VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------
LÊ PHƯƠNG LINH
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số : 9 38 01 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI – 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Nội dung cũng
như các số liệu trình bày trong luận án hoàn toàn trung thực. Những kết luận khoa học
của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Phương Linh
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQLQHLVS
:
Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông
BVMT
:
Bảo vệ môi trường
CCN
:
Cụm công nghiệp
ĐMC
:
Đánh giá môi trường chiến lược
ĐTM
:
Kế hoạch và Đầu tư
KHCN
:
Khoa học Công nghệ
LVS
:
Lưu vực sông
NN&PTNT
:
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
QLLVS
:
Quản lý lưu vực sông
TCLVS
Hình 1: Đánh giá thể chế, chính sách và pháp luật theo IPA............................... 6
Hình 2.1. Sơ đồ mô tả lưu vực sông.................................................................... 38
Hình 2.2. Mối quan hệ giữa khoa học môi trường và hoàn thiện pháp luật
BVMT ......................................................................................................... 50
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam là một Quốc gia thuộc vùng Đông Nam của Châu Á. Đây là nơi nằm
trong vùng hoạt động của gió mùa, kết hợp với lượng mưa nhiều (lượng mưa trung
bình khoảng 2600mm/năm) kết hợp với địa hình bị chia cắt mạnh, đã tạo nên mạng
lưới sông ngòi, kênh rạch khá phát triển với số lượng 2360 con sông có chiều dài hơn
10km, phần lớn thuộc loại vừa và nhỏ. Hầu hết các sông suối nói trên tập trung thành
các hệ thống sông lớn. Trong đó, có 11 hệ thống sông lớn như: lưu vực sông Hồng,
sông Thái Bình, sông Bằng Giang, sông Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Vũ Gia,
sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai, sông Cửu Long (MeKong). Trung bình cứ
khoảng 15-20 km bờ biển lại có một cửa sông. Sông MeKong ở miền Nam, sông Hồng
ở miền Bắc là những dòng sông thuộc vào loại lớn và dài ở Châu Á và trên thế giới.
Do đặc điểm về điều kiện địa hình mà hầu hết các tỉnh của nước ta đều nằm trong
lưu vực của các hệ thống sông lớn. Ví dụ, lưu vực sông Hồng bao gồm phần lãnh thổ
của 25 tỉnh thành phía Bắc, lưu vực sông MeKong gồm phần lãnh thổ của 17 tỉnh (12
tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, 3 tỉnh Tây Nguyên, Quảng Trị và Lai Châu); lưu vực
sông Đồng Nai - Sài Gòn gồm phần lãnh thổ của 11 tỉnh Đông Nam Bộ và Tây
Nguyên, Lưu vực sông Mã bao gồm phần lãnh thổ của Lào và các tỉnh Điện Biên, Sơn
La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, …
Tổng lượng nước mặt trung bình hằng năm khoảng 830-840 tỷ m3, trong đó hơn
60% lượng nước được sản sinh từ nước ngoài, chỉ có khoảng 310-320 tỷ m3 được sản
sinh trên lãnh thổ Việt Nam. Lượng nước bình quân đầu người trên 9.000 m3/năm.
Nước dưới đất cũng có tổng trữ lượng tiềm năng khoảng 63 tỷ m3/năm, phân bố ở 26
có vị thế đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong những năm qua, ở tất cả các lưu vực sông đã diễn ra quá trình phát triển nhiều
ngành kinh tế dựa trên việc sử dụng nguồn nước của lưu vực như thuỷ điện, giao
thông, du lịch, nuôi trồng thuỷ sản, tưới tiêu, cấp nước sinh hoạt và sản xuất... Đồng
thời, với ưu thế địa lý thuận lợi, lưu vực sông cũng là nơi phát triển mạnh mẽ của các
khu đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp và các làng nghề. Khi bảo vệ môi trường của
đất nước đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của đất nước thì nó tất yếu gắn với
các dòng sông như bất cứ lĩnh vực hoạt động nào ở nước ta.
