Bảo vệ môi trường nước lưu vực sông theo pháp luật việt nam - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------

LÊ PHƯƠNG LINH

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC
SÔNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Ngành: Luật Kinh tế
Mã số : 9 38 01 07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ

HÀ NỘI – 2019


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Nội dung cũng
như các số liệu trình bày trong luận án hoàn toàn trung thực. Những kết luận khoa
học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Phương Linh





DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BQLQHLVS
BVMT
CCN
ĐMC
ĐTM
HĐQLLVS
KCN
KSON
KTXH
KH&ĐT
KHCN
LVS
NN&PTNT
QLLVS
TCLVS
TN&MT
TNN
UBBVMTLVS
UBND


DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Đánh giá thể chế, chính sách và pháp luật theo IPA........................................ 6
Hình 2.1. Sơ đồ mô tả lưu vực sông......................................................................................... 38
Hình 2.2. Mối quan hệ giữa khoa học môi trường và hoàn thiện pháp luật


sinh trên lãnh thổ Việt Nam. Lượng nước bình quân đầu người trên 9.000 m /năm.
Nước dưới đất cũng có tổng trữ lượng tiềm năng khoảng 63 tỷ m3/năm, phân bố ở 26
đơn vị chứa nước lớn, nhưng tập trung chủ yếu ở Đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và khu
vực Tây Nguyên. Tổng lượng nước đang được khai thác, sử dụng hàng năm khoảng 81
3

tỷ m , xấp xỉ 10% tổng lượng nước hiện có trung bình hàng năm của cả nước. Trong
đó, lượng nước sử dụng tập trung chủ yếu vào 7 - 9 tháng mùa cạn, khi mà dòng chảy
trên hệ thống sông đã bị suy giảm và với tổng lượng nước cả mùa chỉ bằng khoảng 20%
3

- 30% (khoảng 160 - 250 tỷ m ) so với lượng nước của cả năm [91].
Mặc dù nước ta có nguồn tài nguyên nước khá phong phú nhưng khoảng 2/3 trữ
lượng nguồn nước bắt nguồn từ ngoài lãnh thổ quốc gia. Ngoài ra, dưới áp lực của gia
tăng dân số, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đã ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên
nước như dòng chảy lũ, lũ quét, cạn kiệt nguồn nước mùa cạn, hạ thấp mực nước
1


ngầm, suy thoái chất lượng nước … Dự báo đến năm 2040, tổng lượng nước cần
3

dùng là 140 tỷ m . Như vậy, nước ta thuộc loại các quốc gia chịu nguy cơ thiếu nước
và sự phân bố nước không đều theo không gian và thời gian trong năm.
Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường tại Johannesburg năm 2002 đã
nhận định rằng: Để đảm bảo nhu cầu cung cấp nước sạch cho các mục đích phát triển
kinh tế xã hội, vấn đề quản lý nước còn quan trọng hơn vấn đề thiếu nước. Thực tế phát
triển kinh tế mạnh mẽ trong những năm vừa qua là một minh chứng cho nhận định
này. Việc không thực hiện quy hoạch sử dụng nước cho các mục đích kinh tế và dân

Từ trước tới nay, Việt Nam với lịch sử văn minh lúa nước lâu đời, quản lý lưu
vực sông vẫn dựa trên quan điểm bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên nước phục
vụ cho nông nghiệp. Các nhà quản lý chưa xác định rõ ràng được mục tiêu bảo vệ
môi trường trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài là quản lý tổng hợp tài nguyên
nước nhằm kết hợp hài hoà giữa phát triển và quản lý tài nguyên nước, đất, tài
nguyên sinh học và các nguồn tài nguyên khác. Mục tiêu là phát huy tối đa lợi ích về
kinh tế và xã hội mà không gây tổn hại tới tính bền vững của các hệ sinh thái.

