ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TIÊU THỊ HÀ
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU
VỰC SÔNG Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
Hà Nội – 2010
MỤC LỤC Trang
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
5
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
6
vực sông trong xây dựng pháp luật về bảo vệ môi trường
nước lưu vực sông
23
1.3.2. Cấu trúc và nội dung của pháp luật bảo vệ môi trường nước
lưu vực sông
25
1.4. Kinh nghiệm quốc tế về pháp luật bảo vệ môi trường nước
lưu vực sông
35
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
NƯỚC LƯU VỰC SÔNG
47
2.1. Các quy định về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông và
thực tiễn áp dụng
47
2.1.1. Kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm và bảo vệ chất lượng nước
trên lưu vực và thực tiễn áp dụng
47
2.1.2. Ứng phó và khắc phục sự cố môi trường nước lưu vực sông
và thực tiễn áp dụng
58
2.2. Các quy định về thiết chế bảo vệ môi trường nước lưu vực
sông và thực tiễn áp dụng
62
2.2.1. Quá trình hình thành tổ chức điều phối lưu vực sông ở Việt
Nam
62
2.2.2. Uỷ ban lưu vực sông- chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu và hoạt
động thực tiễn
69
92
KẾT LUẬN
94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
97
DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT Bộ TN&MT
Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Bộ NN&PTNT
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
Sở NN&PTNT
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Sở TN&MT
Sở Tài nguyên và Môi trường
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND
Ủy ban nhân dân
3
, trong đó nhu cầu cho hoạt động nông nghiệp là 92 tỷ m
3
, cho
hoạt động công nghiệp là 17 tỷ m
3
, cho dịch vụ là 11 tỷ m
3
. Mặc dù nước ta có
nguồn tài nguyên nước khá phong phú nhưng khoảng 2/3 lại bắt nguồn từ ngoài
lãnh thổ quốc gia, mùa khô lại kéo dài 6-7 tháng làm cho nhiều vùng thiếu nước
trầm trọng. Dưới áp lực của gia tăng dân số, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đã
2
ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên nước như dòng chảy lũ, lũ quét, cạn kiệt nguồn
nước mùa cạn, hạ thấp mực nước ngầm, suy thoái chất lượng nước…Dự báo đến
năm 2040, tổng lượng nước cần dùng là 140 tỷ m
3
. Như vậy, nước ta thuộc loại các
quốc gia chịu nguy cơ thiếu nước, và sự phân bố nước không đều theo không gian
và thời gian trong năm.
Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường tại Johannesburg năm 2002 đã
nhận định rằng: Để đảm bảo nhu cầu cung cấp nước sạch cho các mục đích phát
triển kinh tế xã hội , vấn đề quản l ý nước còn quan trọng hơn vấn đề thiếu nước.
Thực tế phát triển kinh tế mạnh mẽ trong những năm vừa qua là một minh chứng
cho nhận định này. Việc không thực hiện quy hoạch sử dụng nước cho các mục đích
kinh tế và dân sinh đi đôi với việc xả thải các chất thải không xử l ý đạt tiêu chuẩn
quy định từ các khu đô thị, các cơ sở công nghiệp, các làng nghề là nguyên nhân
khiến cho hầu như tất cả các lưu vực sông ở nước ta đã và đang gặp phải những vấn
đề môi trường nghiêm trọng, làm suy giảm chất lượng nước nói riêng và chất lượng
còn dừng lại ở việc tính toán cân bằng nước, đảm bảo đủ lượng nước cung cấp cho
nông nghiệp mà còn bao hàm cả các lĩnh vực khác như chất lượng nước, ngăn ngừa
ô nhiễm nguồn nước, cấp nước và xả thải cho công nghiệp và sinh hoạt, kiểm soát
các thiên tai, sự cố do biến đổi tự nhiên, khí hậu, cảnh quan sinh thái Các nhà
quản l ý chưa xác định rõ ràng được mục tiêu bảo vệ môi trường trước mắt cũng như
mục tiêu lâu dài là quản l ý tổng hợp tài nguyên nước nhằm kết hợp hài hoà giữa
phát triển và quản l ý tài nguyên nước, đất, tài nguyên sinh học và các nguồn tài
nguyên khác. Mục tiêu là phát huy tối đa lợi ích về kinh tế và xã hội mà không gây
tổn hại tới tính bền vững của các hệ sinh thái.