Quản lý lưu vực sông là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới
trong nửa cuối của thế kỷ 20 và phát triển rất mạnh trong vài thập kỷ gần đây nhằm
đối phó với những thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm và
suy thoái các nguồn tài nguyên và môi trường của các lưu vực sông. Hiện nay trên thế
giới đã có hàng trăm các tổ chức quản lý lưu vực sông được thành lập để quản lý tổng
hợp và thống nhất tài nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan khác trên lưu vực
sông, tối đa hoá lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng nhưng không
làm tổn hại đến tính bền vững của hệ thống môi trường trọng yếu của lưu vực, duy trì
các điều kiện môi trường sống lâu bền cho con người.
2
Từ trước tới nay, Việt Nam với lịch sử văn minh lúa nước lâu đời, quản lý lưu
vực sông vẫn dựa trên quan điểm bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên nước phục vụ
cho nông nghiệp. Các nhà quản lý chưa xác định rõ ràng được mục tiêu bảo vệ môi
trường trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài là quản lý tổng hợp tài nguyên nước nhằm
kết hợp hài hoà giữa phát triển và quản lý tài nguyên nước, đất, tài nguyên sinh học và
các nguồn tài nguyên khác. Mục tiêu là phát huy tối đa lợi ích về kinh tế và xã hội mà
không gây tổn hại tới tính bền vững của các hệ sinh thái.
Thực tế là những văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nước ở lưu
vực sông hiện nay còn đang rất thiếu, chưa đồng bộ và thậm chí còn chưa phù hợp với
điều kiện thực tế. Hơn nữa, việc triển khai thực hiện Luật và các văn bản dưới luật
Ba là, nghiên cứu đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm xây dựng, hoàn thiện và thực
hiện có hiệu quả hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông ở Việt Nam
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
3.1. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
Luận án xác định phạm vi nghiên cứu là những quy định pháp luật về bảo vệ môi
trường nước lưu vực sông. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo vệ môi
trường nước lưu vực sông, Luận án sẽ làm rõ thực trạng và giải pháp bảo vệ môi
trường nước lưu vực sông ở Việt Nam.
- Phạm vi về không gian và đối tượng nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu môi trường nước ở 3 lưu vực sông lớn như: Lưu
vực sông Nhuệ - Đáy, lưu vực sông Đồng Nai, lưu vực sông Cầu.
- Phạm vi về thời gian:
Luận án tập trung nghiên cứu về vấn đề bảo vệ môi trường nước lưu vực sông
theo pháp luật Việt Nam những năm gần đây.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường
nước lưu vực sông. Đề tài đã tiếp thu, kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu
có liên quan của các tác giả đi trước, đồng thời sẽ đi sâu vào làm rõ những hạn chế của
pháp luật hiện hành, đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm xây dựng, hoàn thiện hệ
thống pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường
nước lưu vực sông ở Việt Nam.
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1. Cách tiếp cận
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận khoa
học và phương pháp luận về nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà
nước về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về xây dựng và bảo vệ pháp luật, về
bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, chống biến đổi khí
hậu và bảo đảm các quyền con người.
c. Phương pháp so sánh thống kê
Phương pháp so sánh thống kê được sử dụng để cung cấp các số liệu cần thiết,
đối chiếu, so sánh, làm rõ các nội dung liên quan, đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật
về bảo vệ môi trường nước Lưu vực sông.
d. Phương pháp phân tích đánh giá thể chế và chính sách (IPA)
Phương pháp IPA (Institution and policy Analysis- IPA) là phương pháp phân
5
tích đánh giá thể chế và chính sách (Hình ). IPA là một công cụ kỹ thuật, trung lập,
nhằm làm rõ hiệu quả của một chính sách đang có hiệu lực, giải thích rõ các bên liên
quan đã thích ứng như thế nào dưới tác động của chính sách, tìm kiếm chiến lược hoặc
giải pháp để cải thiện và tăng cường hiệu quả của chính sách. IPA là trung lập vì nó
không nhằm việc hoạch định, xác định mục tiêu, tầm ảnh hưởng, đạo đức, … của một
chính sách sẽ được ban hành, mà chỉ là công cụ phân tích một chính sách đã và đang
có hiệu lực nhằm tìm kiếm các phương cách gia tăng hiệu quả thực hiện của chính
sách đó.