Thực tế là những văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nước ở
lưu vực sông hiện nay còn đang rất thiếu, chưa đồng bộ và thậm chí còn chưa phù
hợp với điều kiện thực tế. Hơn nữa, việc triển khai thực hiện Luật và các văn bản
dưới luật thực chất cũng còn rất nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khách
quan và chủ quan. Vì vậy, hiệu quả thực thi chưa cao.
Về phương thức quản lý, có thể thấy rõ sự thiếu thống nhất và phân công trách
nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan quản lý: cấp Trung ương và địa phương. Giữa các
ngành có liên quan tới chung một lĩnh vực quản lý còn tồn tại rất nhiều chồng chéo,
gây khó khăn và cản trở cho hoạt động bảo vệ môi trường. Giữa các địa phương
nằm trong cùng một lưu vực chưa tìm được tiếng nói chung, chưa thống nhất và
chặt chẽ trong công tác quản lý môi trường lưu vực.
Quản lý thống nhất và tổng hợp nguồn nước của một lưu vực sông là vấn đề
còn mới mẻ đối với Việt Nam. Hiện nay, dù Luật Tài nguyên nước đã được ban
hành, đã tạo được cơ sở pháp lý cho các hoạt động quản lý tài nguyên nước song về
quản lý nước lưu vực sông thì vẫn thiếu các nền tảng pháp lý phù hợp. Cả pháp luật,
thiết chế thực hiện quản lý tài nguyên nước lưu vực sông cần được nghiên cứu và
ban hành nhằm thúc đẩy mô hình quản lý nước lưu vực sông.
Vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn chủ đề “Bảo vệ môi trường nước lưu vực sông
theo pháp luật Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận án tiến sĩ Luật học của mình.

2.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Luận án tập trung nghiên cứu môi trường nước ở 3 lưu vực sông lớn như:
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy, lưu vực sông Đồng Nai, lưu vực sông Cầu.
- Phạm vi về thời gian:
Luận án tập trung nghiên cứu về vấn đề bảo vệ môi trường nước lưu vực sông
theo pháp luật Việt Nam những năm gần đây.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường
nước lưu vực sông. Đề tài đã tiếp thu, kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu
có liên quan của các tác giả đi trước, đồng thời sẽ đi sâu vào làm rõ những hạn chế
của pháp luật hiện hành, đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm xây dựng, hoàn
thiện hệ thống pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo vệ môi
trường nước lưu vực sông ở Việt Nam.
4.

Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1. Cách tiếp cận
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận

khoa học và phương pháp luận về nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng
và Nhà nước về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về xây dựng và bảo vệ pháp
luật, về bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, chống biến
đổi khí hậu và bảo đảm các quyền con người.

4


Dưới góc độ Luật học:
-

Tiếp cận từ cơ sở lý luận, tổng quan về pháp luật và hoàn thiện pháp luật nói

giải quyết trong các hệ thống pháp luật.
c. Phương pháp so sánh thống kê
Phương pháp so sánh thống kê được sử dụng để cung cấp các số liệu cần thiết,
đối chiếu, so sánh, làm rõ các nội dung liên quan, đặt trong tổng thể hệ thống pháp
luật về bảo vệ môi trường nước Lưu vực sông.
d. Phương pháp phân tích đánh giá thể chế và chính sách (IPA)
Phương pháp IPA (Institution and policy Analysis- IPA) là phương pháp phân
5


tích đánh giá thể chế và chính sách (Hình ). IPA là một công cụ kỹ thuật, trung
lập, nhằm làm rõ hiệu quả của một chính sách đang có hiệu lực, giải thích rõ các
bên liên quan đã thích ứng như thế nào dưới tác động của chính sách, tìm kiếm
chiến lược hoặc giải pháp để cải thiện và tăng cường hiệu quả của chính sách. IPA
là trung lập vì nó không nhằm việc hoạch định, xác định mục tiêu, tầm ảnh
hưởng, đạo đức, … của một chính sách sẽ được ban hành, mà chỉ là công cụ phân
tích một chính sách đã và đang có hiệu lực nhằm tìm kiếm các phương cách gia
tăng hiệu quả thực hiện của chính sách đó.

