Góp vốn thành lập công ty theo pháp luật Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM TUẤN ANH

GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ HUY CƯƠNG
Hà Nội – 2009 Mục lục

Trang
Lời cam đoan
3
Mục lục
4
Mở đầu
6
Chương 1. Khái luận về góp vốn thành lập công ty
10
1.1. Khái niệm và bản chất pháp lý của góp vốn thành lập công ty
10
1.1.1. Khái niệm góp vốn thành lập công ty
10
1.1.2. Bản chất pháp lý của góp vốn thành lập công ty
13

1.5. Xử lý vi phạm nghĩa vụ góp vốn
59
Chương 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập công
64
ty
2.1. Cấu trúc và sự phát triển của pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập
công ty
64
2.2. Quy định hiện hành của pháp luật việt nam về góp vốn thành lập công
ty và các khiếm khuyết
72
2.3. Nguyên nhân của những khiếm khuyết trong quy định của pháp luật
Việt Nam về góp vốn thành lập công ty
81
Chương 3. Những kiến nghị chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về góp vốn thành lập công ty
87
3.1. Nhu cầu hoàn thiện
87
3.2. Phương hướng hoàn thiện
88
3.3. Kiến nghị các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện
91
Kết luận
107
Tài liệu tham khảo
110 8

Nội dung mà tác giả hướng tới nghiên cứu bao gồm: các vấn đề lý luận
về góp vốn thành lập công ty, các hình thức của vốn góp, thực trạng quy định
của pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập công ty, những hạn chế và
phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về góp vốn thành
lập công ty.
Hiện nay, thực tiễn về việc góp vốn thành lập công ty diễn ra rất phong
phú và đang dạng. Có những trường hợp đang diễn ra trên thực tế mà pháp
luật chưa dự liệu trước được. Trước những đòi hỏi của thực tiễn phải cố gắng
trước hết hoàn thiện các quy định pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên khi tham gia thành lập công ty, cũng như những ảnh hưởng
trong quá trình hoạt động của công ty sau này, trong đó có cả vấn đề giải
quyết về vấn đề tài sản khi giải thể, phá sản công ty. Việc nghiên cứu đề tài
này sẽ góp phần vào việc thực hiện mục tiêu trên.
2. Hiện nay, việc áp dụng các hình thức vốn góp thành lập công ty theo
quy định của pháp luật Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào hình thức của tài
sản. Việc nghiên cứu các hạn chế trong quy định về hình thức vốn góp thành
lập công ty một cách thấu đáo sẽ giúp khắc phục các hạn chế và đem lại hiệu
quả thiết thực đối với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm giúp
cho việc thành lập công ty được thuận lợi, thúc đẩy hoạt động kinh doanh.
3. Thông qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về các hình
thức vốn góp thành lập công ty, việc góp vốn thành lập công ty trên thực tế và
so sánh với quy định của pháp luật một số nước, sẽ giúp đưa ra những nhận
xét và đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc điều
chỉnh lĩnh vực này để không những có thể áp dụng được đối với việc góp vốn
thành lập công ty trong nước mà còn áp dụng đối với việc góp vốn thành lập

10
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy hoạt động đầu tư, bảo
vệ được một cách hợp pháp quyền lợi của các bên trong thành lập công ty.
II. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1.1. Khái niệm và bản chất pháp lý của góp vốn thành lập công ty
1.2. Hệ quả pháp lý của việc góp vốn thành lập công ty
1.3. Hình thức và thủ tục góp vốn
1.4. Các hình thức của vốn góp
1.5. Xử lý vi phạm nghĩa vụ góp vốn
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN THÀNH
LẬP CÔNG TY
2.1. Cấu trúc và sự phát triển của pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập
công ty
2.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập công ty và
những khiếm khuyết
2.3. Nguyên nhân của những khiếm khuyết trong quy định của pháp
luật Việt Nam về góp vốn thành lập công ty
Chương 3. NHỮNG KIẾN NGHỊ CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY
3.1. Nhu cầu hoàn thiện
3.2. Phương hướng hoàn thiện
3.3. Những kiến nghị chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật về góp vốn
thành lập công ty

