ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ ANH ĐỨC PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TRONG MỐI QUAN HỆ
VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NHÀ ĐẦU TƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ Hà Nội - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
LÊ ANH ĐỨC
vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Lê Anh Đức 2
MỤC LỤC
3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT
TÊN ĐẦY ĐỦ
KÝ HIỆU, VIẾT TẮT
1
Thị trường chứng khoán
TTCK
2
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
UBCKNN
3
Sở giao dịch chứng khoán
SGDCK
4
Công ty Chứng khoán
CTCK
5
Công ty quản lý quỹ
CTQLQ
6
Chứng khoán
CK
7
Nhà đầu tư
NĐT
8
Trung tâm lưu ký
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mới chỉ ra đời chưa đầy 9 năm, TTCK Việt Nam đã có những bước phát triển
đáng kể, trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả cho doanh nghiệp
nói riêng, cho thị trường vốn nói chung. Nửa cuối năm 2006, đầu năm 2007, TTCK
đã có bước phát triển nhảy vọt, kéo theo sự ra đời của hàng loạt các thiết chế trung
gian trên thị trường, trong đó có các CTCK.
CTCK ra đời đã kịp thời đáp ứng được đòi hỏi cấp bách của thị trường, gia tăng
tính minh bạch, bình đẳng, công bằng giữa các chủ thể tham gia thị trường. Tuy
nhiện, sự ra đời ồ ạt của hàng loạt các CTCK cũng gây ra những hậu quả tiêu cực
cho thị trường, ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân các công ty này và lợi ích của các
NĐT tham gia thị trường. Hệ quả đưa lại sau khoảng thời gian “chạy đua” xin cấp
giấy phép thành lập CTCK là tình trạng các công ty này phải “vật lộn” trước bài
toán duy trì hoạt động trước áp lực cạnh tranh giữa các CTCK với nhau, đặc biệt là
trong giai đoạn thị trường tài chính thế giới và trong nước đang có những biến cố
bất lợi. Mặt khác, do có những lợi thế nhất định nên dễ dẫn đến khả năng CTCK
xâm phạm đến quyền lợi của khách hàng (NĐT).Vì vậy, tác giả chọn đề tài nêu trên
để triển khai nghiên cứu vì những lý do sau:
Một là, mặc dù Luật CK và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có những quy
định khá cụ thể về trách nhiệm của CTCK khi tiến hành thành lập, hoạt động kinh
doanh nhưng sau một khoảng thời gian áp dụng, những quy định này đã bộc lộ
những lỗ hổng lớn có khả năng gây phương hại đến các chủ thể khách cùng tham
gia thị trường trong đó có các NĐT – là chủ thể chính quyết định sự tồn tại, ổn định
và phát triển của thị trường;
Hai là, pháp luật dường như mới chỉ tính đến tình huống CTCK thành lập mà
chưa có những dự liệu cần thiết cho tình huống các công ty này lâm vào tình trạng
giải thể, phá sản. Đặc thù hoạt động của CTCK là có khả năng ảnh hưởng, tác động
đến nhiều chủ thể khác nhau. Hoạt động kinh doanh CK của CTCK là hoạt động
kinhh doanh có điều kiện. Mặt khác, trong nhiều trường hợp, tài sản, quyền lợi,
nghĩa vụ của các chủ thể trong mối quan hệ với CTCK rất khó xác định. Vì vậy, nếu
chỉ đơn thuần dựa vào các quy định của luật phá sản doanh nghiệp sẽ không thể xử
nghiên cứu một cách độc lập vấn đề cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động và các vấn
đề khác của CTCK mà chưa đề cập và giải quyết mối tương qua giữa hoạt động
kinh doanh của CTCK với việc đảm bảo quyền lợi của NĐT. Thêm vào đó, trước
6
bối cảnh TTCK trong nước và thế giới đang có những biến động lớn như hiện nay,
hàng loạt các CTCK lâm vào tình trạng khó khăn, thua lỗ, trên thị trường có những
vụ việc tranh chấp gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích của NĐT thì việc tác giả lựa
chọn nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ đề tài trên mang ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc. Những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết
thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về CTCK khi tiến hành sửa đổi, bổ
sung trong thời gian tới nhằm vừa tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho các
CTCK hoạt động hiệu quả, vừa đảm bảo tốt nhất lợi ích hợp pháp chính đáng của
các NĐT khi tham gia thị trường. Tác giả hy vọng rằng, với sự đầu tư thích đáng,
kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp lý điều chỉnh các nội dung hoạt
động kinh doanhh của CTCK trong mối tương quan với việc bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của NĐT. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ chỉ ra những vấn đề pháp lý
chưa đồng bộ, chưa hoàn thiện, đồng thời, đánh giá thực trạng và những vướng mắc
phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, đề tài sẽ đề xuất các giải
pháp hoàn thiện khung pháp lý về CTCK nói riêng, TTCK nói chung, góp phần
củng cố, cải thiện tính minh bạch, ổn định của thị trường và lợi ích của các bên khi
tham
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trên thực tế, CTCK và NĐT có thể tham gia vào các loại TTCK, kể cả TTCK
chính thức và TTCK phi chính chính thức, TTCK tập trung và TTCK phi tập trung.