Hình 1: Đánh giá thể chế, chính sách và pháp luật theo IPA
IPA được đánh giá trên 6 vấn đề chính (hay 6 bước tại Hình ) được sắp xếp theo
trình tự logic nhằm thể hiện các quá trình ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách,
pháp luật. Tuy nhiên, luận án sẽ lồng ghép các nội dung chính của IPA nhưng không
theo trình tự các bước ở Hình .
5. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi
trường nước lưu vực sông, chỉ ra những yếu tố chi phối pháp luật về bảo vệ môi
trường nước lưu vực sông
- Luận án nghiên cứu làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật
bảo vệ môi trường nước lưu vực sông ở Việt Nam
- Luận án đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực
a. Tình hình nghiên cứu trong nước
Nguồn nước lưu vực sông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển và
đời sống của các quốc gia, các cộng đồng lưu vực sông. Bên cạnh những giá trị to lớn
đối với các quốc gia, các cộng đồng sống ở lưu vực sông, nguồn nước lưu vực sông
với khả năng lan tỏa nhanh luôn chứa đựng những nguy cơ lớn như ngập lụt, ô nhiễm
toàn vùng khi có những sự cố thiên tai hay hành động bất cẩn của con người. Chính vì
vậy, bảo vệ nguồn nước lưu vực sông luôn là một trong những nội dung đặc biệt quan
trọng của bảo vệ môi trường ở các quốc gia có LVS. Bảo vệ môi trường nước lưu vực
sông đòi hỏi những phương thức đặc thù, những thiết chế đặc thù. Trong đó, có quản
lý tổng hợp LVS. Những phương thức, và thiết chế này luôn là đối tượng nghiên cứu
của khoa học môi trường, khoa học quản lý và khoa học pháp lý. LVS được coi là một
thể thống nhất, có những tác động qua lại giữa các nguồn tài tài nguyên khác nhau như
nước, đất, rừng, các HST. Trong đó, nước là yếu tố quan trọng nhất cần được chú
trọng bảo vệ. Việc khai thác và sử dụng lưu vực sông, đặc biệt là nguồn nước luôn làm
phát sinh các quan hệ xã hội và phần lớn được điều chỉnh bằng pháp luật. BVMT nước
LVS như việc bảo vệ một thực thể nhằm đáp ứng được yêu cầu PTBV trên LVS. Như
vậy, BVMT nước LVS là hoạt động gắn với các quy hoạch, kế hoạch, chính sách,
pháp luật và các hoạt động nhằm kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nhằm bảo đảm CLN
trên LVS cũng như các quá trình liên quan trong một LVS.
Bốn trụ cột cần phải tạo dựng trong BVMT nước LVS đó là:
- Tạo dựng một môi trường chính sách phù hợp và thuận lợi.
- Xây dựng pháp luật phù hợp và đủ mạnh để thực thi nhiệm vụ quản lý.
- Xây dựng và sử dụng các công cụ hỗ trợ hiệu quả, các chế tài đủ sức răn đe để
BVMT nước LVS.
- Thiết lập mô hình Ủy ban LVS với cơ cấu, chức năng nhiệm vụ đủ mạnh để
hoạt động hiệu quả.
Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
(NC&KH) cấp Nhà nước, cấp bộ về khai thác sử dụng, quản lý và bảo vệ TNN,
8
trường LVS Vàm Cỏ [13].
