VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------
LÊ PHƯƠNG LINH
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số : 9 38 01 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI – 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Nội dung cũng
như các số liệu trình bày trong luận án hoàn toàn trung thực. Những kết luận khoa học
của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Phương Linh
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQLQHLVS
BVMT
CCN
ĐMC
ĐTM
HĐQLLVS
KCN
KSON
KTXH
KH&ĐT
KHCN
LVS
NN&PTNT
QLLVS
TCLVS
TN&MT
TNN
UBBVMTLVS
UBND
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Đánh giá thể chế, chính sách và pháp luật theo IPA........................................... 6
Hình 2.1. Sơ đồ mô tả lưu vực sông........................................................................................... 38
Hình 2.2. Mối quan hệ giữa khoa học môi trường và hoàn thiện pháp luật
sinh trên lãnh thổ Việt Nam. Lượng nước bình quân đầu người trên 9.000 m /năm.
3
Nước dưới đất cũng có tổng trữ lượng tiềm năng khoảng 63 tỷ m /năm, phân bố ở 26
đơn vị chứa nước lớn, nhưng tập trung chủ yếu ở Đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và khu
vực Tây Nguyên. Tổng lượng nước đang được khai thác, sử dụng hàng năm khoảng 81
3
tỷ m , xấp xỉ 10% tổng lượng nước hiện có trung bình hàng năm của cả nước. Trong
đó, lượng nước sử dụng tập trung chủ yếu vào 7 - 9 tháng mùa cạn, khi mà dòng chảy
trên hệ thống sông đã bị suy giảm và với tổng lượng nước cả mùa chỉ bằng khoảng
3
20% - 30% (khoảng 160 - 250 tỷ m ) so với lượng nước của cả năm [91].
Mặc dù nước ta có nguồn tài nguyên nước khá phong phú nhưng khoảng 2/3 trữ
lượng nguồn nước bắt nguồn từ ngoài lãnh thổ quốc gia. Ngoài ra, dưới áp lực của gia
tăng dân số, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đã ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên
nước như dòng chảy lũ, lũ quét, cạn kiệt nguồn nước mùa cạn, hạ thấp mực nước
1
ngầm, suy thoái chất lượng nước … Dự báo đến năm 2040, tổng lượng nước cần dùng
3
là 140 tỷ m . Như vậy, nước ta thuộc loại các quốc gia chịu nguy cơ thiếu nước và sự
phân bố nước không đều theo không gian và thời gian trong năm.
Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường tại Johannesburg năm 2002 đã nhận
định rằng: Để đảm bảo nhu cầu cung cấp nước sạch cho các mục đích phát triển kinh
tế xã hội, vấn đề quản lý nước còn quan trọng hơn vấn đề thiếu nước. Thực tế phát
Từ trước tới nay, Việt Nam với lịch sử văn minh lúa nước lâu đời, quản lý lưu
vực sông vẫn dựa trên quan điểm bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên nước phục vụ
cho nông nghiệp. Các nhà quản lý chưa xác định rõ ràng được mục tiêu bảo vệ môi
trường trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài là quản lý tổng hợp tài nguyên nước nhằm
kết hợp hài hoà giữa phát triển và quản lý tài nguyên nước, đất, tài nguyên sinh học và
các nguồn tài nguyên khác. Mục tiêu là phát huy tối đa lợi ích về kinh tế và xã hội mà
không gây tổn hại tới tính bền vững của các hệ sinh thái.
Thực tế là những văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nước ở lưu
vực sông hiện nay còn đang rất thiếu, chưa đồng bộ và thậm chí còn chưa phù hợp với
điều kiện thực tế. Hơn nữa, việc triển khai thực hiện Luật và các văn bản dưới luật
thực chất cũng còn rất nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Vì vậy, hiệu quả thực thi chưa cao.
Về phương thức quản lý, có thể thấy rõ sự thiếu thống nhất và phân công trách
nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan quản lý: cấp Trung ương và địa phương. Giữa các
ngành có liên quan tới chung một lĩnh vực quản lý còn tồn tại rất nhiều chồng chéo,
gây khó khăn và cản trở cho hoạt động bảo vệ môi trường. Giữa các địa phương nằm
trong cùng một lưu vực chưa tìm được tiếng nói chung, chưa thống nhất và chặt chẽ
trong công tác quản lý môi trường lưu vực.