Theo đó, mối quan hệ giữa NĐT và CTCK cũng rất đa dạng. Tuy nhiên, trong phạm
vi của luận văn, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu các khía cạnh pháp lý liên quan đến
hoạt động kinh doanh của CTCK trên TTCK tập trung trong mối quan hệ với vấn đề
8
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ NHÀ ĐẦU TƢ VÀ HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1. Những vấn đề lý luận pháp luật về nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứng
khoán
TTCK là một trong những kênh huy động vốn quan trọng và hiệu của nền kinh
tế. Đây là thị trường tạo ra nguồn vốn trung và dài hạn quan trọng, góp phần hình
thành nên cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Chính nguồn vốn này đã làm giảm bớt sự
lệ thuộc của các doanh nghiệp vào hệ thống tín dụng ngân hàng, qua đó làm gia
tăng tính chủ động, tích cực của các công cụ, đòn bẩy tài chính của các doanh
nghiệp. Để TTCK vận hành ổn định và hiệu quả cần đến sự tham gia và đóng góp
tích cực của tất cả các chủ thể trên thị trường gồm người mua, người bán, người
trung gian và cơ quan quản lý. Trong đó, người mua và người bán chính là những
NĐT - chủ thể giữ vai trò quyết định đến sự tồn tại, phát triển của thị trường. Họ là
những cá nhân hay tổ chức có tiền nhàn rỗi hoặc có nhu cầu sử dụng hiệu quả đồng
vốn của mình bằng cách mua, bán CK trên thị trường để hưởng lợi nhuận. Mục tiêu
cao nhất mà các NĐT hướng đến là lợi nhuận. Có rất nhiều quan điểm cho rằng đầu
tư CK đơn thuần chỉ là việc sử dụng đồng tiền nhàn rỗi. Tuy nhiên, dưới góc độ
kinh tế học, chúng tôi cho rằng, đầu tư CK không chỉ đơn thuần là việc sử dụng
trƣờng chứng khoán
1.1.1.1. Vai trò của nhà đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán
Mặc dù có rất nhiều chủ thể tham gia trên TTCK nhưng NĐT CK là lực
lượng giữ vai trò trung tâm, tạo nên và quyết định sự phát triển bền vững của thị
trường. Với lực lượng đông đảo, NĐT là bên tạo nên “cầu” hàng hóa của thị trường
bên cạnh lực lượng “cung” là các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết. Bằng việc
mua, bán các loại CK, NĐT đã tạo ra tính thanh khoản cho thị trường, qua đó, tạo
nên “tính hấp dẫn” cho các loại CK. Đây là yếu tố vô cùng quan trọng, là thông số
phản ánh lòng tin của NĐT đối với thị trường. Thông qua hoạt động đầu tư CK,
Nhà nước có thể điều tiết, định hướng việc sử dụng các nguồn vốn trong xã hội,
giảm bớt lượng tiền dư đọng trong dân, điều hòa quan hệ cung – cầu hàng hóa,
khống chế lạm phát. Cũng qua hoạt động đầu tư của các NĐT CK Nhà nước có điều
kiện để tổ chức triển khai thực hiện triệt để các mục tiêu cải cách kinh tế trong đó
nổi bật là việc phân tách giữa vai trò quản lý của Nhà nước và tính chủ động, hiệu
quả của các doanh nghiệp. Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước sẽ đạt
10
được mục tiêu và kỳ vọng của Nhà nước khi được các NĐT trong và ngoài nước,
các tổ chức và cá nhân quan tâm đầu tư, qua đó, góp phần xây dựng cơ chế quản trị
doanh nghiệp ngày càng hiện đại, hoàn thiện, lành mạnh và hiệu quả cao hơn.
