở lại đây. Trên thế giới hiện nay, nhu cầu
sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng, đã và đang khuyến khích nhiều Nước
đầu tư phát triển sản xuất lạc với quy mô ngày càng mở rộng.
9
Trên thế giới có hơn 100 nước trồng lạc. Lạc là cây trồng đứng thứ hai
sau đậu tương về diện tích cũng như sản lượng. Nhờ khoa học kỹ thuật phát
triển nên hiện nay năng suất lạc trung bình của thế giới ngày càng được nâng
cao với diện tích lạc trên thế giới hiện nay là hơn 24 triệu ha, năng suất trung
bình là 15,3 tạ/ha, sản lượng 35 triệu tấn quả khô (FAOSTAT, 2014) [9]. Diện
tích, sản lượng lạc của một số nước trên thế giới được thể hiện qua (bảng 2.3).
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới
giai đoạn (2009 – 2012)
Chỉ tiêuNăm
Diện tích
(Triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
2009 0,872 22,21 19,482
2010 0,952 97,09 99,588
2011 0,213 22,59 23,343
2012 20,37 219,33 233,33
Bảng 4.2: Đặc điểm hình thái của các giống lạc tham gia thí nghiệm vụ xuân
năm 2014 31
Bảng 4.3: Chỉ số diện tích lá và khả năng tích lũy vật chất khô của các giống
lạc trong vụ xuân 2014 34
Bảng 4.4: Khả năng hình thành nốt sần của các giống lạc tham gia thí nghiệm
36
Bảng 4.5: Mức độ sâu bệnh hại các giống lạc tham gia thí nghiệm: 38
Bảng 4.6: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lạc tham
gia thí nghiệm 39
Bảng 4.7: Kết quả xử lý IRRISTAT của NSTT của các giống lạc tham gia thí
nghiệm 41
11
Ấn Độ (14,560 triệu tấn). Argentina có sản lượng lạc thấp nhất là 00,335
triệu tấn.
2.3.2. Tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới
Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người về năng suất cũng như
phẩm chất cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng. Trên Thế giới đã có
những phương hướng để tạo ra giống năng suất cao, phẩm chất tốt, đồng thời
cải tiến được kỹ thuật canh tác. Mục tiêu của các nhà chọn tạo giống là tạo ra
những giống có năng suất cao, có khả năng kháng bệnh và chống chịu tốt với
những điều kiện ngoại cảnh bất lợi phù hợp với từng vùng sinh thái khác
Ấn Độ là nước đạt nhiều thành tựu lớn trong tác chọn giống bằng nhiều
cách như nhập nội, lai tạo, gây đột biến. Trong đó, giống lạc điển hình là
Birsa bold (BAUB) do trường Đại học Nông Nghiệp Birsa Ấn Độ tạo ra từ tổ
hợp lai giữa BAU với ML3. Đây là giống lạc đường dùng để sản xuất bánh
kẹo hảo hạng bởi vì giống có đủ tiêu chuẩn cần thiết cho lạc xuất khẩu: vỏ lụa
mầu đỏ rất hấp dẫn, năng suất trung bình đạt khá cao (36 tạ/ha), thời gian sinh
trưởng 125 ngày, có khả năng kháng trung bình với nhóm nấm Aspergillus,
thích ứng rộng.
Có 3 giống lạc mới được công nhận ở Gujarat (Ấn Độ) do chọn tạo là
GG5, GG13 và GG20 (Thông tin nông nghiệp, 1998) [10].
- Giống GG5: Chọn từ tổ hợp lai 27 – 5- 1x JL24 thuộc loại giống ngắn
ngày (101 ngày). Hạt có độ đồng đều và tỷ lệ hạt chắc cao, cây mọc thẳng, tốc
độ sinh trưởng nhanh, quả không có eo, khối lượng 100 hạt bằng 44,6g, vỏ
hạt màu hồng , tỷ lệ nhân 73,7%, hàm lượng dầu 48,8%. Giống GG5 không
có đặc điểm ngủ nghỉ tươi và cho năng suất cao.
- Giống GG20
chọn từ tổ hợp lai GAUG 10 x R33-1 thuộc loại giống
ngắn ngày (109 ngày). Hạt có độ đồng đều và tỷ lệ hạt đồng đều và tỷ lệ hạt
13
chắc cao. Quả 2 hạt, eo quả trung bình, khối lượng 100 hạt là 65,2g, vỏ lụa
màu hồng sẫm, tỷ lệ nhân 73,4%, hàm lượng dầu 50%. Giống GG
20
có đặc
tính ngủ nghỉ tươi, cho năng suất cao nên có thể trồng cả trong điều kiện khô
hanh và thâm canh không tưới.
- Giống GG13
chọn từ tổ hợp lai GAUG x TMV 10 thuộc loại chín
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(1000ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
2009 256 18,85 533
2010 389 19,35 400
2011 134 18,27 135
2012 521 20,50 540
(Nguồn: FAOSTAT, 2014) [9]
Về diện tích: Năm 2009 đạt 256 nghìn ha đến năm 2010 thì diện tích
có xu hướng tăng nhẹ lên 389 nghìn ha đến năm 2011 thì lại giảm diện tích
lạc xuống đáng kể đạt 134 nghìn ha giảm đi khá nhiều so với những năm gần
đây. Năm 2012 diện tích tăng cao vượt bậc đạt 521 nghìn ha.