Hình 1: Đánh giá thể chế, chính sách và pháp luật theo IPA
IPA được đánh giá trên 6 vấn đề chính (hay 6 bước tại Hình ) được sắp xếp
theo trình tự logic nhằm thể hiện các quá trình ảnh hưởng đến việc thực hiện
chính sách, pháp luật. Tuy nhiên, luận án sẽ lồng ghép các nội dung chính của IPA
nhưng không theo trình tự các bước ở Hình .
5. Những đóng góp mới của luận án
-

Luận án nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi

trường nước lưu vực sông, chỉ ra những yếu tố chi phối pháp luật về bảo vệ môi

Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài;

- Chương 2. Những vấn đề lý luận về bảo vệ môi trường nước lưu vực
sông;
-

Chương 3. Thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông ở Việt

Nam và thực tiễn thực hiện;
-

Chương 4. Những yêu cầu, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu lực thi hành

pháp luật về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông.

7


Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Các công trình nghiên cứu nguồn nước lưu vực sông với tư cách là đối
tượng đặc thù của bảo vệ môi trường.
a. Tình hình nghiên cứu trong nước
Nguồn nước lưu vực sông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển và
đời sống của các quốc gia, các cộng đồng lưu vực sông. Bên cạnh những giá trị to lớn
đối với các quốc gia, các cộng đồng sống ở lưu vực sông, nguồn nước lưu vực sông với
khả năng lan tỏa nhanh luôn chứa đựng những nguy cơ lớn như ngập lụt, ô nhiễm toàn
vùng khi có những sự cố thiên tai hay hành động bất cẩn của con người. Chính vì vậy,
bảo vệ nguồn nước lưu vực sông luôn là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng

Thiết lập mô hình Ủy ban LVS với cơ cấu, chức năng nhiệm vụ đủ mạnh để

hoạt động hiệu quả.
Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
(NC&KH) cấp Nhà nước, cấp bộ về khai thác sử dụng, quản lý và bảo vệ TNN,
8


BVMT nước các LVS. Chương trình KC.12 về cân bằng nước trên toàn bộ lãnh thổ
Việt Nam. Kết quả của chương trình đã góp phần phát triển các phương pháp tính
toán, tổng hợp được nhiều quy luật cân bằng nước phục vụ cho phát triển kinh tế của
từng tỉnh, từng LVS trên tất cả các vùng của đất nước. Nhiều đề tài cấp Nhà Nước
và cấp Bộ về nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học cho QLTHTNN, khả năng chịu tải
và tự làm sạch của LVS; quản lý bảo vệ tài nguyên, môi trường các LVS lớn ở nước
ta thực hiện.
(i)

Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam hợp tác khoa học với Cơ quan nghiên

cứu khoa học Pháp và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam (2005): Nghiên cứu và triển khai
dự án quan trắc và khảo sát môi trường nước LVS Đáy. Dự án có được cơ sở dữ liệu,
thực hiện mô hình hoá chuyển tải các chất dinh dưỡng trong môi trường nước sông
Đáy thông qua việc nghiên cứu chất lượng nước hệ thống sông Đáy, lấy trọng
điểm là nghiên cứu mức độ ô nhiễm dinh dưỡng. Ứng dụng mô hình toán học mô phỏng
chất lượng nước sông Đáy. Các kết quả thu được sẽ góp phần vào việc đánh giá chất
lượng môi trường nước hệ thống sông Đáy - Nhuệ và làm cơ sở dữ liệu cho việc xử lý
nguồn ô nhiễm, bảo vệ và quản lý nguồn nước có hiệu quả ở Việt Nam [28].
(ii)