Quản lý thống nhất và tổng hợp nguồn nước của một lưu vực sông là vấn đề còn
mới mẻ đối với Việt Nam. Hiện nay, dù Luật Tài nguyên nước đã được ban hành, đã
tạo được cơ sở pháp lý cho các hoạt động quản lý tài nguyên nước song về quản lý
nước lưu vực sông thì vẫn thiếu các nền tảng pháp lý phù hợp. Cả pháp luật, thiết chế
thực hiện quản lý tài nguyên nước lưu vực sông cần được nghiên cứu và ban hành
nhằm thúc đẩy mô hình quản lý nước lưu vực sông.
Vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn chủ đề “Bảo vệ môi trường nước lưu vực sông theo
pháp luật Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận án tiến sĩ Luật học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường
nước lưu vực sông. Đề tài đã tiếp thu, kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu
có liên quan của các tác giả đi trước, đồng thời sẽ đi sâu vào làm rõ những hạn chế của
pháp luật hiện hành, đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm xây dựng, hoàn thiện hệ
thống pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường
nước lưu vực sông ở Việt Nam.
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1. Cách tiếp cận
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận khoa
học và phương pháp luận về nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà
nước về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về xây dựng và bảo vệ pháp luật, về
bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, chống biến đổi khí
hậu và bảo đảm các quyền con người.
4
Dưới góc độ Luật học:
- Tiếp cận từ cơ sở lý luận, tổng quan về pháp luật và hoàn thiện pháp luật nói
chung và pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông nói riêng.
- Tiếp cận từ thực tiễn, đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ môi tường nước
Lưu vực sông và nhu cầu hoàn thiện pháp luật.
- Tiếp cận từ những định hướng, mục tiêu, chính sách về hoàn thiện pháp luật
bảo vệ môi trường và pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
quan đã thích ứng như thế nào dưới tác động của chính sách, tìm kiếm chiến lược hoặc
giải pháp để cải thiện và tăng cường hiệu quả của chính sách. IPA là trung lập vì nó
không nhằm việc hoạch định, xác định mục tiêu, tầm ảnh hưởng, đạo đức, … của một
chính sách sẽ được ban hành, mà chỉ là công cụ phân tích một chính sách đã và đang
có hiệu lực nhằm tìm kiếm các phương cách gia tăng hiệu quả thực hiện của chính
sách đó.
Hình 1: Đánh giá thể chế, chính sách và pháp luật theo IPA
IPA được đánh giá trên 6 vấn đề chính (hay 6 bước tại Hình ) được sắp xếp theo
trình tự logic nhằm thể hiện các quá trình ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách,
pháp luật. Tuy nhiên, luận án sẽ lồng ghép các nội dung chính của IPA nhưng không
theo trình tự các bước ở Hình .
5. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi
trường nước lưu vực sông, chỉ ra những yếu tố chi phối pháp luật về bảo vệ môi trường
nước lưu vực sông
- Luận án nghiên cứu làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật
bảo vệ môi trường nước lưu vực sông ở Việt Nam
- Luận án đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực
hiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông ở Việt Nam.
6
- Luận án đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện các quy định của
pháp luật về bảo vệ môi trường nước Lưu vực sông.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
toàn vùng khi có những sự cố thiên tai hay hành động bất cẩn của con người. Chính vì
vậy, bảo vệ nguồn nước lưu vực sông luôn là một trong những nội dung đặc biệt quan
trọng của bảo vệ môi trường ở các quốc gia có LVS. Bảo vệ môi trường nước lưu vực
sông đòi hỏi những phương thức đặc thù, những thiết chế đặc thù. Trong đó, có quản lý
tổng hợp LVS. Những phương thức, và thiết chế này luôn là đối tượng nghiên cứu của
khoa học môi trường, khoa học quản lý và khoa học pháp lý. LVS được coi là một thể
thống nhất, có những tác động qua lại giữa các nguồn tài tài nguyên khác nhau như
nước, đất, rừng, các HST. Trong đó, nước là yếu tố quan trọng nhất cần được chú trọng
bảo vệ. Việc khai thác và sử dụng lưu vực sông, đặc biệt là nguồn nước luôn làm phát
sinh các quan hệ xã hội và phần lớn được điều chỉnh bằng pháp luật. BVMT nước LVS
như việc bảo vệ một thực thể nhằm đáp ứng được yêu cầu PTBV trên LVS. Như vậy,
BVMT nước LVS là hoạt động gắn với các quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật
và các hoạt động nhằm kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nhằm bảo đảm CLN trên LVS
cũng như các quá trình liên quan trong một LVS.