12
Chƣơng 1
KHÁI LUẬN VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY
1.1. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA GÓP VỐN THÀNH
LẬP CÔNG TY
1.1.1. Khái niệm góp vốn thành lập công ty
Công ty ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã

công ty đã ra đời từ rất sớm, các công ty thương mại đối nhân đầu tiên ra đời
vào khoảng thế kỷ thứ XIII ở các thành phố lớn ở Châu Âu, sang thế kỷ XVII
xuất hiện các công ty đối vốn. Ban đầu chúng được hình thành một cách tự
nhiên xuất phát từ nhu cầu kinh doanh và lập hội của các thương gia sau đó
Luật Công ty đã ra đời để ghi nhận và điều chỉnh hoạt động của các loại hình
công ty nhằm đảm bảo an toàn cho quá trình kinh doanh.
Hiện nay, theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, ở Việt Nam có 3 hình
thức Công ty là Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm 2 loại
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và Công ty trách nhiệm hữu hạn
hai thành viên trở lên) và Công ty hợp danh.
Sự phát triển của công ty trước tiên xuất phát từ nhu cầu tự nhiên. Ban
đầu các thương nhân hoạt động kinh doanh đơn lẻ, nhưng với sự phát triển và
mở rộng của hoạt động thương mại và sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt đòi
hỏi các thương nhân phải có sự liên kết hùn vốn với nhau để kinh doanh nhằm
tăng sức cạnh tranh và mở rộng hoạt động kinh doanh.
Hoạt động thương mại phát triển đòi hỏi các thương gia phải có sự liên
kết hùn vốn với nhau để buôn bán. Việc tích lũy vốn, “hùn vốn”, “gom vốn”
cho hoạt động kinh doanh đã thúc đẩy các nhà tư bản phải tìm đến những hình
thức tổ chức kinh doanh mới. Sự góp vốn theo hình thức công ty chính là đáp
ứng đòi hỏi của nền kinh tế. Hơn nữa, nền kinh tế ngày càng phát triển thì

14
càng có nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực kinh doanh mới ra đời, tạo ra những
cơ hội và khả năng thu hút nhà đầu tư gặp gỡ hợp tác kinh doanh với nhau
trên cơ sở góp vốn thành lập một thực thể kinh doanh - đó chính là công ty.
Như vậy, góp vốn trước hết là nhu cầu tự nhiên để phục vụ hoạt động
kinh doanh của một nhóm người. Sau đó, mới tạo nên một thực thể mới là
công ty. Khi pháp luật có sự điều chỉnh đối với việc thành lập, tổ chức và hoạt
động của công ty, thì công ty phải được thành lập, tổ chức và hoạt động theo
quy định của pháp luật. Công ty trở thành một thực thể pháp lý, mang các

ty. Quy định của pháp luật Việt Nam mới chỉ đề cập đến việc góp vốn bằng
tài sản và liệt kê các loại tài sản được góp vốn. Sự liệt kê thì không thể tránh
khỏi sự không đầy đủ, do vậy Luật Doanh nghiệp 2005 đã mở ra cho phép các
chủ thể có thể thỏa thuận xác định những loại tài sản khác được góp vốn.
Qua các phân tích trên có thể hiểu theo nghĩa chung nhất, Góp vốn
thành lập công ty là việc tạo lập ra công ty thông qua việc chuyển giao tài
sản, tri thức hoặc công sức của người góp vốn để hình thành vốn của công ty.
1.1.2. Bản chất pháp lý của góp vốn thành lập công ty
Công ty thường được xem xét trên hai phương diện: kinh tế và pháp lý.
Trên phương diện kinh tế, công ty được xem là một doanh nghiệp hay một
thực thể kinh doanh. Và trên phương diện pháp lý, công ty được xem là hành
vi pháp lý hay hành vi thương mại. Do đó góp vốn cũng được hiểu theo nghĩa
kinh tế và nghĩa pháp lý, có nghĩa là cần xem xét khái niệm góp vốn từ
phương diện kinh tế và từ phương diện pháp lý.
Nếu như xét từ phương diện kinh tế, góp vốn là việc tạo ra tài sản cho
công ty nhằm bảo đảm cho những chi phí trong hoạt động của công ty và bảo

16
đảm quyền lợi cho các chủ nợ. Khi góp tài sản vào công ty, thì tài sản đó trở
thành đối tượng sở hữu của công ty bởi hợp đồng thành lập công ty đã tạo ra
một thực thể tách biệt có sản nghiệp riêng. Mỗi thành viên của công ty có
được từ hành vi góp vốn này một quyền lợi đối với công ty tương ứng với
phần vốn góp của mình xét theo lẽ thông thường. Tuy nhiên, các quyền lợi và
nghĩa vụ của thành viên còn phụ thuộc vào các quy định của hợp đồng thành
lập hay điều lệ của công ty hoặc pháp luật.
Xét từ phương diện pháp lý, thì góp vốn là hành vi chuyển giao tài sản
hay đưa tài sản vào sử dụng để đổi lấy quyền lợi đối với công ty. Hành vi đổi
lấy quyền lợi này khác với hành vi mua bán hay hành vi cho thuê tài sản ở
chỗ: trong hành vi mua bán hay cho thuê, khi chuyển giao quyền sở hữu tài
sản hay quyền sử dụng tài sản, thì người chuyển giao có được một quyền lợi