Đối với các tổ chức phát hành, nếu CK của doanh nghiệp được giao dịch
nhiều chứng tỏ CK của họ được công chúng đầu tư quan tâm và đánh giá tốt. Mặt
khác, vì được nhiều NĐT quan tâm tìm hiểu, phân tích, đầu tư nên hình ảnh của tổ
chức phát hành có CK niêm yết được công chúng biết đến nhiều hơn, uy tín, thương
hiệu của doanh nghiệp được nâng lên. Thực tế cho thấy, kết quả của các đợt phát
hành của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào tính thanh khoản của CK, vào niềm
tin của các NĐT đối với tổ chức phát hành. Với việc sử dụng CK làm công cụ để
huy động vốn, đã giúp doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào thị trường vốn, chủ
động trong việc tìm kiếm và huy động vốn cho sản xuất, kinh doanh, giảm bớt sự
phụ thuộc của doanh nghiệp vào hệ thống ngân hàng. Đồng thời, doanh nghiệp cũng
cũng phản ánh đúng thực tế hoạt động của các doanh nghiệp. Do vậy, rủi ro đối với
các NĐT CK là rất lớn. Rủi ro đó sẽ càng cao hơn đối với các NĐT đầu tư theo
“chiến lược đầu cơ”, thiếu sự cẩn trọng và hiểu biết cần thiết. Các NĐT này thường
nhằm đến những lợi ích trước mắt, họ thường chớp thời cơ để mua, bán CK một
cách nhanh chóng. Hoạt động đầu tư của họ thường có tính chất may rủi vì họ
không chú ý đến việc phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của tổ chức phát
hành mà chỉ chú ý đến tính thanh khoản của CK và tình hình giao dịch trên thị
trường vào một thời điểm hoặc giai đoạn ngắn, từ đó đưa ra những nhận định, dự
đoán về việc tăng, giảm giá CK để rồi đi đến quyết định mua bán CK để hưởng
chênh lệch giá. Thời gian nắm giữ CK của các NĐT áp dụng “chiến lược đầu cơ”
thường ngắn và “chiến lược” này thường được các cá nhân đơn lẻ, thiếu chuyên
nghiệp sử dụng. Ngoài ra, các NĐT CK còn phải đối mặt với hàng loạt rủi ro khác,
trong đó có những rủi ro cơ bản sau:
Rủi ro thị trường: Đây là loại rủi ro phổ biến và có phạm vi tác động lên tất
cả các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư CK. Rủi ro thị trường là rủi ro mà giá cả của
các loại CK trên thị trường biến động theo một chiều trong một khoảng thời gian
nhất định không phản ánh đúng giá trị thực của mỗi CK. Đó có thể là xu hướng CK
tăng giá quá mức, giá CK tăng một cách nhanh chóng và liên tục trong một thời
gian dài, vượt xa giá trị thực của nó đẩy chỉ số P/E (Price per Earning- Chỉ số giá
trên thu nhập) của mỗi chứng khoán và toàn thị trường lên cao. Trong xu hướng
này, thị trường thường có mức thanh khoản rất thấp khi các NĐT đang nắm giữ CK
12
không muốn bán ra vì chờ đợi giá CK cao hơn, NĐT muốn mua cũng không mua
được hoặc không dám mua vì giá CK quá cao. Hiện tượng này phản ánh không
đúng quan hệ cung cầu gây ra tình trạng “bong bóng” CK. Ngược lại của xu thế này
là xu thế giảm giá CK khi các NĐT ồ ạt bán tháo CK làm cho giá CK sụt giảm
nhanh chóng. Giá cả của các loại CK bất kể CK của công ty có kết quả kinh doanh
tốt hay xấu đồng loạt xuống giá. Nguyên nhân của hai hiện tượng trên thường xuất
phát từ các hành vi đầu cơ, mua bán nội gián hoặc do tác động của yếu tố tâm lý.
quan” với tổ chức phát hành để ngăn ngừa khả năng trục lợi, gây tổn hại đến các
NĐT khác.