(iv) Nguyễn Minh Lâm (2013) trong Luận án tiến sĩ của mình đã tiến hành
nghiên cứu đánh giá khả năng chịu tải và đề xuất các giải pháp bảo vệ chất lượng nước
sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Long An. Luận án đã đánh giá được tải lượng ô nhiễm với
9
các kịch bản khác nhau do nước thải từ các nguồn ô nhiễm phân tán đến năm 2015 và
năm 2020 dựa trên phương pháp mô hình hóa bằng phần mềm MIKE11, từ đó đánh
giá được khả năng chịu tải của sông Vàm Cỏ Đông - đoạn chảy qua huyện Bến Lức,
tỉnh Long An theo các kịch bản (hiện trạng, đến năm 2015, 2020). Luận án cũng đã đề
xuất được các biện pháp quản lý tổng hợp và đồng bộ chất lượng nước sông Vàm Cỏ
Đông - đoạn chảy qua huyện Bến Lức, tỉnh Long An bao gồm các giải pháp công nghệ và
phi công trình, cơ chế quản lý sông Vàm Cỏ Đông với công việc và quyền hạn để thực
hiện các chương trình và dự án nhằm bảo vệ chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông [18].
(v) Đề tài chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước về nghiên cứu dự báo
hạn hán vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và xây dựng giải pháp phòng chống “Đề
tài nhánh số 2 Điều tra hiện trạng hệ thống nguồn nước, nhu cầu dùng nước và các giải
pháp phòng chống hạn đã áp dụng ở Nam Trung bộ và Tây Nguyên” [1];
(vi) Đề tài của Nguyễn Văn Hạnh (2010): Nghiên cứu xác định dòng chảy môi
trường của hệ sông Hồng - sông Thái Bình và đề xuất các giải pháp duy trì dòng chảy
môi trường phù hợp với các yêu cầu phát triển bền vững TNN - Xác định dòng chảy
môi trường đến giai đoạn 2020 cho hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình. Đề tài đã
xác định dòng chảy môi trường cho hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình. Trình bày
kết quả tính toán mô phỏng chất lượng nước và xâm nhập mặn. Đề xuất dòng chảy
môi trường cho hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình [15].
(vii) Nguyễn Hữu Huế, Khoa Công trình – Trường Đại học Thủy lợi. Trong
tuyển tập Hội nghị Khoa học thường niên (2013) đã công bố đề tài nghiên cứu giải
pháp công trình lấy nước tự chảy cho sông Đáy, sông Nhuệ và sông Tô Lịch. Do tình
trạng khan hiếm nước vào mùa khô diễn ra ở tất cả các hệ thống sông trên địa bàn Tp. Hà
triển KT-XH. Tổng hợp giữa lý luận và thực tiễn để xây dựng phương pháp luận về
quản lý tổng hợp LVS, phân tích đánh giá các mô hình hiện đang được áp dụng trong
nước và một số mô hình của nước ngoài để đề xuất mô hình quản lý thích hợp đối với
các tiểu lưu vực và LVS Đà [30]. Mô hình tổ chức lưu vực sông Đà, được coi là giải
pháp "...bảo đảm quản lý thống nhất quy hoạch lưu vực với địa bàn hành chính" và
"...bảo đảm tính hệ thống của lưu vực sông, không chia cắt theo địa giới hành chính",
mục tiêu quan trọng mà Luật Tài nguyên nước[35] đề ra. Hoạt động của mô hình này
tạo điều kiện để lồng ghép các mối quan tâm về tài nguyên và môi trường vào các quy
hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, của từng ngành ở cấp
lưu vực sông. Các dự án phát triển khác cũng được kiểm soát tốt hơn, hướng vào việc
góp phần phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh trên lưu vực và hạn chế những tác
động bất lợi đến tài nguyên, môi trường của lưu vực. Mô hình này có thẩm quyền quản
lý nhà nước trên lưu vực đủ mạnh để thực thi các quyết định (đồng thuận) của Hội
đồng phối hợp thành mệnh lệnh hành chính xuyên suốt các tỉnh trong lưu vực sông Đà.