Thực tế là những văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường hiện nay
còn đang rất thiếu, chưa đồng bộ và thậm chí còn chưa phù hợp với điều kiện thực
tế, đặc biệt các văn bản có liên quan đến bảo vệ môi trường nước lưu vực sông.
Hơn nữa, việc triển khai thực hiện Luật và các văn bản dưới luật thực chất cũng còn
rất nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, vì vậy, hiệu quả
thực thi chưa cao.
4
Về phương thức quản lý, có thể thấy rõ sự thiếu thống nhất và phân công trách
nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan quản l ý: cấp Trung ương và địa phương. Giữa các
ngành có cùng chung một lĩnh vực quản lý còn có rất nhiều chồng chéo, gây khó
khăn và cản trở cho hoạt động bảo vệ môi trường. Giữa các địa phương trong cùng
lưu vực chưa tìm được tiếng nói chung , chưa thống nhất và chặt chẽ trong công tác
quản l ý môi trường lưu vực.
Quản l ý thống nhất và tổng hợp nguồn nước của một lưu vực sông là vấn đề
còn mới mẻ đối với Việt Nam , còn rất hạn chế về mặt nhận thức và tất yếu sẽ gặp
không ít lúng túng khi triển khai . Thuận lợi cơ bản của chúng ta hiện nay là Luật
Tài nguyên nước đã được ban hành , tạo cơ sở pháp l ý và hướng dẫn cho việc triển
khai các hoạt động quản l ý tài nguyên nước. Tuy nhiên chúng ta chưa có nhiều các
văn bản pháp quy hướng dẫn chi tiết về quản l ý thống nhất và tổng hợp tài nguyên
nước cho một lưu vực sông lớn.
vực sông và; đề xuất các giải pháp quản lý môi trường lưu vực sông. Trên các tạp
chí nghiên cứu cũng đã có những bài viết nghiên cứu đề cập tới vấn đề bảo vệ môi
trường nước lưu vực sông, chẳng hạn các bài viết của PGS.TS. Phạm Hữu Nghị,
“Xây dựng Luật Tài nguyên nước phù hợp với hoàn cảnh mới của đất nước”, Tạp
chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/1998; bài viết của TS. Nguyễn Quang Tuyến,
“Pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước ở nước ta- Thực trạng và một số giải pháp
hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2004.
Ngoài các giáo trình về Luật Môi trường tại các đơn vị đào tạo luật có đề cập
bảo vệ môi trường nước như một nhiệm vụ trong hệ thống công tác bảo vệ môi
trường nói chung theo quy định Luật bảo vệ môi trường năm 2005, thì chưa có một
nghiên cứu cụ thể nào về pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông.
. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nƣớc
Quản lý và bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông không còn mới mẻ đối
với các nước trên thế giới. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về
quản lý, bảo vệ môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng trong lưu vực
sông ở tất cả các ngành như: thủy lợi, quản lý nhà nước, pháp luật…Các công trình
nghiên cứu này, đánh giá một cách khách quan đã đạt tới một trình độ phát triển
6
cao, tuy nhiên nếu áp dụng tại Việt Nam thì lại không phù hợp. Hơn nữa, hiện nay
các vấn đề môi trường xuyên quốc gia sinh ra bởi quá trình toàn cầu hóa kinh tế
đang trở thành những thách thức hàng đầu về môi trường toàn cầu. Thách thức về
hội nhập quốc tế trong hoạt động bảo vệ môi trường tạo ra áp lực phải hoàn thiện
hành lang pháp lý nhằm phù hợp với thế giới đang đặt ra ở Việt Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của
pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông ở Việt Nam, đồng thời đưa ra một
số kiến nghị cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật thực định cũng như thúc đẩy
thực thi những quy định này trong hoạt động bảo vệ môi trường nước.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
3 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực
sông.