Rủi ro về giá: Là loại rủi ro mà tỷ lệ sinh lời từ đầu tư CK thấp hơn tỷ lệ lạm
phát của đồng tiền. Đồng tiền có giá trị theo thời gian. Nghĩa là, lợi nhuận mà các
NĐT thu được phải được chiết khấu cho khoảng thời gian đã đầu tư vào CK đó. CK
có kỳ hạn càng dài thì mức rủi ro sụt giảm giá trị càng lớn. Khi quyết định đầu tư,
NĐT cần phải dự đoán và giả thiết tình hình lạm phát để tìm kiếm mức bù đắp cho
các khoản đầu tư đó.
Rủi ro thanh khoản: Là loại rủi ro xảy ra khi NĐT không thể mua, bán CK
tại một thời điểm nhất định. Tình trạng này diễn ra khi CK bị “làm giá” hoặc bị bán
tháo quá mức. Rủi ro thanh khoản thường đi liền với rủi ro thị trường và rủi ro
thông tin.
Rủi ro mang tính kỹ thuật: Là loại rủi ro xảy ra trong quá trình xử lý của các
CTCK đối với việc tiếp nhận, kiểm tra, nhập lệnh, truyền lệnh (transfer) vào hệ
thống giao dịch và báo cáo kết quả giao dịch của NĐT. Những rủi ro này có nguyên
nhân từ sự thiếu cẩn trọng (nguyên nhân khách quan) của các nhân viên hành nghề
kinh doanh chứng khoán tại các CTCK. Tuy nhiên, cũng không loại trừ khả năng
nhân viên của các CTCK hành động thiếu trung thực, trục lợi, gây tổn hại đến
quyền lợi của khách hàng (NĐT).
Rủi ro thanh toán: chu kỳ thanh toán T + n (trong đó, T là ngày thực hiện
giao dịch, n là ngày CK hoặc tiền hạch toán trên tài khoản giao dịch của NĐT). Đối
với những nước có hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động đăng ký, lưu
ký, thanh toán, bù trừ còn hạn chế thì số ngày thanh toán n càng kéo dài (chẳng hạn
Việt Nam). Khi đó, rủi ro có thể đến với NĐT khi CK và tiền của NĐT về tài khoản
giao dịch của họ có độ “trễ” nhất định so với biến động của thị trường. NĐT sẽ phải
đối mặt với tình trạng: khi họ muốn bán CK thì giá CK đã xuống quá thấp hoặc
muốn mua CK thì giá CK đã lên quá cao. Rủi ro này cũng có liên hệ chặt chẽ với
14
rủi ro thị trường. Tuy nhiên, nguồn gốc của nó có nguyên nhân trực tiếp từ chính
15
luật chuyên ngành điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích
của NĐT thông qua các quy định về điều kiện của các chủ thể tham gia thị trường
(tổ chức phát hành, tổ chức trung gian, tổ chức đầu tư kinh doanh CK); về tiêu
chuẩn của các loại CK niêm yết; về tổ chức, quản lý thị trường; về kiểm tra, thanh
tra, xử lý vi phạm pháp luật…và các quy phạm pháp luật chung thuộc các lĩnh vực
pháp luật: pháp luật về doanh nghiệp (gồm các quy định về quản trị doanh nghiệp,
quyền và nghĩa vụ của cổ đông, quy chế đối với các giao dịch mang tính thâu tóm
công ty…), pháp luật về đầu tư (quy định về bảo hộ đầu tư, quyền và nghĩa vụ của
NĐT ); pháp luật về hợp đồng, sở hữu, tài sản (nội dung quyền sở hữu CK, phương
thức chuyển giao quyền sở hữu CK, quyền thừa kế, tặng cho CK…); pháp luật về
giải quyết tranh chấp (giải quyết thông qua cơ chế trọng tài thương mại, tố tụng tư
pháp…). Các quy định pháp lý trên đã tạo thành khuôn khổ pháp lý về bảo vệ quyền
và lợi ích của NĐT trên TTCK. Luật CK Việt Nam mặc dù không có một mục,
chương nào quy định riêng về việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCK
ngoài điều khoản quy định nguyên tắc hoạt động CK và TTCK trong đó đề cập đến
nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT. Mặc dù vậy, các quy định
của pháp luật đã thể hiện rõ mục tiêu bảo vệ NĐT.