Bốn trụ cột cần phải tạo dựng trong BVMT nước LVS đó là:
- Tạo dựng một môi trường chính sách phù hợp và thuận lợi.
- Xây dựng pháp luật phù hợp và đủ mạnh để thực thi nhiệm vụ quản lý.
- Xây dựng và sử dụng các công cụ hỗ trợ hiệu quả, các chế tài đủ sức răn đe để
BVMT nước LVS.
- Thiết lập mô hình Ủy ban LVS với cơ cấu, chức năng nhiệm vụ đủ mạnh để
hoạt động hiệu quả.
Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
(NC&KH) cấp Nhà nước, cấp bộ về khai thác sử dụng, quản lý và bảo vệ TNN,
8
BVMT nước các LVS. Chương trình KC.12 về cân bằng nước trên toàn bộ lãnh thổ
Việt Nam. Kết quả của chương trình đã góp phần phát triển các phương pháp tính toán,
trường LVS Vàm Cỏ [13].
(iv) Nguyễn Minh Lâm (2013) trong Luận án tiến sĩ của mình đã tiến hành
nghiên cứu đánh giá khả năng chịu tải và đề xuất các giải pháp bảo vệ chất lượng nước
sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Long An. Luận án đã đánh giá được tải lượng ô nhiễm với
9
các kịch bản khác nhau do nước thải từ các nguồn ô nhiễm phân tán đến năm 2015 và năm
2020 dựa trên phương pháp mô hình hóa bằng phần mềm MIKE11, từ đó đánh giá được
khả năng chịu tải của sông Vàm Cỏ Đông - đoạn chảy qua huyện Bến Lức, tỉnh Long An
theo các kịch bản (hiện trạng, đến năm 2015, 2020). Luận án cũng đã đề xuất được các
biện pháp quản lý tổng hợp và đồng bộ chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông - đoạn chảy
qua huyện Bến Lức, tỉnh Long An bao gồm các giải pháp công nghệ và phi công trình, cơ
chế quản lý sông Vàm Cỏ Đông với công việc và quyền hạn để thực hiện các chương trình
và dự án nhằm bảo vệ chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông [18].
(v) Đề tài chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước về nghiên cứu dự báo
hạn hán vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và xây dựng giải pháp phòng chống “Đề
tài nhánh số 2 Điều tra hiện trạng hệ thống nguồn nước, nhu cầu dùng nước và các giải
pháp phòng chống hạn đã áp dụng ở Nam Trung bộ và Tây Nguyên” [1];
(vi) Đề tài của Nguyễn Văn Hạnh (2010): Nghiên cứu xác định dòng chảy môi
trường của hệ sông Hồng - sông Thái Bình và đề xuất các giải pháp duy trì dòng chảy
môi trường phù hợp với các yêu cầu phát triển bền vững TNN - Xác định dòng chảy
môi trường đến giai đoạn 2020 cho hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình. Đề tài đã
xác định dòng chảy môi trường cho hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình. Trình bày
kết quả tính toán mô phỏng chất lượng nước và xâm nhập mặn. Đề xuất dòng chảy môi
trường cho hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình [15].