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo vệ
môi trường nước lưu vực sông. 8
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
NƢỚC LƢU VỰC SÔNG
1.1. Các quan niệm: lƣu vực sông, quản lý lƣu vực sông, quản lý môi
trƣờng theo lƣu vực sông
1.1.1. Lưu vực sông
Tất cả các dòng nước chảy, từ các lạch nhỏ bé đến dòng chảy rộng hàng chục
kilomet đều được gọi là các dòng sông. Đó là những rãnh nông của trái đất với
những dòng chảy uốn lượn nhiều hay ít, do các tính chất địa lý quyết định. Dòng
sông được giới hạn bởi hai bờ [16].
Khoản 15 Điều 4 Luật Tài nguyên nước năm 1998 định nghĩa: Lưu vực sông
(Rivershed/ River basin) có thể được hiểu là một vùng địa lý mà trong phạm vi đó
nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông [36].
Có thể hiểu đơn giản, lưu vực sông là vùng lãnh thổ mà tất cả mưa rơi trên đó
hình thành nên dòng chảy (chảy mặt và ngầm) và tiêu thoát về cùng một dòng.
như sông Bằng Giang- Kỳ Cùng, sông Sê San, sông Srepok.
- Nhóm các sông có trung và hạ du của lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam
như sông MeKong, sông Hồng-Thái Bình, sông Mã, sông Cả, sông Đồng Nai- Sài
Gòn.
- Nhóm các sông có toàn bộ lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam như các
sông ở Quảng Ninh, các sông ở Trung và Nam Trung Bộ ( sông Gianh, Nhật Lệ,
Thạch Hãn, Hương, Thu Bồn, Ba, Trà Khúc, Côn…). Hệ thống các lưu vực sông
này được chia thành 16 lưu vực, trong đó 10 lưu vực có diện tích hơn 10.000 km
2
,
chiếm 80% diện tích cả nước, 70% nguồn nước và hơn 80% tổng dân số. Các lưu
vực sông lớn nhất là Đồng bằng sông MeKong và đồng bằng sông Hồng- sông Thái
Bình, chiếm một nửa lãnh thổ cả nước [16].
Mặc dù được đánh giá là quốc gia có nhiều lưu vực sông, nhưng công tác quản
lý còn quá nhiều bất cập, ảnh hưởng tới công tác bảo vệ và phát triển bền vững tài
nguyên nước. 10
1.1.2.Quản lý lưu vực sông
Quản lý tài nguyên nước cũng tương tự như quản lý xung đột giữa con người
với môi trường sống. Hệ thống quản lý tài nguyên nước và quản lý lưu vực sông
được tạo ra để tránh, ngăn chặn hoặc giải quyết những xung đột như vậy. Con người
cần phải học cách sống với những xung đột và đối phó với chúng. Sẽ còn nhiều
xung đột hơn nữa trong tương lai khi mà sự khan hiếm nước sẽ trở nên cấp bách, là
hậu quả của tăng trưởng kinh tế, nhu cầu xã hội và biến đổi khí hậu. Cạnh tranh
giữa người sử dụng nước sẽ trở nên dữ dội và tàn nhẫn, vì vậy mà pháp luật và tổ
chức quản lý hệ thống phù hợp sẽ là cần thiết [54].
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước của một lưu vực sông là một cách tiếp cận
mới nhằm giúp giải quyết các vấn đề lớn về tài nguyên và môi trường nước đang
và điều phối sử dụng tài nguyên nước hợp lý nhằm hướng tới mục tiêu phát triển
bền vững lưu vực sông.
Quản lý lưu vực sông có một số tiêu chuẩn cơ bản sau: (i) thống nhất và tổng
hợp theo ngành và tiểu ngành; (ii) thống nhất và tổng hợp về môi trường, kinh tế và
xã hội; (iii) thống nhất và tổng hợp về mặt hành chính; (iv) thống nhất và tổng hợp
về mặt địa lý; (v) thống nhất và tổng hợp về mặt tài trợ.