1.1.2.1. Yêu cầu của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tƣ
Xuất phát từ những rủi ro và xung đột lợi ích mà NĐT có thể phải gánh chịu
trong quá trình đầu tư, pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCK
cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
Thứ nhất, pháp luật cần xác lập một cơ chế hữu hiệu bảo đảm tính công khai,
minh bạch của TTCK nói chung nhằm hạn chế rủi ro về mặt thông tin cũng như các
rủi ro thị trường có thể xảy ra đối với NĐT CK
Yêu cầu này xuất phát từ tính đặc thù trong hoạt động đầu tư của NĐT. Hoạt
động đầu tư của NĐT trên TTCK chủ yếu dựa vào những nhận định, đánh giá về sự
phát triển, triển vọng của CK trong tương lai. Điều đó có nghĩa hoạt động của NĐT
phải dựa trên nguyên tắc và cơ sở là lòng tin. Thông tin về doanh nghiệp và thị
chuẩn mực kế toán, kiểm toán thường do các hiệp hội, tổ chức hành nghề kế toán,
kiểm toán quy định. Các tổ chức kế toán, kiểm toán của các quốc gia trên thế giới
thường căn cứ vào hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế do Liên đoàn kế
toán quốc tế (IFAC) công bố để ban hành chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc gia.
Chuẩn mực kế toán, kiểm toán tại Việt Nam hiện nay do Bộ tài chính ban hành và
cũng dựa trên những chuẩn mực quốc tế này.
17
Quy định pháp luật về phương tiện và hình thức công bố thông tin. Để đảm
bảo NĐT kịp thời cập nhật được thông tin và đảm bảo chất lượng của thông tin
công bố, pháp luật quy định việc công bố thông tin của các chủ thể có liên quan
phải thực hiện qua nhiều phương thức khác nhau gồm phương thức báo cáo định kỳ
và báo cáo bất thường, đồng thời, hình thức công bố thông tin phải được thực hiện
thông qua hình thức văn bản và dữ liệu điện tử. Các chủ thể có nghĩa vụ công bố
thông tin phải lập trang thông tin điện tử của mình và phải thường xuyên cập nhật
việc công bố thông tin trên trang điện tử đó.
Quy định pháp luật về xử lý hành vi vi phạm chế độ công bố thông tin. Pháp
luật của các nước đều có những quy định xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi
vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin. Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi vi
phạm mà chủ thể vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin có thể bị xử phạt vi phạm
hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bồi thường thiệt hại nếu hành
vi vi phạm gây ra thiệt hại cho NĐT. Các hành vi vi phạm công bố thông tin phổ
biến trên TTCK gồm: công bố thông tin nhưng không thực hiện báo cáo cơ quan
quản lý về thông tin đã công bố; người công bố thông tin không có thẩm quyền
công bố; công bố thông tin không đúng phương tiện do pháp luật quy định; công bố
thông tin không đầy đủ, kịp thời; công bố thông tin sai sự thật.