Về năng suất: Nhờ áp dụng biện pháp kỹ thuật như che phủ nilon và sự
có mặt của nhiều giống mới làm cho năng suất của lạc của Việt Nam tăng lên
đáng kể, năm 2009 năng suất đạt 18,85 tạ/ha, đến năm 2010 năng suất đạt
19,35 tạ/ha tăng hơn so với năng suất của năm 2009.Nhưng đến năm 2011 chỉ
năng suất lại có xu hướng giảm là 18,27 tạ/ha, cho đến năm 2012 thì năng
suất của lạc đã đạt được 20,50 cao nhất tính từ năm 2009 đến nay.
Về sản lượng: Do diện tích và năng suất tăng nên kéo theo sản lượng
cũng tăng theo năm 2009 đạt 533 nghìn tấn đến năm 2012 đạt 540 nghìn tấn.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Đ/C : Đối chứng
CSDTL : Chỉ số diện tích lá
tạo ra từ tổ hợp lai giữa giống Sen Nghệ An và ICGV 87157 (giống nhập nội)
cho năng suất cao từ 30 – 35 tạ/ha. Khối lượng 50 – 55g/100 hạt, chất lượng
xuất khẩu tốt, kháng bệnh lá cao hơn hẳn giống địa phương Sen Nghệ An.
Giống đã được khu vực hóa năm 2000 và hiện nay phát triển tốt ở Thái
Nguyên, Thanh Hóa, Hà tây…
Năm 1984 trung tâm nghiên cứ đậu đỗ - Viện khoa học kĩ thuật nông
nghiệp Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu giống Bạch Sa 303 với giống Nam
Định tạo ra giống BG - 78 đây là giống có năng suất đạt 16,8 – 22 tạ/ha, hạt
to, vở lụa có màu trắng hồng, chống bệnh thối quả và ít bị sâu bệnh hại.
Giống L12 được chọn từ tổ hợp lai giữa giống V79 và giống nhập nội
ICGV 87157 có nhiều ưu điểm đã được cải tiến như quả to, vỏ mỏng, năng
suất cao từ 35 – 45 tạ/ha. Giống có khả năng chịu hạn khá, thích hợp cho
vùng nước trời. Hiện nay đang được phát triển trên quy mô hàng trăm ha ở
các tỉnh: Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình Còn nhiều giống mới
17
khác được tạo ra từ phương pháp lai hữu tính này như: L19, VD5…Trong đó
VD5 là sản phẩm công nghệ của tổ hợp lai ICGV x USA54 cho năng suất cao
từ 30 – 35 tạ/ha thích hợp cho các tỉnh phía nam.
Đến nay, chương trình đậu đỗ quốc gia đã chọn tạo thành công 16
giống lạc mới được giới thiệu cho sản xuất tiêu biểu như: L12, HL25, L05,
MD7, L14, L08, VD1, VD2, V79….
Bằng phương pháp gây đột biến, tạo ra giống V79 được đột biến từ
giống Bách Sa. Giống này cho năng suất khá từ 20 – 25 tạ/ha, tỷ lệ nhân cao
73 – 76%, chịu hạn tốt, thích hợp cho vùng đất khó khăn. Hiện nay giống phát
triển tốt ở các tỉnh Duyên Hải Miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Thừa Thiên Huế).
Giống 4329: Gây đột biến từ giống hoa – 17, giống này phát triển tốt ở
Thanh Hóa, Hà Tây năng suất khá từ 25 – 30 tạ/ha. Viện Khoa học kỹ thuật
nông nghiệp Việt Nam năm 2000 – 2002 [14].
các giống địa phương có năng suất thấp và phẩm chất kém bằng những giống
mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, chịu hạn và kháng được sâu bệnh tốt.
2.5. Tình hình sản xuất lạc tại Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du, nằm trong vùng trung du
và miền núi Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên là 3562,82 km
2
dân số trung bình
hiện nay là 1046 nghìn người là một tỉnh không lớn, chỉ chiếm 1,13% diện
tích và 1,41 % dân số so với cả nước.
Diện tích đất Nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên chỉ chiếm 22,35%
(79,621 ha) và diện tích đất Lâm nghiệp chiếm 36,61% (130443 ha) song tỉnh
Thái Nguyên là tỉnh miền núi xen kẽ vùng trung du nên diện tích diện tích đất
đồi rất lớn. Đây là tiềm năng để phát triển hàng hóa về cây công nghiệp, cây
ăn quả và phát triển chăn nuôi gia súc.
Cây công nghiệp và cây ăn quả là thế mạnh của tỉnh có khả năng phát
triển nhằm thay đổi cơ cấu cây trồng và tăng giá trị gia tăng công nghiệp. Cây
công nghiệp dài ngày chủ yếu là cây chè. Cây ăn quả chủ yếu là Vải, Mơ,
Nhãn, cam, quýt,… cây công nghiệp ngắn ngày chính gồm cây lạc, đậu
tương, cây mía,…trong đó cây lạc có diện tích lạc tập trung chủ yếu ở khu
vực phía Nam của tỉnh. Hiện nay diện tích lạc mới đạt 5681 ha, nếu có thị