thực thể kinh doanh mới có sự độc lập như thế nào đối với các thành viên đã
góp vốn để tạo lập nên công ty.
Các quy tắc liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty có
thể không đủ để chi phối các quan hệ phát sinh từ sự hình thành công ty có tổ
chức. Bởi vì, một mặt, nếu giữa lợi ích riêng và lợi ích chung có sự mâu
thuẫn, thì thành viên luôn cớ thiên hướng hy sinh lợi ích cung để bảo vệ lợi
ích riêng; mặt khác, thời gian tồn tại của công ty có thể lâu hơn thời gian tồn
tại của các thành viên.
Chính vì vậy, để bảo vệ tốt lợi ích của công ty cũng như lợi ích của
người thứ ba có quan hệ với công ty, cần công nhận sự tồn tại độc lập của
công ty so với các thành viên. Luật đáp ứng yêu cầu đó bằng cách thừa nhận
cho công ty có tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật. Công ty coi như có
nhân thân riêng của mình, phân biệt với nhân thân của từng thành viên. Được

18
nhân cách hóa, công ty có khả năng tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ,
nghĩa là có năng lực hành vi, và có tài sản riêng bảo đảm cho việc thực hiện
các quyền và nghĩa vụ đó. Như một con người trừu tượng, công ty thực hiện
các quyền và nghĩa vụ thông qua những con người cụ thể được bố trí vào các
cơ quan của công ty, gọi là các cơ quan quản trị, điều hành và kiểm soát hoạt
động của công ty.
Sau khi được thành lập, công ty có khối tài sản riêng, bao gồm các tài
sản có riêng và các tài sản nợ riêng. Công ty chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ
tài sản của mình bằng các tài sản có của mình. Tài sản của công ty độc lập với
khối tài sản của mỗi thành viên: các chủ nợ của thành viên không có quyền
yêu cầu kê biên và bán tài sản của công ty để thực hiện nghĩa vụ riêng của
thành viên; ngược lại các chủ nợ của công ty không có quyền yêu cầu kê biên
và bán tài sản của thành viên để thực hiện các nghĩa vụ của công ty. Trong
quan hệ giữa công ty và thành viên của công ty, các tài sản của công ty không
phải thuộc sở hữu chung của các thành viên công ty: công ty có tài sản riêng

Công ty được thành lập theo ý chí của các chủ thể có quyền và nghĩa vụ
được luật thừa nhận. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm
2005, các chủ thể khi thành lập công ty phải đăng ký kinh doanh cho công ty,
việc đăng ký kinh doanh khi thành lập công ty được thực hiện theo trình tự
sau:
Thứ nhất, người thành lập công ty nộp đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh theo
quy định của Luật Doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm
quyền và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ
sơ đăng ký kinh doanh.
Thứ hai, cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét hồ sơ
đăng ký kinh doanh và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong thời

20
hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ; nếu từ chối cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh thì thông báo bằng văn bản cho người thành lập
doanh nghiệp biết. Thông báo phải nêu rõ lý do và các yêu cầu sửa đổi, bổ
sung.
Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và chịu trách nhiệm về tính hợp
lệ của hồ sơ khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; không được yêu
cầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm các giấy tờ khác không quy định
tại Luật Doanh nghiệp.
Sau khi được thành lập, với tư cách là một chủ thể pháp lý độc lập,
công ty có các quyền và nghĩa vụ độc lập với các thành viên đã thành lập ra
công ty. Luật doanh nghiệp của Việt Nam năm 2005 tại Điều 8 quy định rõ
các quyền của công ty bao gồm: Thứ nhất, quyền tự chủ kinh doanh; chủ
động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư; chủ động
mở rộng quy mô và ngành, nghề kinh doanh; được Nhà nước khuyến khích,
ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch
vụ công ích; Thứ hai, quyền lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân
bổ và sử dụng vốn; Thứ ba, quyền chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng

ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch
sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh; Và các nghĩa vụ khác theo quy định của
pháp luật.
Công ty có cơ cấu tổ chức riêng. Để ngăn ngừa sự lạm quyền của một
hoặc một nhóm cá nhân trong việc điều hành công ty cũng như để thực hiện
các hoạt động của công ty việc tổ chức công ty thành nhiều cơ quan tỏ ra cần
thiết. Việc tổ chức các cơ quan của công ty được thực hiện theo đúng quy
định của pháp luật và điều lệ công ty. Điều lệ của công ty phải có hình thức
và nội dung phù hợp với các quy định của pháp luật áp dụng đối với từng loại