Nguyễn Thị Việt Nga trong Luận văn thạc sĩ (2012): Nghiên cứu về tính đa

tỉnh Long An theo các kịch bản (hiện trạng, đến năm 2015, 2020). Luận án cũng đã đề
xuất được các biện pháp quản lý tổng hợp và đồng bộ chất lượng nước sông Vàm Cỏ
Đông - đoạn chảy qua huyện Bến Lức, tỉnh Long An bao gồm các giải pháp công nghệ và
phi công trình, cơ chế quản lý sông Vàm Cỏ Đông với công việc và quyền hạn để thực
hiện các chương trình và dự án nhằm bảo vệ chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông [18].

(v)

Đề tài chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước về nghiên cứu dự

báo hạn hán vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và xây dựng giải pháp phòng chống
“Đề tài nhánh số 2 Điều tra hiện trạng hệ thống nguồn nước, nhu cầu dùng nước và
các giải pháp phòng chống hạn đã áp dụng ở Nam Trung bộ và Tây Nguyên” [1];
(vi)

Đề tài của Nguyễn Văn Hạnh (2010): Nghiên cứu xác định dòng chảy môi

trường của hệ sông Hồng - sông Thái Bình và đề xuất các giải pháp duy trì dòng
chảy môi trường phù hợp với các yêu cầu phát triển bền vững TNN - Xác định dòng
chảy môi trường đến giai đoạn 2020 cho hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình. Đề
tài đã xác định dòng chảy môi trường cho hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình.
Trình bày kết quả tính toán mô phỏng chất lượng nước và xâm nhập mặn. Đề xuất
dòng chảy môi trường cho hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình [15].
(vii)

Nguyễn Hữu Huế, Khoa Công trình – Trường Đại học Thủy lợi. Trong tuyển

tập Hội nghị Khoa học thường niên (2013) đã công bố đề tài nghiên cứu giải pháp công
trình lấy nước tự chảy cho sông Đáy, sông Nhuệ và sông Tô Lịch. Do tình trạng khan
hiếm nước vào mùa khô diễn ra ở tất cả các hệ thống sông trên địa bàn Tp. Hà Nội, nhất

giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT LVS Ba và sông Côn. Đề tài đã
đánh giá hiện trạng, đưa ra các nguyên nhân, dự báo suy thoái các nguồn nước tài
nguyên thiên nhiên và môi trường LVS Ba và sông Côn. Trên cơ sở đó đã đề xuất các
giải pháp tổng thể, sử dụng công nghệ viễn thám, công nghệ GIS để quản lý, sử dụng cơ
sở dữ liệu phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên, BVMT LVS Ba và sông Côn [9];
(x)

Đề tài KC.08.04 (2001-2005): Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý tổng hợp

TN&MT LVS Đà do Nguyễn Thanh Trung làm chủ nhiệm đã tiến hành các nghiên cứu
cơ bản về các nguồn TN&MT trên LVS Đà, phân tích đánh giá hiện trạng và dự báo
diễn biến các thành phần TN&MT dưới tác động của các phương án phát triển KT-XH.
Tổng hợp giữa lý luận và thực tiễn để xây dựng phương pháp luận về quản lý tổng hợp
LVS, phân tích đánh giá các mô hình hiện đang được áp dụng trong nước và một số
mô hình của nước ngoài để đề xuất mô hình quản lý thích hợp đối với các tiểu lưu vực
và LVS Đà [30]. Mô hình tổ chức lưu vực sông Đà, được coi là giải pháp "...bảo đảm
quản lý thống nhất quy hoạch lưu vực với địa bàn hành chính" và "...bảo đảm tính hệ
thống của lưu vực sông, không chia cắt theo địa giới hành chính", mục tiêu quan trọng
mà Luật Tài nguyên nước[35] đề ra. Hoạt động của mô hình này tạo điều kiện để lồng
ghép các mối quan tâm về tài nguyên và môi trường vào các quy hoạch, kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, của từng ngành ở cấp lưu vực sông. Các dự
án phát triển khác cũng được kiểm soát tốt hơn, hướng vào việc góp phần phát triển
kinh tế - xã hội của các tỉnh trên lưu vực và hạn chế những tác
động bất lợi đến tài nguyên, môi trường của lưu vực. Mô hình này có thẩm quyền quản
lý nhà nước trên lưu vực đủ mạnh để thực thi các quyết định (đồng thuận) của Hội
đồng phối hợp thành mệnh lệnh hành chính xuyên suốt các tỉnh trong lưu vực sông Đà.