(vii) Nguyễn Hữu Huế, Khoa Công trình – Trường Đại học Thủy lợi. Trong tuyển
thiên nhiên và môi trường LVS Ba và sông Côn. Trên cơ sở đó đã đề xuất các giải pháp
tổng thể, sử dụng công nghệ viễn thám, công nghệ GIS để quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu
phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên, BVMT LVS Ba và sông Côn [9];
(x) Đề tài KC.08.04 (2001-2005): Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý tổng
hợp TN&MT LVS Đà do Nguyễn Thanh Trung làm chủ nhiệm đã tiến hành các nghiên
cứu cơ bản về các nguồn TN&MT trên LVS Đà, phân tích đánh giá hiện trạng và dự
báo diễn biến các thành phần TN&MT dưới tác động của các phương án phát triển KTXH. Tổng hợp giữa lý luận và thực tiễn để xây dựng phương pháp luận về quản lý tổng
hợp LVS, phân tích đánh giá các mô hình hiện đang được áp dụng trong nước và một
số mô hình của nước ngoài để đề xuất mô hình quản lý thích hợp đối với các tiểu lưu
vực và LVS Đà [30]. Mô hình tổ chức lưu vực sông Đà, được coi là giải pháp "...bảo
đảm quản lý thống nhất quy hoạch lưu vực với địa bàn hành chính" và "...bảo đảm tính
hệ thống của lưu vực sông, không chia cắt theo địa giới hành chính", mục tiêu quan
trọng mà Luật Tài nguyên nước[35] đề ra. Hoạt động của mô hình này tạo điều kiện để
lồng ghép các mối quan tâm về tài nguyên và môi trường vào các quy hoạch, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, của từng ngành ở cấp lưu vực sông.
Các dự án phát triển khác cũng được kiểm soát tốt hơn, hướng vào việc góp phần phát
triển kinh tế - xã hội của các tỉnh trên lưu vực và hạn chế những tác
động bất lợi đến tài nguyên, môi trường của lưu vực. Mô hình này có thẩm quyền quản
lý nhà nước trên lưu vực đủ mạnh để thực thi các quyết định (đồng thuận) của Hội
đồng phối hợp thành mệnh lệnh hành chính xuyên suốt các tỉnh trong lưu vực sông Đà.
(xi) Đề tài KC.08.27 (2001-2006) do Lã Thanh Hà chủ nhiệm: Nghiên cứu giải
pháp khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên, BVMT và phòng tránh thiên tai LVS Lô –
11
sông Chảy đã đề xuất mô hình quản lý tổng hợp tài nguyên–môi trường LVS Lô -sông
Chảy như một cơ quan độc lập, không trực thuộc bộ hay tỉnh nào, nhưng chịu sự
hướng dẫn chuyên ngành của các bộ liên quan và các quyết sách tư vấn về mặt TNN
địa phương, giữa các ban, ngành và các bên liên quan để quản lý tổng hợp lưu vực
sông Vu Gia - Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam - Đà Nẵng, tiến tới hài hòa giữa phát
12
triển kinh tế, an sinh xã hội và an toàn sinh thái, môi trường; chia sẻ thông tin, khuyến
khích hợp tác giữa các bên liên quan; thiết lập thử nghiệm một thể chế liên tỉnh - thành
phố để quản lý tổng hợp lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam - Đà
Nẵng. Theo đó, hai địa phương sẽ cùng xây dựng một kế hoạch, quy hoạch quản lý,
bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước LVS Vu Gia - Thu Bồn và vùng
bờ biển, trong đó, vấn đề tài nguyên nước phải được đặt trong mối quan hệ với các
hoạt động phát triển khác trong cùng lưu vực và vùng bờ, trong mối liên kết giữa LVS
từ thượng lưu đến hạ lưu và vùng ven biển của hai địa phương [48].
Với việc ký thỏa thuận, hai bên sẽ thành lập Ban Điều phối chung, gồm lãnh
đạo UBND tỉnh Quảng Nam, UBND TP Đà Nẵng và các cơ quan chủ chốt có liên
quan đến quản lý LVS Vu Gia - Thu Bồn và vùng bờ để giải quyết các vấn đề liên tỉnh,
liên vùng. Cơ quan đầu mối của Ban Điều phối là Sở TN&MT của hai địa phương. Sở
TN&MT tổ chức nghiên cứu, đề xuất cụ thể về kế hoạch, quy chế làm việc của Ban
Điều phối, lập Tổ Tư vấn và tổ chức tham vấn với các bên liên quan [25].