Quản lý lưu vực sông còn phải đạt được 3 mục tiêu chiến lược sau
(GWP,2003):
(i) Hữu hiệu trong phát triển và sử dụng tài nguyên trong lưu vực sông: Đạt
được mức độ phát triển kinh tế và phúc lợi tối đa từ tài nguyên nước và từ các dịch
vụ đầu tư trong ngành nước;
(ii) Bình đẳng và (hợp lý) trong phân phối tài nguyên nước và các dịch vụ
nước đối với các ngành kinh tế/các nhóm xã hội khác nhau để làm giảm mâu thuẫn
và đẩy mạnh sự phát triển xã hội bền vững;
(iii) Bảo vệ môi trường: Tất cả những cố gắng đổi mới trong quản lý tài
nguyên nước sẽ bị thất bại nếu bản thân hệ thống tài nguyên nước và các hệ sinh
thái liên quan bị tổn thương [46]. 12
1.1.3. Quản lý môi trường theo lưu vực sông
Như đã phân tích, quản lý môi trường lưu vực sông là một trong 3 mục tiêu
của quản lý lưu vực sông. Quản lý môi trường lưu vực sông bao gồm các hoạt động
quản lý chất lượng nguồn nước mặt (sông, hồ) và quản lý các nguồn thải nước từ
hoạt động kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp) và dân sinh (đô thị) để duy trì (hay
phục hồi) chất lượng nước để đáp ứng nhu cầu dùng nước hiện tại (hay quy hoạch
sử dụng nước tương lai).
Quản l ý môi trường lưu vực sông bao gồm 3 quá trình: (i) thứ nhất là sự phát
hiện vấn đề, phát hiện các mối đe dọa tiềm ẩn đối với sức khoẻ con người và các hệ
sinh thái trong lưu vực; (ii) thứ hai là sự tham gia của các bên liên quan: Vai trò,
Thứ tư, thanh tra môi trường
Thanh tra môi trường cần được triển khai thường xuyên đối với các cơ sở kinh
tế nhà nước và tư nhân hoạt động trong phạm vi lưu vực. Trách nhiệm này thuộc về
cơ quan quản l ý nhà nước Trung ương (Bộ TN&MT) và địa phương (Sở TN&MT
địa phương) tuỳ theo sự phân cấp.
Thứ năm, huy động nguồn vốn cho bảo vệ môi trường lưu vực
Để thực hiện đầy đủ những biện pháp khắc phục các tác động tiêu cực của các
hoạt động kinh tế - xã hội đến môi trường cần có kinh phí cho công tác bảo vệ môi
trường. Hơn nữa, việc này còn có tác động đến tâm l ý người dân về vấn đề bảo vệ
môi trường một cách thường xuyên.
Ngân sách này có thể từ nhiều nguồn: Trung ương, địa phương, các dự án hợp
tác quốc tế, các nguồn kinh phí khác và đặc biệt là có bằng cách thu từ các hộ sản
xuất của làng nghề tuỳ theo mức độ sản xuất của mỗi hộ . Các nguồn kinh phí nói
trên phải được sử dụng triệt để cho công tác quản l ý môi trường lưu vực: xây dựng
thể chế, chính sách, quy hoạch môi trường, thanh tra giám sát, quan trắc môi
trường, tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường lưu vực. Còn kinh
phí thu từ các hộ sản xuất kinh doanh chủ yếu chi cho: chi phí trồng cây xanh, bảo
vệ môi trường, chi phí cho việc vệ sinh môi trường làng nghề, đóng góp cho việc
xây dựng các công trình xử l ý quy mô nhỏ
Thứ sáu, xây dựng cơ sở dữ liệu và chia sẻ thông tin
14
Hệ thống cơ sở dữ liệu cần phải được xây dựng trên cơ sở: nhu cầu về thông
tin môi trường lưu vực; dựa vào các nguồn thông tin sẵn có, đồng thời tiến tới hoàn
thiện cơ sở dữ liệu, tìm ra được những lỗ hổng của thông tin nhằm đáp ứng đầy đủ
những nhu cầu đa dạng về thông tin của tất cả các đối tượng. Cơ sở dữ liệu phải dễ
tìm kiếm, dễ cập nhật và dễ sử dụng. Thông tin môi trường lưu vực cần phải đảm
bảo các yêu cầu sau: phản ánh trung thực và chính xác các vấn đề môi trường, thông
tin được cập nhật thường xuyên liên tục; thông tin được kết nối và chia sẻ giữa các
đơn vị cung cấp và sử dụng thông tin, thông tin được phổ cập đến tất cả các đối
Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai là một trong những khu vực phát triển kinh
tế - xã hội năng động nhất của cả nước với 7 trong số 12 tỉnh, thành phố thuộc Vùng
Kinh tế trọng điểm phía Nam. Năm 2009, trong bối cảnh khó khăn chung của cả
nước do ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu, các địa phương trên lưu vực hệ thống
sông Đồng Nai vẫn đạt mức tăng trưởng khá, đặc biệt trong thu hút đầu tư. Nhưng
những thách thức về môi trường cũng ngày một gia tăng, nhất là chất lượng nguồn
nước mặt các sông trong hệ thống sông Đồng Nai.