(xi) Đề tài KC.08.27 (2001-2006) do Lã Thanh Hà chủ nhiệm: Nghiên cứu giải
pháp khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên, BVMT và phòng tránh thiên tai LVS Lô –
11
sông Chảy đã đề xuất mô hình quản lý tổng hợp tài nguyên–môi trường LVS Lô -sông
Chảy như một cơ quan độc lập, không trực thuộc bộ hay tỉnh nào, nhưng chịu sự
hướng dẫn chuyên ngành của các bộ liên quan và các quyết sách tư vấn về mặt TNN
cho Hội đồng TNN quốc gia. Chủ tịch Ban quản lý LVS Lô-sông Chảy là luân phiên
Chủ tịch UBND 8 tỉnh do Hội đồng bầu [14].
(xii) Đề tài NCKH cấp Bộ của Tô Trung Nghĩa, Viện Quy hoạch Thủy lợi
(2008): Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp công nghệ để PTBV LVS Hồng đã
nghiên cứu, điều tra hiện trạng tài nguyên, môi trường LVS Hồng, áp dụng các mô
hình TANK, mô hình NAM, mô hình MITSIM, mô hình MIKE BASIN để tính toán
cấn bằng nước, tính toán khả năng chịu tải, tự làm sạch của LVS Hồng đồng thời thiết
lập, mô phỏng, phân tích đánh giá các kịch bản và các phương án công trình cho việc
hoạt động phát triển khác trong cùng lưu vực và vùng bờ, trong mối liên kết giữa LVS
từ thượng lưu đến hạ lưu và vùng ven biển của hai địa phương [48].
Với việc ký thỏa thuận, hai bên sẽ thành lập Ban Điều phối chung, gồm lãnh
đạo UBND tỉnh Quảng Nam, UBND TP Đà Nẵng và các cơ quan chủ chốt có liên
quan đến quản lý LVS Vu Gia - Thu Bồn và vùng bờ để giải quyết các vấn đề liên
tỉnh, liên vùng. Cơ quan đầu mối của Ban Điều phối là Sở TN&MT của hai địa
phương. Sở TN&MT tổ chức nghiên cứu, đề xuất cụ thể về kế hoạch, quy chế làm việc
của Ban Điều phối, lập Tổ Tư vấn và tổ chức tham vấn với các bên liên quan [25].
Tóm lại, nghiên cứu BVMT nước LVS tại Việt Nam trong những năm qua đã
được chú trọng và đẩy mạnh. Cách tiếp cận nghiên cứu và nội dung nghiên cứu về
LVS ở Việt Nam có thể nói là tương đối giống nhau. Nghiên cứu, quản lý môi trường
nước LVS cho đến nay thường chỉ chú trọng đến nghiên cứu cách thức BVMT nước
bằng việc bảo vệ số lượng nước trên LVS như: đánh giá khả năng chịu tải, khả năng tự
làm sạch và đề xuất một số công trình, dự án để pha loãng, tăng lưu lượng dòng chảy,
tăng khả năng chịu tải và tự làm sạch của hệ thống sông. Các nghiên cứu về pháp luật
cho BVMT nước LVS còn ít, và chỉ nghiên cứu cụ thể cho một LVS chứ chưa mang
tính tổng thể.
Đề tài của Đại học Thủy Lợi (2004): Nghiên cứu cơ sở khoa học và kinh nghiệm
thực tiễn QLTHTNN LVS Ba”. Đề tài nghiên cứu và đưa ra các kết quả phân tích,
đánh giá việc khai thác sử dụng, cũng như công tác quản lý và quy hoạch TNN trên
LVS Ba. Là cơ sở để thực hiện việc chuyển đổi hình thức quản lý TNN từ truyền
thống sang quản lý tổng hợp, là nguồn tư liệu giúp cho việc đề ra chiến lược quản lý
bền vững TNN LVS Ba 0.