Tóm lại, nghiên cứu BVMT nước LVS tại Việt Nam trong những năm qua đã
được chú trọng và đẩy mạnh. Cách tiếp cận nghiên cứu và nội dung nghiên cứu về
LVS ở Việt Nam có thể nói là tương đối giống nhau. Nghiên cứu, quản lý môi trường
nước LVS cho đến nay thường chỉ chú trọng đến nghiên cứu cách thức BVMT nước
bằng việc bảo vệ số lượng nước trên LVS như: đánh giá khả năng chịu tải, khả năng tự
làm sạch và đề xuất một số công trình, dự án để pha loãng, tăng lưu lượng dòng chảy,
tăng khả năng chịu tải và tự làm sạch của hệ thống sông. Các nghiên cứu về pháp luật
cho BVMT nước LVS còn ít, và chỉ nghiên cứu cụ thể cho một LVS chứ chưa mang
tính tổng thể.
Đề tài của Đại học Thủy Lợi (2004): Nghiên cứu cơ sở khoa học và kinh nghiệm
thực tiễn QLTHTNN LVS Ba”. Đề tài nghiên cứu và đưa ra các kết quả phân tích,
nguồn nước quốc tế vào các mục đích phi giao thông đã được ký kết. Công ước là dấu
mốc quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách và pháp luật quốc tế liên
quan đến LVS. Diễn đàn nước thế giới lần thứ hai tại Hague (Hà Lan) năm 2000 với
chủ đề “Nước là công việc của tất cả mọi người”. Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về
PTBV tại Johannesburg năm 2002, nước được xác định là một trong năm vấn đề quan
trọng nhất của thế giới. Những nguyên tắc, những giải pháp nêu trong Diễn đàn nước
thế giới lần thứ ba tại Kyoto (Nhật Bản) đặc biệt có ý nghĩa với Đề tài bởi trong diễn
đàn này, vấn đề quản lý tổng hợp nguồn nước và quản lý LVS được thảo luận.
Trong số các công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề về quản lý TNN
lưu vực sông có thể liệt kê những công trình đáng chú ý sau.
(i) Chương trình môi trường Liên Hợp quốc (UNEP) thực hiện một báo cáo toàn
diện về phát triển nước bền vững và vấn đề quản lý [82]. Trong đó, các chuyên gia của
tổ chức này đã phân tích toàn diện vai trò và thách thức đối với quản lý kết hợp tài
nguyên nước. Báo cáo cho rẳng không thể có cách tiếp cận tốt nhất và duy nhất cho
quản lý bền vững tài nguyên nước. Điều này có nghĩa mỗi quốc gia cần lựa chọn cho
14
mình một phương thức quản lý và bảo vệ tài nguyên nước phù hợp với điều kiện cụ
thể. Tuy nhiên, những nguyên lý chung về bảo vệ tài nguyên nước cần được áp dụng
ở những mức độ tối đa có thể.
(ii) Một trong những vấn đề được nghiên cứu nhiều nhất trong lĩnh vực bảo vệ
tài nguyên nước quản lý kết hợp lưu vực sông IRBM. Mô hình quản lý kết hợp lưu vực
sông hiện đang là xu thế phổ biến ở nhiều quốc gia trong lĩnh vực quản lý tài nguyên
nước. Có khá nhiều định nghĩa về IRBM song tất cả các định nghĩa đều thống nhất
rằng các lưu vực sông tạo ra bối cảnh rất rộng cho việc qui hoạch và quản lý nguồn
nước, hệ sinh thái nước gắn với sông, suối và đất ngập nước. Quỹ động vật hoang dã
(WWF) định nghĩa IRBM là quá trình phối hợp việc bảo tồn, quản lý và phát triển tài
biệt, Bộ được giao thẩm quyền này phải phối hợp với cấc bộ để xây dựng qui hoạch,
kế hoạch sử dụng tài nguyên nước lưu vực sông. Bộ có thẩm quyền giải quyềt các
xung đột ở tầm quốc gia giữa các ngành khác nhau liên quan đến tài nguyên nước.