Hệ thống sông Đồng Nai đồng thời là nguồn tiếp nhận nước thải sinh hoạt,
công nghiệp, nông nghiệp, một phần chất thải rắn sinh hoạt, công nghiệp và chất
thải nguy hại, đe dọa nghiêm trọng về khả năng ô nhiễm. Tại một số khu vực, nhiều
chỉ tiêu môi trường đã vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, thực sự đáng báo động.
Trong năm 2009, nhìn chung, khu vực thượng lưu và trung lưu các sông lớn
trong hệ thống sông Đồng Nai, chất lượng nước mặt đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc
gia QCVN 08:2008/BTNMT. Tuy nhiên, cũng có nhiều đoạn sông, hồ chứa đã có
dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ rõ rệt như ở khu vực thành phố Đà Lạt, khu vực xung
quanh các làng nghề nuôi cá bè ở hồ Trị An. Nguồn nước ở khu vực hạ lưu hệ thống
sông Đồng Nai đã bị ô nhiễm nặng, đặc biệt là trong hệ thống các kênh, rạch nội
thành, nội thị, đoạn sông Đồng Nai từ cầu Hóa An đến dưới cầu Đồng Nai, đoạn
sông Sài Gòn từ Bình Phước đến Tân Thuận, đoạn sông Thị Vải từ Công ty Cổ
phần hữu hạn Vedan Việt Nam đến dưới cảng Phú Mỹ [13,30].
Sự cố môi trường vẫn xảy ra gây ảnh hưởng đến chất lượng nước sông. Ngoài
các vụ tràn dầu do hoạt động giao thông thủy (điển hình là tại Thành phố Hồ Chí
16
Minh, Long An), trong thời gian qua còn xảy ra một số sự cố như vỡ bờ bao hồ xử
lý sinh học của Công ty TNHH San Miguel Pure Foods Việt Nam tại tỉnh Bình
Dương, ảnh hưởng đến chất lượng nước sông Thị Tính, sông Sài Gòn.
. Lƣu vực sông Nhuệ- Đáy
Sông Nhuệ và sông Đáy đi qua 6 tỉnh gồm: Hà Nội, Hòa Bình, Hà Tây, Hà
Nam, Nam Định, Ninh Bình. Nước sông Nhuệ đoạn chảy qua Hà Nội đã ô nhiễm
hưởng đến chất lượng nước của sông Đáy. Thị xã Phủ Lý lại bơm nước này để làm
nước uống và nước sinh hoạt cho toàn bộ dân cư.
Một mâu thuẫn khác xảy ra ở sông Đáy là giữa Ninh Bình và Nam Định, khi
người dân ở tỉnh Ninh Bình làm đê bao, ở phía bên Nam Định bờ sông lại bị xói lở.
Tiếp đến là mâu thuẫn giữa thủy điện và nông nghiệp. Trong mùa khô nước ở
trên sông dồn về phải qua sự điều tiết của hồ chứa lớn. Trong khi đó vào mùa khô,
ngành điện có khuynh hướng giữ nước đến gần cuối mùa khô mới xả. Lúc này,
ngành nông nghiệp lại cần nước để đổ ải, giữa mùa khô cần nước để tưới ruộng lại
không có nước để tưới.