Tình trạng ô nhiễm môi trường trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai chỉ có thể
được giải quyết khi từng tỉnh, thành phố làm tốt vai trò, trách nhiệm của mình, đẩy
nhanh tiến độ xây dựng các công trình xử lý nước thải, chất thải rắn tại các khu đô thị,
khu công nghiệp và cụm công nghiệp. PGS, TS Phùng Chí Sỹ đề xuất: “Giải pháp cần
13
tổ chức này đã phân tích toàn diện vai trò và thách thức đối với quản lý kết hợp tài
nguyên nước. Báo cáo cho rẳng không thể có cách tiếp cận tốt nhất và duy nhất cho
quản lý bền vững tài nguyên nước. Điều này có nghĩa mỗi quốc gia cần lựa chọn cho
14
mình một phương thức quản lý và bảo vệ tài nguyên nước phù hợp với điều kiện cụ
thể. Tuy nhiên, những nguyên lý chung về bảo vệ tài nguyên nước cần được áp dụng
ở những mức độ tối đa có thể.
(ii) Một trong những vấn đề được nghiên cứu nhiều nhất trong lĩnh vực bảo vệ
tài nguyên nước quản lý kết hợp lưu vực sông IRBM. Mô hình quản lý kết hợp lưu vực
sông hiện đang là xu thế phổ biến ở nhiều quốc gia trong lĩnh vực quản lý tài nguyên
nước. Có khá nhiều định nghĩa về IRBM song tất cả các định nghĩa đều thống nhất
rằng các lưu vực sông tạo ra bối cảnh rất rộng cho việc qui hoạch và quản lý nguồn
nước, hệ sinh thái nước gắn với sông, suối và đất ngập nước. Quỹ động vật hoang dã
(WWF) định nghĩa IRBM là quá trình phối hợp việc bảo tồn, quản lý và phát triển tài
nguyên nước, đất và các tài nguyên khác bởi các ngành khác nhau trong phạm vi một
lưu vực sông cụ thể để tối đa hóa các giả trị kinh tế, xã hôi có được từ tài nguyên nước
theo phương thực công bằng nhưng vẫn bảo tồn được và khi cần thiết vẫn phục hồi
được hệ sinh thái nước [88]. Ngân hàng Thế giới định nghĩa IRBM là giải pháp kết
hợp các nguồn tài nguyên nước để đảm bảo rằng các khía cạnh xã hội, môi trường,
kinh tế, kỹ thuật phải được cân nhắc trong quá trình quản lý và phát triển tài nguyên
nước [89]. Chương trình Liên hợp quốc về xây dựng năng lực cho quản lý kết hợp lưu
vực sông định nghĩa IRBM là quá trình phát triển bền vững, phân phối và giám sát
việc sử dụng tài nguyên nước dựa và các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường [93].
Đối tác nước toàn cầu (Global Water Partnership - GWP) định nghĩa IRBM là
quá trình thúc đẩy sự phát triển và quản lý phối hợp đối với nước, đất và các nguồn tài
nguyên liên quan nhằm tối đa hóa phúc lợi xã hội theo cách công bằng mà không có
nhân nhượng liên quan đến tính bền vững của các hệ sinh thái [94].