Cấp độ quản lý lưu vực rất quan trọng. Ở cấp độ lưu vực, hoạt động quản lý bao
gồm việc thu thập, xử lý và phân tích số liệu, phân bố nước, kiểm soát ô nhiễm, chuẩn
bị các kế hoạch sử dụng nước, thu phí. Cơ quan quản lý cấp độ lưu vực được giao
thẩm quyền giải quyết tranh chấp nước. Quản lý tài nguyên nước cấp độ khu vực
thượng lưu hay tiểu khu vực thượng lưu được thực hiện qua các ủy ban hay tiểu ban.
Các ban và tiểu ban này có các thành viên đại diện cho các thành phần kinh tế, hiệp
hội người sử dụng nước.
Những phân tích của Lilia Lungwa cho thấy ở Tanazia, quản lý lưu vực sông,
quản lý thượng lưu vực và tiểu thượng lưu vực rất được chú trọng. Các ủy ban, tiểu
ban quản lý lưu vực, thượng lưu vực đều được giao các nhiệm vụ phù hợp với hoạt
động quản lý lưu vực sông vượt ngoài khuôn khổ quản lý theo địa giới hành chính.
(iv) N. Wengert [78] trong cuốn “Quan điểm về lưu vực sông nhìn từ khía cạnh
quản lý ở USA” [The River Basin Concept as seen from a Management Perspective in
USA] đã phân tích các khía cạnh lý luận của lưu vực sông từ khía cạnh quản lý. Ông
cho rằng, quản lý lưu vực sông được hình thành ở Mỹ từ cuối thế kỷ thứ 19. Các lưu
vực sông được coi là các đối tượng của qui hoạch sử dụng tài nguyên nước. Quan điểm
về quản lý lưu vực sông đạt đỉnh cao trong những năm 30 và 40 và 50 của thế kỷ thứ
20 thì các cố gắng cài quan điểm về phát triển tài nguyên nước theo lưu vực sông vào
các qui hoạch phát triển kinh tế xã hội được ủng hộ rộng rãi. Tuy nhiên, kể từ những
năm 60 của thế kỷ 20 cho đến nay thì phát triển lưu vực sông chỉ được áp dụng hạn
chế và chỉ trong phạm vi của các công trình thủy văn. Qui hoạch phát triển khu vực
chấm dứt sự chú ý đối với quản lý lưu vực sông và ngày càng được sử dụng trong các
chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Phân tích các yếu tố trong kỹ thuật, thủy lợi, thủy
văn, công nghệ, kinh tế, xã hội, Còn quản lý lưu vực sông chỉ còn gắn với các qui
hoạch phát triển thủy lợi N. Wengert khẳng định sự cần thiết phải thúc đẩy quan điểm
quản lý lưu vực sông. Ông cho rằng ngày từ trước đây, nhận thức về các dòng sông với
định như là một công cụ hiệu lực cho việc bảo vệ môi trường; (3) Hài hóa hóa công cụ
liên kết (inter-instrumental integration) việc tạo ra sự liên kết các công cụ bảo vệ môi
trường để đảm bảo tính đồng bộ, không bị hạn chế bởi công cụ thuộc thẩm quyền của
một hoặc vài ngành; (4) Hài hóa các thiết chế (inter-agency integration ) hướng tới sự
tham gia của nhiều cơ quan có lợi ích liên quan.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực
sông a. Các công trình nghiên cứu trong nước
(i) Nguyễn Hải Hà An (2010) đã nghiên cứu đề tài Quy chế pháp lý về Ủy ban
BVMT nước theo các LVS. Đề tài nghiên cứu các vấn đề pháp lý và cơ sở lý luận của
việc quản lý TNN theo LVS dựa trên cơ sở so sánh, đánh giá giữa các mô hình quản lý
17
theo LVS trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Từ đó đề xuất các giải pháp, đưa ra
những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật trong việc xây dựng quy
chế pháp lý về tổ chức và hoạt động của các Ủy ban LVS [2].
