ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
KHOA LUậT
Đào Thịnh Vinh TRáCH NHIệM PHáP Lý CủA ĐốI TƯợNG NộP THUế
ĐốI VớI CáC HàNH VI VI PHạM PHáP LUậT HảI QUAN Về
THUế XUấT KHẩU, THUế NHậP KHẩU Luận văn thạc sĩ luật học Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Nguyn Anh Sn Hà Nội - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
01
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ XUẤT KHẨU,
THUẾ NHẬP KHẨU, TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA ĐỐI TƯỢNG
NỘP THUẾ VỚI HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT HẢI QUAN VỀ
THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU.
06
1.1.
Quản lý nhà nước về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
06
1.1.1
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
06
1.1.2
Hoạt động quản lý nhà nước về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
11
1.2.
Đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và trách nhiệm
pháp lý do vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan về thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu.
14
Thời kỳ xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải
phóng miền Nam thống nhất đất nước (1954 - 1975)
31
2.1.3
Thời kỳ thống nhất đất nước - trước cải cách hệ thống chính sách
thuế (1975 - 1989)
34
2.1.4
Thời kỳ thành lập ngành thuế nhà nước thống nhất (từ năm 1990
đến nay)
36
2.2.
Thực trạng việc thực hiện trách nhiệm pháp lý của đối tượng nộp
thuế do vi phạm pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
39
2.2.1
Hiệu quả thực hiện trách nhiệm pháp lý của đối tượng nộp thuế do
vi phạm pháp luật HQ về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
39
2.2.2
Thực tiễn thi hành, áp dụng trách nhiệm pháp lý của đối tượng nộp
thuế khi vi phạm pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
44
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TRÁCH NHIỆM
PHÁP LÝ CỦA ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ DO VI PHẠM PHÁP LUẬT
HẢI QUAN VỀ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU.
58
3.1.
78
3.6
Tuyên tuyền, phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan đến vấn đề
trách nhiệm pháp lý của đối tượng nộp thuế
80
KẾT LUẬN
85
DANH MỤC TÀI LỆU THAM KHẢO
87
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 1. BTC Bộ Tài chính
2. HQ Hải quan
3. TNPL Trách nhiệm pháp lý
4. TXK Thuế xuất khẩu
5. TNK Thuế nhập khẩu
6. VPPL Vi phạm pháp luật
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế có vị trí, vai trò rất quan
trọng trong việc đảm bảo thực hiện nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Vì
vậy, để tăng cường nguồn thu, nhà nước cần có những biện pháp đẩy mạnh
việc quản lý nguồn thu từ TXK, TNK tránh thất thu cho ngân sách.
Theo Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Trung ương
Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách quản lý nhà nước về hải quan
được định hướng phát triển theo xu hướng hội nhập quốc tế nhưng phải giữ
vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thời gian qua, Việt Nam đã tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế, thương
mại quốc tế như: Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp
tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO)… quá trình tham gia vào các tổ chức này, đã từng bước tháo gỡ
những cản trở đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ chế
kinh tế mới dựa trên những nguyên tắc của thị trường có định hướng xã hội
chủ nghĩa. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, giảm
thiểu và dần xóa bỏ các hàng rào thuế quan, phi thuế quan và các rào cản khác
để việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa Việt Nam và các nước trên thế giới
hội là cần hoàn thiện pháp luật HQ về TNPL liên quan đến TXK, TNK. Tác
giả mong muốn nghiên cứu, phân tích và làm rõ những quy định của pháp luật
Việt Nam nói chung và pháp luật trong lĩnh vực HQ nói riêng về TNPL của
đối tượng nộp thuế do vi phạm về TXK, TNK.
- Bản thân hiện đang công tác tại Vụ Pháp chế thuộc Tổng cục Hải
quan, là đơn vị tham mưu cho ngành Hải quan về xây dựng, thực hiện chính
sách pháp luật về TXK, TNK nên có thể tiếp cận nhiều vấn đề liên quan đến
TXK, TNK, tác giả có thể tham khảo được kinh nghiệm pháp luật nước ngoài
3
về vấn đề TNPL khi vi phạm về TXK, TNK từ đó có sự so sánh với pháp luật
trong nước, nhằm chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng
TNPL của đối tượng nộp thuế do vi phạm pháp luật về TXK, TNK tại Việt
Nam và đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp
luật này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài và ý nghĩa của việc nghiên cứu
Hiện nay, tại Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về pháp luật
HQ và xử phạt vi phạm hành chính, có những bài viết theo quan niệm khoa
học pháp lý có đề cập đến vấn đề xử phạt vi phạm hành chính nhưng cũng chỉ
ở mức độ khái lược. Ví dụ: “Tìm hiểu về xử phạt vi phạm hành chính” của tác
giả Phạm Dũng - Hoàng Sao hay luận án “Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về
hải quan ở nước ta hiện nay” của tiến sĩ Vũ Ngọc Anh, luận án “Tiếp tục cải
cách, hiện đại hóa hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc
tế” hay một số bài nghiên cứu trên Tạp chí Luật học, cũng như một số chuyên
đề giảng dạy môn xử lý vi phạm pháp luật, đấu tranh chống tội phạm trong
lĩnh vực HQ của Tổng cục Hải quan có đề cập đến việc xử lý do vi phạm
pháp luật HQ về TXK, TNK nhưng ở mức độ sơ lược, chưa tập trung vào
TNPL của đối tượng nộp thuế do vi phạm pháp luật HQ về TXK, TNK.