Như vậy, cần phải khẳng định rằng IRBM là phương thức cần được áp dụng để
USA] đã phân tích các khía cạnh lý luận của lưu vực sông từ khía cạnh quản lý. Ông
cho rằng, quản lý lưu vực sông được hình thành ở Mỹ từ cuối thế kỷ thứ 19. Các lưu
vực sông được coi là các đối tượng của qui hoạch sử dụng tài nguyên nước. Quan
điểm về quản lý lưu vực sông đạt đỉnh cao trong những năm 30 và 40 và 50 của thế kỷ
thứ 20 thì các cố gắng cài quan điểm về phát triển tài nguyên nước theo lưu vực sông
vào các qui hoạch phát triển kinh tế xã hội được ủng hộ rộng rãi. Tuy nhiên, kể từ
những năm 60 của thế kỷ 20 cho đến nay thì phát triển lưu vực sông chỉ được áp dụng
hạn chế và chỉ trong phạm vi của các công trình thủy văn. Qui hoạch phát triển khu
vực chấm dứt sự chú ý đối với quản lý lưu vực sông và ngày càng được sử dụng trong
các chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Phân tích các yếu tố trong kỹ thuật, thủy lợi,
thủy văn, công nghệ, kinh tế, xã hội, Còn quản lý lưu vực sông chỉ còn gắn với các qui
hoạch phát triển thủy lợi N. Wengert khẳng định sự cần thiết phải thúc đẩy quan điểm
quản lý lưu vực sông. Ông cho rằng ngày từ trước đây, nhận thức về các dòng sông với
tư cách là hệ thống thì sự chú ý cũng đã tập trung vào mối tương tác nhân quả giữa các
con sông với yếu tố sinh thái, xã hội và sự lựa chọn chính trị. Quản lý lưu vực sông đòi
16
hỏi những số liệu tin cậy để làm nền tảng cho việc tạo dòng chảy chính
(mainstreaming) và xây dựng mô hình hệ thống sinh thái.
(v) Một công trình đáng chú ý về tiếp cận kết hợp trong quản lý nước theo mô
hình Liên minh Châu Âu (EU) là bài viết của TS Julia Adshead [77] “Tiếp cận kết hợp
đối với bảo vệ và quản lý nước – Mô hình EU” [An integrated approach to water
protection and management: the European Union model] công bố năm 2009. Tác giả
nghiên cứu nội dung của Chỉ thị EU về Khung tài nguyên nước (European Union
Water Framework Directive). Mục tiêu của bài viết là xác định xem các qui định của
Chỉ thị có phù hợp với tư duy hiện đại về quản lý kết hợp lưu vực sông và tiềm năng
của nó trong việc tạo ra được sự hài hòa lập pháp và thiết chế trên toàn bộ các thành
viên của Liên minh. Tác giả đã đưa ra phát hiện là Chỉ thị chưa phù hợp với tư duy
nguyên tắc pháp lý về bảo vệ môi trường theo lưu vực sông. Dựa trên những phân tích
đánh giá các số liệu thống kê tình hình hiện trạng môi trường cũng như việc nhận định
các hạn chế bất cập hiện nay của các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường nước
lưu vực sông, luận văn đưa ra các kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định pháp
luật thực định cũng như thúc đẩy thực thi những quy định này trong hoạt động bảo vệ
môi trường nước như: (i) Hoàn thiện thể chế, tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật
về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông; (ii) Nhà nước nên có cơ chế, chính sách để
người dân, các tổ chức cộng đồng tham gia thực sự bảo vệ Tài nguyên nước, bảo vệ
môi trường nước, tạo điều kiện cho người dân tham gia ngay từ khi lập quy hoạch xây
dựng đến khai thác sử dụng và bảo vệ; (iii) Hoàn thiện tổ chức, hoạt động của các Ủy
ban lưu vực sông; (iv) Tăng cường hoạt động giám sát môi trường tại các điểm nóng
gây ô nhiễm nguồn nước trong lưu vực sông: khu đô thị, khu công nghiệp và các làng
nghề; (v) Khuyến khích việc xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường nước lưu vực
sông; (vi) Ngân sách nhà nước dành cho bảo vệ môi trường (1% tổng chi ngân sách).
Xây dựng cơ chế cho phép dùng vốn sự nghiệp môi trường để hỗ trợ xử lý môi trường
theo tỷ lệ phù hợp [45].