(xi)

Đề tài KC.08.27 (2001-2006) do Lã Thanh Hà chủ nhiệm: Nghiên cứu giải

chế rủi ro và hài hoà lợi ích cho người dân [15].
(xiv)

Đề tài của Tô Trung Nghĩa (2002-2004): Nghiên cứu xây dựng chiến lược

phát triển bền vững LVS Vu Gia - Thu Bồn. Đề tài đã phân tích thực trạng quản lý, bảo
vệ và PTBV tài nguyên và môi trường LVS Vu Gia-Thu Bồn. Giới thiệu nội dung chính
của chiến lược quản lý bền vững TN&MT LVS Vu Gia-Thu Bồn: nghiên cứu, phát triển
tài nguyên môi trường đất, nước, rừng; nghiên cứu, đánh giá các vấn đề KT-XH, môi
trường sinh thái, cơ chế chính sách quản lý và đề xuất các biện pháp bảo vệ tài nguyên
môi trường trong lưu vực [25]. Để đảm bảo phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế, xã
hội và môi trường, TP. Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam đã ký kết thỏa thuận phối hợp
quản lý LVS Vu Gia - Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam - Đà Nẵng. Mục đích của việc ký
kết thỏa thuận phối hợp này nhằm tăng cường phối hợp giữa hai

địa phương, giữa các ban, ngành và các bên liên quan để quản lý tổng hợp lưu vực
sông Vu Gia - Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam - Đà Nẵng, tiến tới hài hòa giữa phát
12


triển kinh tế, an sinh xã hội và an toàn sinh thái, môi trường; chia sẻ thông tin, khuyến
khích hợp tác giữa các bên liên quan; thiết lập thử nghiệm một thể chế liên tỉnh - thành
phố để quản lý tổng hợp lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam - Đà
Nẵng. Theo đó, hai địa phương sẽ cùng xây dựng một kế hoạch, quy hoạch quản lý, bảo
vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước LVS Vu Gia - Thu Bồn và vùng bờ
biển, trong đó, vấn đề tài nguyên nước phải được đặt trong mối quan hệ với các hoạt
động phát triển khác trong cùng lưu vực và vùng bờ, trong mối liên kết giữa LVS từ
thượng lưu đến hạ lưu và vùng ven biển của hai địa phương [48].
Với việc ký thỏa thuận, hai bên sẽ thành lập Ban Điều phối chung, gồm lãnh đạo
UBND tỉnh Quảng Nam, UBND TP Đà Nẵng và các cơ quan chủ chốt có liên quan đến


b. Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Quản lý TNN và BVMT nước theo LVS được thực hiện ở nhiều nước trên thế
giới và gắn liền với nhiều công trình nghiên cứu về phương thức quản lý bảo vệ. Các
công trình nghiên cứu về quản lý TNN và BVMT nước theo lưu vực sông ở nước ngoài
được thực hiện tương đối nhiều và thường gắn với việc nghiên cứu áp dụng các chiến
lược, các nguyên tắc của khai thác, sử dụng, quản lý hiệu quả TNN trên LVS đã được
tuyên bố và nêu ra tại các hội nghị quốc tế về BVMT và PTBV, như Kế hoạch hành
động Mar del Plata (1977), Tuyên bố New Delhi (1990) và được củng cố trong chương
18 của lịch trình thế kỷ 21. Nhiều Hội nghị quốc tế đã được tổ chức nhằm xác định chính
sách, những giải pháp làm cơ sở cho bảo vệ LVS ở các quốc gia, đáp ứng mục tiêu cung
cấp nước an toàn trong thế kỷ 21. Nhiều nguyên tắc cơ bản về bảo vệ môi trường nước
được nêu trong Hội nghị thượng định về nước năm 1992 tại Rio [79] với chủ đề “Nước
và môi trường”. Tiếp đó Diễn đàn nước thế giới lần thứ nhất tại Marrakech
(Marocco) năm 1997 với chủ đề “Tầm nhìn dài hạn về nước, cuộc sống và môi trường
cho thế kỷ 21”. Để đảm bảo hiệu áp dụng các nguyên tắc và giải pháp cơ bản cho việc
bảo vệ môi trường nước, Công ước 1997 của Liên hợp quốc về sử dụng nguồn nước
quốc tế vào các mục đích phi giao thông đã được ký kết. Công ước là dấu mốc quan
trọng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách và pháp luật quốc tế liên quan đến
LVS. Diễn đàn nước thế giới lần thứ hai tại Hague (Hà Lan) năm 2000 với chủ đề
“Nước là công việc của tất cả mọi người”. Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV
tại Johannesburg năm 2002, nước được xác định là một trong năm vấn đề quan trọng
nhất của thế giới. Những nguyên tắc, những giải pháp nêu trong Diễn đàn nước thế giới
lần thứ ba tại Kyoto (Nhật Bản) đặc biệt có ý nghĩa với Đề tài bởi trong diễn đàn này,
vấn đề quản lý tổng hợp nguồn nước và quản lý LVS được thảo luận.

Trong số các công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề về quản lý
TNN lưu vực sông có thể liệt kê những công trình đáng chú ý sau.
(i)


định nghĩa IRBM là quá trình phát triển bền vững, phân phối và giám sát việc sử dụng
tài nguyên nước dựa và các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường [93].

Đối tác nước toàn cầu (Global Water Partnership - GWP) định nghĩa IRBM
là quá trình thúc đẩy sự phát triển và quản lý phối hợp đối với nước, đất và các
nguồn tài nguyên liên quan nhằm tối đa hóa phúc lợi xã hội theo cách công bằng mà
không có nhân nhượng liên quan đến tính bền vững của các hệ sinh thái [94].
Như vậy, cần phải khẳng định rằng IRBM là phương thức cần được áp
dụng để bảo vệ hiệu quả tài nguyên nước lưu vực sông.
(iii)

Trong nghiên cứu của mình về quan điểm IRBM, Lilia Lungwa đã nêu

quan điểm của mình về quản lý lưu vực sông. Quan điểm của Lilia Lungwa về cơ bản
cũng tương tự các định nghĩa được viện dẫn ở trên [95]. Điểm đáng lưu ý trong thuyết
trình này chính là thể chế quản lý lưu vực sông ở Tanazia, một quốc gia có rất nhiều lưu
vực sông. Theo Lilia Lungwa , bảo vệ môi trường nước ở Tanazia được thực hiện

ở 5 cấp độ gồm: cấp độ quốc gia; cấp độ lưu vực, cấp độ vùng thượng lưu; cấp độ
quận và cấp độ cộng đồng.
Ở Tanazia, quản lý tài nguyên nước cấp độ quốc gia thuộc thẩm quyền của Bộ

được giao vấn đề bảo vệ và khai thác tài nguyên nước quốc gia. Bộ được giao thẩm
15


quyền này soạn thảo hoặc xem xét pháp luật và chính sách về tài nguyên nước. Đặc
biệt, Bộ được giao thẩm quyền này phải phối hợp với cấc bộ để xây dựng qui hoạch,
kế hoạch sử dụng tài nguyên nước lưu vực sông. Bộ có thẩm quyền giải quyềt các
xung đột ở tầm quốc gia giữa các ngành khác nhau liên quan đến tài nguyên nước.