Chính vì vậy, luận văn này là công trình nghiên cứu đầu tiên, tương đối
Luận văn được nghiên cứu, hoàn thiện trên cơ sở sử dụng phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật trong việc xây dựng và hoàn
thiện chế định về hành vi vi phạm pháp luật hải quan về TXK, TNK.
Việc nghiên cứu được sử dụng kết hợp từ lý luận đến thực tiễn, giữa
các phương pháp như: phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, thống kê,
đối chiếu và dự đoán để giải quyết những vấn đề đã được xác định trong luận
văn.
5
5. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,
trách nhiệm pháp lý của đối tượng nộp thuế với hành vi vi phạm pháp luật hải
quan về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
Chương 2: Thực trạng vấn đề trách nhiệm pháp lý của đối tượng nộp
thuế do vi phạm pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam;
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện trách nhiệm pháp lý của đối
tượng nộp thuế do vi phạm pháp luật hải quan về thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ XUẤT KHẨU,
THUẾ NHẬP KHẨU, TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
nhà nước, đó là thuế má”. V.I. Lê nin cho rằng: “Thuế là cái nhà nước thu của
dân mà không bù lại”.
Theo Đại từ điển Kinh tế thị trường: “Thuế là một hình thức phân phối
thu nhập tài chính của nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào
quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một
cách cưỡng chế bắt buộc, không hoàn lại”.
Theo Ngôn ngữ tiếng Việt thì: “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà
người dân hoặc các tổ chức kinh doanh tùy theo tài sản, thu nhập, nghề
nghiệp v.v… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định” [39, tr 501].
Như vậy, tùy theo góc độ đề cập, quan niệm về thuế còn nhiều ý kiến
khác nhau. Dưới góc nhìn mới về thuế, việc tổ chức, cá nhân nộp thuế cho
nhà nước không phải chỉ để thực hiện nghĩa vụ được quy định trong hiến
pháp, nộp thuế còn là quyền lợi của mọi người dân trong xã hội. Xuất phát từ
cách tiếp cận như trên có thể hiểu: thuế là một khoản tiền, hoặc hiện vật mà
các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp theo luật định
cho nhà nước theo những mức độ và thời hạn cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu
chi của nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, phân phối lại một phần thu nhập
và của cải của xã hội, kiểm soát quá trình phân phối và mức chi tiêu trong nền
kinh tế, thay đổi tập quán tiêu dùng của xã hội và không mang tính hoàn trả
trực tiếp cho người nộp thuế. Một phần thuế là các tổ chức và cá nhân đóng
góp cho nhà nước được trả về với người dân một cách gián tiếp dưới các hình
thức như: trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội và các quỹ tiêu dùng khác.
Theo Luật thuế xuất nhập khẩu hiện hành của Việt Nam thì TXK, TNK
với hàng hóa mậu dịch mang tính chất gián thu, còn đối với hàng hóa khác thì
tùy từng trường hợp cụ thể có tính chất trực thu hoặc có tính chất gián thu.
8
TXK là một công cụ mà các nước đang phát triển thường sử dụng để
đánh vào một số mặt hàng nhằm tăng lợi ích quốc gia. Trái lại, ở nhiều nước
TXK, TNK là một loại thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá cả
hàng hóa; Phạm vi áp dụng của TXK, TNK là với hàng hóa được phép xuất
nhập khẩu, bao gồm cả hàng hóa xuất khẩu từ thị trường vào khu chế xuất và
xuất khẩu ra nước ngoài hoặc nhập khẩu từ khu chế xuất và từ nước ngoài vào
thị trường trong nước; TXK, TNK có những đặc điểm khác biệt so với các
loại thuế khác ở chỗ “nó” không áp dụng đối với hàng hóa được sản xuất và
tiêu thụ trong nước mà chỉ đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu và luôn gắn với
hoạt động xuất nhập khẩu để quản lý hoạt động xuất nhập khẩu và do vậy
thuế xuất nhập khẩu là một trong những công cụ thuộc chính sách kinh tế
thương mại quốc tế của một quốc gia.