Thứ hai, pháp luật cần quy định những tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ đối với
các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết nhằm đảm bảo chất lượng của hàng hóa
trên TTCK, hạn chế rủi ro cho các NĐT khi tham gia thị trường
Tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết là những chủ thể cung cấp “hàng hóa”
của NĐT được thực hiện nhanh chóng, chính xác, an toàn và hiệu quả. Các công ty
kiểm toán là những người trực tiếp thẩm định, đánh giá thực trạng, khả năng tài
chính của các tổ chức cung ứng hàng hóa cho thị trường. Do vậy, hoạt động của tổ
chức kiểm toán giúp NĐT đánh giá chính xác năng lực của các tổ chức phát hành,
tổ chức niêm yết trước khi ra quyết định đầu tư. Vì vậy, pháp luật cần có những quy
định chặt chẽ về tiêu chuẩn, điều kiện, thủ tục cấp và thu hồi giấy phép hoạt động
đối với các chủ thể trung gian này đồng thời quy định nguyên tắc, chuẩn mực để
đánh giá chất lượng dịch vụ mà các tổ chức chủ thể này cung cấp trên TTCK. Trong
đó có các điều kiện về năng lực tài chính (vốn pháp định); các điều kiện về cơ sở
vật chất, kỹ thuật để được phép triển khai, cung cấp dịch vụ; điều kiện về nhận lực,
người hành nghề…Có như vậy, pháp luật mới hạn chế được các rủi ro kỹ thuật và
những giao dịch bất lợi cho NĐT do CTCK và người hành nghề kinh doanh CK gây
19
ra; gắn kết trách nhiệm của các tổ chức kiểm toán đối chất lượng của các báo cáo
thẩm định Báo cáo tài chính nhằm đảm bảo báo cáo tài chính là tài liệu phản ánh
chính xác, trung thực tình hình hoạt động, sản xuất kinh doanh của tổ chức phát
hành, tổ chức niêm yết. Qua đó, làm tăng tính chính xác trong các quyết định đầu tư
của NĐT;
Thứ tư, pháp luật cần có quy định về tổ chức, quản lý giao dịch trên TTCK
đảm bảo các giao dịch được diễn ra có tổ chức, chặt chẽ, an toàn, hiệu quả, bảo đảm
tính thanh khoản cho các loại CK
Một trong những nguyên tắc cơ bản trên TTCK tập trung là nguyên tắc trung
gian. Theo đó, tất cả các giao dịch CK niêm yết phải được thực hiện thông qua
SGDCK. SGDCK có chức năng tổ chức và giám sát hoạt động giao dịch CK niêm
yết tại SGDCK. Hiện nay, hệ thống giao dịch tại các SGDCK là hệ thống giao dịch
tự động, kết nối mạng cục bộ trong phạm vi sàn giao dịch và các phòng ban chức
năng của SGDCK. Bên cạnh hệ thống giao dịch còn có hệ thống chuyển lệnh của
các CTCK thành viên. Mọi giao dịch diễn ra tại SGDCK được hệ thống máy tính xử
lý tự động dưới sự quản lý, giám sát của Phòng giao dịch và Phòng giám sát.
hòa giải. Trường hợp các bên không thể thương lượng, hòa giải, tranh chấp có thể
được đưa ra giải quyết tại trọng tài kinh tế hoặc tòa án. Tranh chấp giữa CTCK
thành viên với các SGDCK trong quá trình xử lý lệnh của các CTCK nếu có, chủ
yếu tồn tại dưới các hình thức khiếu nại hành chính của CTCK đối với SGDCK, khả
năng tranh chấp được đưa ra giải quyết bằng các phương thức tranh tụng hay trọng
tài thường rất hạn chế vì hai chủ thể này có mối quan hệ mật thiệt, lâu dài và tùy
thuộc lẫn nhau trong suốt quá trình hoạt động.
Thứ sáu, pháp luật cần quy định cơ chế bảo đảm ngăn chặn và xử lý kịp thời,
nghiêm minh đối với những hành vi vi phạm pháp luật, làm phương hại đến quyền
và lợi ích của các NĐT khi tham gia thị trường.