yếu tố sinh thái, xã hội và sự lựa chọn chính trị. Quản lý lưu vực sông đòi

16


hỏi những số liệu tin cậy để làm nền tảng cho việc tạo dòng chảy chính
(mainstreaming) và xây dựng mô hình hệ thống sinh thái.
(v)

Một công trình đáng chú ý về tiếp cận kết hợp trong quản lý nước theo mô

hình Liên minh Châu Âu (EU) là bài viết của TS Julia Adshead [77] “Tiếp cận kết hợp

đối với bảo vệ và quản lý nước – Mô hình EU” [An integrated approach to water
protection and management: the European Union model] công bố năm 2009. Tác giả
nghiên cứu nội dung của Chỉ thị EU về Khung tài nguyên nước (European Union Water
Framework Directive). Mục tiêu của bài viết là xác định xem các qui định của Chỉ thị có
phù hợp với tư duy hiện đại về quản lý kết hợp lưu vực sông và tiềm năng của nó trong
việc tạo ra được sự hài hòa lập pháp và thiết chế trên toàn bộ các thành viên của Liên
minh. Tác giả đã đưa ra phát hiện là Chỉ thị chưa phù hợp với tư duy hiện đại về quản
lý kết hợp lưu vực sông. Sự chú trọng của Chỉ thị mới giới hạn ở những vùng nước đơn
nhất, có diện tích trung bình, chưa xử lý được các vấn đề rộng hơn về sử dụng đất gắn
với nguồn nước. Chỉ thị cũng ít có tiềm năng thúc đẩy sự hài hóa lập pháp giữa các
công cụ pháp lý. Một trong những lý do của tình trạng đó là việc các quốc gia thành viên
vẫn còn quyền tự quyết định nhiều vấn đề về bảo vệ lưu vực sông. Theo TS Adshead
quản lý lưu vực trong trong Chỉ thị chưa bao hàm rõ ràng cách tiếp cận liên kết mặc dù
sự cần thiết của cách tiếp cận này được đề cập trong Lời nói đầu. Dựa trên các kết quả
nghiên cứu Chỉ thị, TS Adshead chỉ ra rằng mô hình quản lý kết hợp trong bảo vệ và
quản lý nước theo mô hình EU bao gồm các thành tố sau: (1) Quản lý kết hợp lưu vực
sông hướng tới việc phối hợp và hài hóa hóa các nguyên tắc và các cấu trúc bảo vệ và sử

các hạn chế bất cập hiện nay của các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường nước lưu
vực sông, luận văn đưa ra các kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật
thực định cũng như thúc đẩy thực thi những quy định này trong hoạt động bảo vệ môi
trường nước như: (i) Hoàn thiện thể chế, tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về
bảo vệ môi trường nước lưu vực sông; (ii) Nhà nước nên có cơ chế, chính sách để
người dân, các tổ chức cộng đồng tham gia thực sự bảo vệ Tài nguyên nước, bảo vệ
môi trường nước, tạo điều kiện cho người dân tham gia ngay từ khi lập quy hoạch xây
dựng đến khai thác sử dụng và bảo vệ; (iii) Hoàn thiện tổ chức, hoạt động của các Ủy
ban lưu vực sông; (iv) Tăng cường hoạt động giám sát môi trường tại các điểm nóng
gây ô nhiễm nguồn nước trong lưu vực sông: khu đô thị, khu công nghiệp và các làng
nghề; (v) Khuyến khích việc xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường nước lưu vực sông;
(vi) Ngân sách nhà nước dành cho bảo vệ môi trường (1% tổng chi ngân sách). Xây
dựng cơ chế cho phép dùng vốn sự nghiệp môi trường để hỗ trợ xử lý môi trường

theo tỷ lệ phù hợp [45].
(iii)