(iii) Nguyễn Quang Hùng (2015) Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu hoàn thiện pháp
luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy”. Đối tượng nghiên cứu
của đề tài là chất lượng nước mặt LVS Nhuệ - sông Đáy và Pháp luật BVMT nước
LVS, các pháp luật khác có liên quan đến LVS. Nội dung nghiên cứu của luận án gồm:
đánh giá áp lực, chất lượng nước mặt LVS Nhuệ - sông Đáy; đánh giá thực trạng pháp
luật, những bất cập, khoảng trống và hạn chế của các chế tài xử lý vi phạm, hiệu quả
can thiệp pháp luật và hoạt động của Ủy ban LVS Nhuệ - sông Đáy. Tuy đã đạt được
những kết quả nhất định, nhưng hệ thống pháp luật về BVMT nước LVS còn bộc lộ
nhiều hạn chế, yếu kém. Chính những hạn chế và yếu kém này cũng là nguyên nhân
chủ yếu dẫn đến những nhược điểm, hạn chế của pháp luật BVMT nước LVS như:
Hiệu quả can thiệp của pháp luật BVMT nước LVS vào LVS Nhuệ - sông Đáy không
có hiệu quả (Hiệu quả Ysông Nhuệ là - 14,0 và hiệu quả Ysông Đáy là - 9,8). Pháp luật vẫn
18
lý” [83] [Protection of the Human Right to Water Under International Law: The Need
for a New Legal Framework]. Jordan Taci phân tích mối liên hệ của quyền con người
với quyền tiếp cận nguồn nước. Ông cho rằng cuộc sống con người không có nghĩa lý
gì nếu không có quyền tiếp cận nước và các quyền con người cốt lõi khác vốn là điều
19
kiện tiên quyết cho cuộc sông con người. Chính vì vậy, thụ hưởng quyền đối với nước
là điều kiện tiên quyết để thụ hưởng các quyền con người khác. Tuy nhiên, trong bối
cảnh có nhiều xung đột trong quốc gia, trong khu vực nên quyền đối với nước không
được đảm bảo, nhất là ở các vùng bị xung đột. Đặc biệt, nhiều vụ tranh chấp nguồn
nước đã dẫn đến xung đột vũ trang. Vì vậy, Jordan Tacci nhấn mạnh sự cần thiết phải
đảm bảo quyền con người đối với nước bằng pháp luật quốc gia cũng như pháp luật
quốc tế. Ở bình diện pháp luật quốc tế, Ông cho rằng dù đã có một số công ước quốc
tế về bảo vệ môi trường nói chung và về nước nói riêng, quyền con người đối với nước
chưa hoàn toàn được bảo vệ. Jordan Tacci đã chỉ ra một số hạn chế của pháp luật quốc
tế hiện đại trong việc bảo vệ quyền con người đối với nguồn nước. Cụ thể đó là những
hạn chế sau:
- Các công ước quốc tế về nước qui định nghĩa vụ của các quốc gia phải đảm
bảo quyền của con người đối với nước tối đa căn cứ vào các nguồn lực hiện có. Chính
điều khoản này là kẻ hở để nhiều quốc gia không thực hiện nghĩa vụ này và viện dẫn
nguồn lực chưa sẵn có để biện minh cho sự vi phạm;
- Các công ước quốc tế hiện hành chưa tiên liệu được cơ chế giải quyết tranh
chấp và thực tế thi dựa vào luật quốc tế mềm;
- Pháp luật quốc tế hiện hành chưa có những công cụ để gắn việc tham gia công
ước với việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý;
- Một số quốc gia lớn thường viện dẫn luật quốc gia của mình để biện minh cho
việc không thực hiện các nghĩa vụ quốc tế theo công ước;
- Hiện vẫn chưa có công ước toàn cầu về phân bổ và sử dụng tài nguyên nước.
Tuy Jordan Tacci không đề cập riêng về nguồn nước lưu vực sông song những