(ii) Tiêu Thị Hà (2010) Luận văn thạc sĩ “Pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu
vực sông ở Việt Nam”. Đề tài nghiên cứu góp phần làm rõ cơ sở lý luận cũng như
nguyên tắc pháp lý về bảo vệ môi trường theo lưu vực sông. Dựa trên những phân tích
đánh giá các số liệu thống kê tình hình hiện trạng môi trường cũng như việc nhận định
các hạn chế bất cập hiện nay của các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường nước
lưu vực sông, luận văn đưa ra các kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định pháp
luật thực định cũng như thúc đẩy thực thi những quy định này trong hoạt động bảo vệ
môi trường nước như: (i) Hoàn thiện thể chế, tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật
về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông; (ii) Nhà nước nên có cơ chế, chính sách để
người dân, các tổ chức cộng đồng tham gia thực sự bảo vệ Tài nguyên nước, bảo vệ
môi trường nước, tạo điều kiện cho người dân tham gia ngay từ khi lập quy hoạch xây
dựng đến khai thác sử dụng và bảo vệ; (iii) Hoàn thiện tổ chức, hoạt động của các Ủy
thường chỉ chú trọng đến nghiên cứu cách thức BVMT nước bằng việc bảo vệ số lượng
nước trên LVS như: đánh giá khả năng chịu tải, khả năng tự làm sạch và đề xuất một số
công trình, dự án để pha loãng, tăng lưu lượng dòng chảy, tăng khả năng chịu tải và tự làm
sạch của hệ thống sông. Các nghiên cứu về pháp luật cho BVMT nước LVS còn ít, và chỉ
nghiên cứu cụ thể cho một LVS chứ chưa mang tính tổng thể.
b. Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Mặc dù quản lý kết hợp lưu vực sông nhằm bảo vệ tài nguyên nước được đặt ra từ
thế kỷ thứ 19 song vấn đề này lại ít được nghiên cứu trong khoa học pháp lý của các nước,
ngay cả ở nơi sản sinh quan niệm này. Trong thực tiễn của các nước có không ít các luật,
qui chế về quản lý kết hợp nước lưu vực sông. Chắc chắn có những công trình nghiên cứu
đánh giá các quan hệ xã hội phát sinh từ việc sử dụng nước lưu vực sông nhằm phục vụ
việc ban hành các luật và qui chế này. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu hàn lâm về
pháp luật bảo vệ nước lưu vực sông không có nhiều như các công trình nghiên cứu pháp
luật về bảo vệ môi trường nước. Có thể giả định rằng do bảo vệ nước lưu vực sông là một
nội dung cốt lõi của bảo vệ môi trường nước nên các nghiên cứu đối với pháp luật về
thành tố này được tích hợp vào trong đó. Các công trình hàn lâm về pháp luật bảo vệ nước
lưu vực sông không nhiều và phần lớn gắn với từng lưu vực sông cụ thể. Điều này, được
chứng minh qua tổng quan các công trình nghiên cứu dưới đây.
(i) Công trình nghiên cứu có tính khái quát về pháp luật bảo vệ môi trường
nước, bao gồm nước lưu vực sông được Luận án tổng quan đầu tiên là của TS. Jordan
Daci “Bảo vệ quyền con người về nước theo Luật quốc tế: Cần có một khuôn khổ pháp
lý” [83] [Protection of the Human Right to Water Under International Law: The Need
for a New Legal Framework]. Jordan Taci phân tích mối liên hệ của quyền con người
với quyền tiếp cận nguồn nước. Ông cho rằng cuộc sống con người không có nghĩa lý
gì nếu không có quyền tiếp cận nước và các quyền con người cốt lõi khác vốn là điều
19
(ii) Công trình đặc biệt có ý nghĩa với đề tài luận án là nghiên cứu khái quát về
chức năng, thẩm quyền và hoạt động của các ủy ban lưu vực sông quốc tế ở khía cạnh
thu hút sự tham gia của công chúng do Sabine Schulze thực hiện [84] “Public
Participation in the Governance of Transboundary Water Resources – Mechanisms
provided by River Basin Organizations” được Sabine Schulze thực hiện năm 2012 và
đăng trong L'Europe en Formation 2012/3 (No 365). Công trình nhấn mạnh vai trò của
công chúng trong quản lý lưu vực sông vì đây chính là một thành tố trong IRBM. Cơ
chế huy động sự tham gia của công chúng được phân tích qua cơ chế hoạt động của
20