Các nguyên nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm nước có thể nêu ra là:
Việt Nam có nguồn tài nguyên nước mặt vào loại trung bình kém trên thế
giới. Với nguồn nước nội địa chỉ đạt 3600 m
3
/người/năm, ít hơn 4000
m
3
/người/năm thuộc quốc gia thiếu nước. Nếu tính cả nước ngoài lãnh thổ
chảy vào nước ta đạt được 9650 m
3
lớn hơn 7400 m
3
/người/năm (trung bình
thế giới). Nước nguồn ngoài lãnh thổ chiếm 63% tổng nguồn tài nguyên
nước mặt Việt Nam, khó chủ động bảo vệ, khai thác và sử dụng [51]. Đặc
biệt những năm gần đây là sự khai thác của các nước ở thượng nguồn ngày
càng nhiều và có chiều hướng bất lợi. Ví dụ: Trung Quốc đã và đang xây
dựng hơn 10 hồ chứa lớn trên sông Mekong, sông Nguyên; Lào đã và đang
xây dựng 35 công trình thuỷ lợi- thuỷ điện trong đó có 27 hồ chứa trên sông
nhánh và 8 đập dâng trên sông chính. Ở Thái Lan, đã có 10 hồ chứa vừa và
lớn và đang có kế hoạch xây thêm. Ở Campuchia có dự kiến giữ mực nước
Nước thải đô thị và công nghiệp: Hầu hết nước thải đô thị đều chưa được xử
lý trước khi thải ra môi trường. Theo thống kê sơ lược thì chỉ khoảng 4,62%
lượng nước thải công nghiệp được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi trường [3].
Ngoài ra nước rò rỉ từ các bãi rác cũng là một trong những nguồn ô nhiễm
19
nước mặt và nước ngầm nghiêm trọng, hiện nay cả nước chỉ có một vài bãi
chôn lấp rác có hệ thống xử lý nước rác hoạt động thường xuyên và đảm bảo
tiêu chuẩn môi trường. Nước thải bệnh viện cũng là một vấn đề nan giải,
hiện nay cả nước có khoảng hơn 1000 bệnh viện, mỗi ngày thải ra hàng trăm
nghìn m
3
nước thải chưa qua xử lý hoặc có xử lý cũng không đạt tiêu chuẩn
môi trường. Đây là nguồn nước thải chứa nhiều thành phần nguy hiểm gây ô
nhiễm nghiêm trọng cho môi trường.
Nước thải từ hoạt động nông nghiệp và nước thải từ các nguồn khác tại khu
vực nông thôn. Ở các vùng nông thôn, hàng năm lượng hóa chất bảo vệ thực
vật đã được sử dụng rất lớn trong nông nghiệp, dư lượng hóa chất và phân
khoáng trong sản xuất nông nghiệp cũng gây ra phú dưỡng hoặc nhiễm độc
nước. Ngoài ra, hoạt động của nhiều làng nghề trên cả nước tạo ra một lượng
chất thải xả vào môi trường một cách bừa bãi và không được xử lý nên gây
tình trạng ô nhiễm nguồn nước trầm trọng tại nhiều điểm, như các làng nghề
làm giấy, giết mổ gia súc, dệt nhuộm…
Xây dựng đập dâng sử dụng hết lượng nước cơ bản tạo ra khúc sông “khô”
dưới đập.
- Các đập dâng thuỷ lợi như đập Thạch Nham trên sông Trà Khúc, đập
Lại Giang trên sông Đại Giang, đập Đồng Cam trên sông Đà Rằng, đập Nha
Trinh- Lâm Cấm trên sông Cái Nha Trang 30 năm trước đây về mùa khô vẫn
có nước tràn qua đập. Vài chục năm gần đây do tăng diện tích tưới, tăng lượng
nước cấp cho sinh hoạt, công nghiệp, mặt khác do rừng đầu nguồn bị phá nặng