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT vừa là nguyên tắc cơ bản vừa là
mục tiêu hoạt động của TTCK. Vai trò của NĐT là không thể phủ nhận đối với
TTCK, do vậy, pháp luật cần có những quy định để vừa ghi nhận, đảm bảo quyền
lợi của NĐT như quyền được tham gia thị trường, quyền được cung cấp thông tin
và các quyền khác liên quan đến quyền sở hữu CK vừa tạo ra cơ chế để ngăn chặn,
xử lý, răn đe đối với những hành vi làm phương hại đến quyền lợi hợp pháp, chính
đáng của NĐT. Các cơ quan quản lý Nhà nước về CK và TTCK cần vận dụng tất cả
21
các biện pháp pháp lý để bảo vệ NĐT, đó có thể là biện pháp xử phạt vi phạm hành
chính, thậm chí là biện pháp xử lý hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội gây
thiệt hại nghiêm trọng, có phạm vi tác động lớn đến NĐT và thị trường.
Trên cơ sở các yêu cầu trên, pháp luật cần quy định rõ nội dung pháp luật cụ
thể để bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT trên TTCK.
1.1.2.2. Nội dung pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tƣ
Thứ nhất, pháp luật ghi nhận các quyền và lợi ích của NĐT
Khi tham gia đầu tư trên TTCK, với vai trò, tư cách là một chủ thể chính
tham gia thị trường, đồng thời, với tư cách là người sở hữu CK, NĐT có các quyền
cơ bản sau đây được pháp luật ghi nhận và bảo vệ:
Quyền tham gia thị trường: Đây là quyền cơ bản của NĐT khi tham gia
các tổ chức, cá nhân như tổ chức phát hành, các CTCK, các tổ chức tài chính và các
cơ quan quản lý thị trường. NĐT căn cứ vào thông tin có được để phân tích, xử lý
và đưa ra quyết định đầu tư theo hướng có lợi nhất cho mình và giảm thiểu rủi ro.
Vì vậy, NĐT có quyền được biết tất cả các thông tin liên quan đến CK mà họ đã,
đang và sẽ đầu tư. Để đảm bảo quyền được cung cấp thông tin của NĐT, đòi hỏi các
chủ thể có nghĩa vụ công bố thông tin khi thực hiện công bố thông tin phải đảm bảo
tính chính xác, nhanh chóng, kịp thời và thuận tiện cho NĐT có thể dễ dàng tiếp
cận. Việc ghi nhận quyền mà các NĐT được cung cấp thông tin cũng góp phần đảm
bảo thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch, công bằng trong hoạt động CK và
TTCK, bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT.
Các quyền lợi phát sinh trực tiếp từ quyền sở hữu CK: giá trị của CK không
nằm trong bản thân CK với tính cách là một thực thể có giá trị mà giá trị của nó
được nhìn nhận ở “giá trị công ty” mà nó ghi nhận (đối với trường hợp CK là cổ
phiếu) hoặc giá trị khoản vay (đối với trường hợp CK là trái phiếu). Tuy nhiên,
NĐT vẫn có đầy đủ các quyền và lợi ích của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử
dụng và định đoạt đối với tài sản là CK. Các nội dung này sẽ được thực hiện theo
quy định của Bộ luật dân sự và Luật CK. Ngoài ra, họ còn có các quyền của cổ
đông (nếu họ sở hữu cổ phần), quyền của trái chủ (nếu họ sở hữu trái phiếu) đối với
tổ chức phát hành ra CK đó. Quyền và nghĩa vụ của NĐT với tư cách là cổ đông và
trái chủ sẽ được điều chỉnh bởi các quy định của Luật doanh nghiệp. Một đặc điểm
đặc trưng trong nội dung quyền sở hữu của NĐT đối với CK là quyền định đoạt. Về
nguyên tắc, NĐT là người sở hữu CK nên họ có toàn quyền định đoạt (quyết định
23
việc mua bán CK). Tuy nhiên, khi mua bán các loại CK niêm yết, NĐT cần phải
tuân thủ các quy trình, phương thức giao dịch do pháp luật quy định. Ngoài ra,
quyền tự do định đoạt của họ còn bị hạn chế bởi các quy định liên quan đến giới hạn
tỷ lệ sở hữu CK của NĐT tại một tổ chức niêm yết. Các hạn chế này áp dụng cho
CK của các tổ chức kinh doanh thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện đặc thù
như ngân hàng, bảo hiểm…