Nguyễn Quang Hùng (2015) Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu hoàn thiện pháp

luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy”. Đối tượng nghiên cứu
của đề tài là chất lượng nước mặt LVS Nhuệ - sông Đáy và Pháp luật BVMT nước
LVS, các pháp luật khác có liên quan đến LVS. Nội dung nghiên cứu của luận án gồm:
đánh giá áp lực, chất lượng nước mặt LVS Nhuệ - sông Đáy; đánh giá thực trạng pháp
luật, những bất cập, khoảng trống và hạn chế của các chế tài xử lý vi phạm, hiệu quả can
thiệp pháp luật và hoạt động của Ủy ban LVS Nhuệ - sông Đáy. Tuy đã đạt được những
kết quả nhất định, nhưng hệ thống pháp luật về BVMT nước LVS còn bộc lộ nhiều
hạn chế, yếu kém. Chính những hạn chế và yếu kém này cũng là nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến những nhược điểm, hạn chế của pháp luật BVMT nước LVS như: Hiệu
quả can thiệp của pháp luật BVMT nước LVS vào LVS Nhuệ - sông Đáy không có
hiệu quả (Hiệu quả Ysông Nhuệ là - 14,0 và hiệu quả Ysông Đáy là - 9,8). Pháp luật vẫn

quan các công trình nghiên cứu dưới đây.

(i)

Công trình nghiên cứu có tính khái quát về pháp luật bảo vệ môi trường nước,

bao gồm nước lưu vực sông được Luận án tổng quan đầu tiên là của TS. Jordan
Daci “Bảo vệ quyền con người về nước theo Luật quốc tế: Cần có một khuôn khổ pháp

lý” [83] [Protection of the Human Right to Water Under International Law: The Need
for a New Legal Framework]. Jordan Taci phân tích mối liên hệ của quyền con người với
quyền tiếp cận nguồn nước. Ông cho rằng cuộc sống con người không có nghĩa lý gì
nếu không có quyền tiếp cận nước và các quyền con người cốt lõi khác vốn là điều

19


kiện tiên quyết cho cuộc sông con người. Chính vì vậy, thụ hưởng quyền đối với
nước là điều kiện tiên quyết để thụ hưởng các quyền con người khác. Tuy nhiên,
trong bối cảnh có nhiều xung đột trong quốc gia, trong khu vực nên quyền đối với
nước không được đảm bảo, nhất là ở các vùng bị xung đột. Đặc biệt, nhiều vụ tranh
chấp nguồn nước đã dẫn đến xung đột vũ trang. Vì vậy, Jordan Tacci nhấn mạnh sự
cần thiết phải đảm bảo quyền con người đối với nước bằng pháp luật quốc gia cũng
như pháp luật quốc tế. Ở bình diện pháp luật quốc tế, Ông cho rằng dù đã có một số
công ước quốc tế về bảo vệ môi trường nói chung và về nước nói riêng, quyền con
người đối với nước chưa hoàn toàn được bảo vệ. Jordan Tacci đã chỉ ra một số hạn
chế của pháp luật quốc tế hiện đại trong việc bảo vệ quyền con người đối với nguồn
nước. Cụ thể đó là những hạn chế sau:
-


về chức năng, thẩm quyền và hoạt động của các ủy ban lưu vực sông quốc tế ở khía
cạnh thu hút sự tham gia của công chúng do Sabine Schulze thực hiện [84] “Public
Participation in the Governance of Transboundary Water Resources – Mechanisms
provided by River Basin Organizations” được Sabine Schulze thực hiện năm 2012 và
đăng trong L'Europe en Formation 2012/3 (No 365). Công trình nhấn mạnh vai trò của
công chúng trong quản lý lưu vực sông vì đây chính là một thành tố trong IRBM. Cơ
chế huy động sự tham gia của công chúng được phân tích qua cơ chế hoạt động của

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status