22
công ty. Điều lệ của công ty, một khi được xây dựng và thông qua đúng luật,
có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với tất cả thành viên của công ty. Không
chấp nhận điều lệ, thành viên chỉ có mỗi cách xử sự đúng luật là xin ra khỏi
công ty. Điều lệ hợp pháp của công ty cũng có hiệu lực đối kháng với người
thứ ba.
Một cách tổng quát, công ty có hai nhóm cơ quan chính: cơ quan quyết
nghị và cơ quan chấp hành. Công ty có quy mô tổ chức lớn còn có thêm cơ
quan kiểm soát.
Cơ quan quyết nghị của công ty: là cơ quan có quyền quyết định cao
nhất của pháp nhân và có cả khả năng định đoạt số phận pháp lý của pháp
nhân (sáp nhập, giải thể, ). Cơ quan này được tổ chức dưới hình thức đại hội
thành viên.
Cơ quan chấp hành của công ty: là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện
các quyết định của cơ quan quyết nghị, đồng thời đảm nhận việc quản lý đối
với các công việc hàng ngày của công ty, kể cả việc đại diện cho công ty
trong quan hệ với người thứ ba. Cơ quan chấp hành có thể mang những tên
gọi khác nhau: ban giám đốc, hội đồng quản trị, ban quản lý, Bằng hoạt
động của mình, cơ quan chấp hành ràng buộc trách nhiệm của công ty đối với
những giao dịch mà cơ quan chấp hành xác lập và thực hiện nhân danh công

Về uy tín thương hiệu của công ty, với tư cách là một chủ thể của quan
hệ xã hội, công ty có thương hiệu, uy tín của riêng mình, độc lập với uy tín,
danh dự của cá nhân thành viên. Uy tín, thương hiệu của công ty hình thành
trong quá trình hoạt động của công ty nhằm vươn tới mục đích của mình và
được củng cố bằng hiệu quả hoạt động của công ty.

24
Về quyền kiện cáo bảo vệ lợi ích riêng, công ty có quyền kiện để yêu
cầu bảo vệ lợi ích của công ty, trong lĩnh vực tài sản (đòi nợ hội phí, đòi lại
tài sản bị chiếm đoạt trái pháp luật, đòi bồi thường thiệt hại vật chất,…) hoặc
phi tài sản (đòi bồi thường thiệt hại về tinh thần).
Về chấm dứt công ty, công ty chấm dứt khi rơi vào một trong các trường
hợp sau: Một là hợp nhất, sáp nhập, chia, tách công ty; Hai là, giải thể công
ty; Ba là, công ty bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản.
Như vậy, công ty là một thực thể độc lập, sau khi ra đời nó tồn tại và
chấm dứt độc lập với sự tồn tại và chấm dứt của các thành viên đã góp vốn
thành lập công ty. Công ty có các quyền và nghĩa vụ pháp lý độc lập với các
chủ thể đã góp vốn thành lập ra nó. Công ty có tên gọi, trụ sở, cơ cấu tổ chức
riêng. Công ty có tài sản riêng độc lập với tài sản của các thành viên và công
ty trịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình khi tham gia các quan hệ xã
hội.
1.2.2. Hệ quả đối với những ngƣời góp vốn
Khi đã cam kết góp vốn thành lập công ty là các thành viên đã tự ràng
buộc mình vào các nghĩa vụ và quyền lợi nhất định từ việc góp vốn đó. Hệ
quả pháp lý của việc góp vốn thành lập công ty đối với những người góp vốn
có thể được xem xét dưới hai khía cạnh là quyền lợi và nghĩa vụ.
Bộ luật dân sự Pháp quy định:
“Mỗi hội viên là người có nghĩa vụ đối với công ty về những gì họ đã
hứa đóng góp bằng hiện vật, bằng tiền hoặc bằng công nghệ…
Người hội viên phải góp một số tiền vào công ty mà không đóng góp thì

công ty thì tài sản đó trở thành đối tượng sở hữu của công ty - một thực thể
pháp lý độc lập. Nếu thành viên không góp vốn hoặc góp vốn chậm thì công
ty có quyền đòi. Với việc không thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn thành viên

26
sẽ phải chịu những trách nhiệm pháp lý nhất định như phải trả lãi, phải bồi
thường thiệt hại….
Nếu xem xét dưới khía cạnh quyền lợi, khi góp vốn vào công ty người
góp vốn được hưởng các quyền lợi nhất định đối với công ty. Khi người ta
góp tài sản vào công ty, thì tài sản đó trở thành đối tượng sở hữu của công ty
bởi hợp đồng thành lập công ty đã tạo ra một thực thể tách biệt hay một pháp
nhân có sản nghiệp riêng. Mỗi thành viên của công ty có được từ hành vi góp
vốn này một quyền lợi đối với công ty tương ứng với phần vốn góp của mình
xét theo lẽ thông thường. Tuy nhiên, các quyền lợi và nghĩa vụ của thành viên
còn phụ thuộc vào loại cổ phần được quy định trong hợp đồng thành lập hay
điều lệ của công ty mà vốn của nó được chia ra thành các cổ phần.
Thành viên được hưởng các quyền từ việc góp vốn vào công ty như:
quyền hưởng lợi tức từ hoạt động của công ty, quyền biểu quyết tương ứng
với phần vốn góp, quyền tham gia quản lý công ty… và thành viên chỉ chịu
trách nhiệm đối với khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào
công ty, đồng thời thành viên chỉ được rút vốn trong những điều kiện nhất
định như: mua bán, chuyển nhượng….
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005, thành viên góp
vốn vào công ty có các quyền chủ yếu bao gồm: Thứ nhất, được chia lợi
nhuận tương ứng với phần vốn góp; Thứ hai, được quyền biểu quyết tương
ứng với phần vốn góp; Thứ ba, được quyền tham gia quản lý công ty; Thứ tư,
được quyền định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng, để
thừa kế, tặng cho…; Thứ năm, được chia giá trị tài sản còn lại của công ty
tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản.
Các quyền lợi của thành viên trong công ty như nêu trên đều là động


28
Như vậy, theo Bộ luật Dân sự Pháp việc góp vốn thành lập công ty phải
được lập thành hợp đồng. Nói chung, pháp luật các nước đều quy định việc
góp vốn phải được lập thành hợp đồng và góp vốn hay điều khoản về vốn là
một điều khoản thiết yếu của hợp đồng thành lập công ty. Chẳng hạn pháp
luật về công ty của Malaysia và Singapore quan niệm: Trừ khi là một công ty
có trách nhiệm vô hạn, hợp đồng thành lập của công ty nhất thiết phải chứa
đựng một điều khoản về vốn (capital clause) mà trong đó có tuyên bố về
khoản vốn được phép và phân chia vốn đó thành các cổ phần với số lượng ấn
định trở thành giới hạn mà công ty có thể được phép quyên góp [35, tr.155-
156].
Thỏa thuận góp vốn được thực hiện giữa những người góp vốn thành
lập công ty hoặc cam kết góp vốn thành lập công ty đối với công ty một thành
viên mang lại quyền cho người thứ 3 đó là công ty - với tư cách là một thực
thể pháp lý độc lập. Bởi vì, người góp vốn có nghĩa vụ phải chuyển giao vốn
góp cho công ty có thể bằng tài sản hoặc các hình thức khác sau khi công ty
được thành lập. Và ở đây, công ty có quyền yêu cầu người góp vốn phải chịu
các trách nhiệm nhất định nếu người góp vốn thực hiện không đúng thỏa
thuận góp vốn và gây thiệt hại cho công ty (như ở phần trên đã phân tích).
Như vậy, góp vốn thành lập công ty là hành vi pháp lý mang lại quyền lợi cho
người thứ ba. Do vậy, đòi hỏi cam kết góp vốn, thỏa thuận góp vốn hay hợp
đồng thành lập công ty trong đó có điều khoản góp vốn phải được lập thành
văn bản. Văn bản này là cơ sở pháp lý để chứng minh quyền và nghĩa vụ của
các bên. Đồng thời cam kết góp vốn hay hợp đồng thành lập công ty trong đó
có thỏa thuận góp vốn còn là căn cứ để các bên xây dựng điều lệ công ty và là
tài liệu trong hồ sơ để các bên thực hiện đăng ký kinh doanh.
1.3.1.2. Kết cấu nội dung

Trích đoạn Hoàn thiện quy định về tài sản là quyền sở hữu trí tuệ Quan niệm lại về sản nghiệp thƣơng mại và bổ sung các quy định chuyển nhƣợng sản nghiệp thƣơng mạ Hoàn thiện quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng và quy định về hợp đồng thành lập công ty trong Bộ luật Dân sự Mở rộng hình thức của vốn góp Hoàn thiện các quy định của Luật Thƣơng mạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status