* Vai trò, tính chất của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Mỗi một sắc thuế được ban hành đều có vị trí vai trò nhất định trong
đời sống kinh tế, xã hội. Việc ban hành TXK, TNK tại Việt Nam trong từng
thời kỳ có những nội dung nhất định thể hiện rõ vai trò với nền kinh tế. Tại
thời điểm hiện nay, TXK, TNK được xác định với tính chất và vai trò cụ thể
như sau:
- Là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước, điều tiết nền kinh
tế. Chúng ta biết, trong tình hình hiện nay, nguồn thu từ nước ngoài đã giảm
nhiều, kinh tế đối ngoại chịu sức ép của “mua bán sòng phẳng”, “có vay, có
trả”, TXK, TNK là công cụ quan trọng giảm bội chi ngân sách, ổn định kinh
tế xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho phát triển kinh tế lâu dài.
- Là loại thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa, làm tăng giá hàng
hóa xuất nhập khẩu. Do đó, có tác dụng điều tiết xuất khẩu, nhập khẩu, hướng
tới tiêu dùng nội địa.
10
- Có tác dụng bảo hộ sản xuất trong nước. Việc đánh thuế cao hàng
nhập khẩu giúp hàng hóa trong nước có thể cạnh tranh được với hàng hóa
nhập khẩu. Giúp các doanh nghiệp còn non trẻ có thời gian trưởng thành, lớn
rộng đến tất cả các nước thành viên ASEAN, trong đó sẽ có 54.457 loại thuế,
chiếm 99,11% tổng số các loại thuế quan buôn bán nội khối được cắt giảm.
1.1.2 Hoạt động quản lý nhà nước về thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu
Để bảo vệ lợi ích, nhà nước đã tự quy định những biện pháp có lợi nhất
cho mình trong việc kiểm soát trao đổi hàng hóa để bảo vệ sản xuất, đồng thời
thu được nhiều lợi ích nhất trong quan hệ với các cộng đồng, nhà nước khác,
đó chính là bản chất của hoạt động HQ. Có thể nói, không có trao đổi hàng
hóa giữa các cộng đồng dân cư, và ngày nay là giữa các quốc gia, thì cũng
không có hoạt động HQ. Chính sách thuế quan của các nhà nước, lãnh thổ
được đặt ra rất sớm nhằm phục vụ các yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia, cộng
đồng và cùng với nó là sự xuất hiện của hiện tượng TNPL do vi phạm các
chính sách này.
Hải quan là một công cụ để thực hiện việc bảo vệ an ninh, chính trị, trật
tự an toàn xã hội của mỗi nước. Vai trò này được thể hiện thông qua các hoạt
động phát hiện, xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực HQ,
đảm bảo các nguyên tắc quản lý nhà nước về HQ được tôn trọng, bảo vệ an
ninh tư tưởng, văn hóa, kịp thời ngăn chặn những hành động đe dọa lợi ích,
chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích của người kinh doanh [43, tr 14].
Hiện nay, Hải quan của các nước, đã thực hiện tốt các chức năng hiện
đại như kiểm tra việc thực hiện các quy định của quản lý nhà nước đối với
hàng hóa xuất, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh
và quá cảnh như các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, các luật lệ về tài
chính, hạn ngạch xuất nhập khẩu; bảo vệ an ninh nội địa, chống khủng bố,
12
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bên cạnh đó các chức năng truyền thống,
cơ bản như kiểm tra hàng hóa, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại
và nhất là chức năng thu thuế vẫn được duy trì và triển khai thực hiện một
từ hợp lệ để tính thuế; tính đúng số thuế mà tổ chức, cá nhân phải nộp thuế,
đảm bảo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện việc nộp thuế.
- Cung cấp và hướng dẫn đối tượng nộp thuế khai báo mẫu biểu, tờ
khai, căn cứ tính thuế.
- Kiểm tra việc kê khai, tính thuế, nộp thuế của đối tượng nộp thuế theo
đúng quy định của pháp luật. Thực hiện tham vấn bằng cách đối thoại trực
tiếp, tạo điều kiện để đối tượng nộp thuế giải trình và cung cấp các tài liệu,
chứng từ có liên quan để làm rõ việc kê khai, tính thuế, nộp thuế và các khoản
thu khác đúng quy định.
- Phối hợp với Cục Thuế cấp tỉnh và các cơ quan nhà nước có liên quan
trong việc thu TXK, TNK nhằm đảm bảo cho việc thu TXK, TNK đảm bảo
chỉ tiêu, kế hoạch được giao. Góp phần đấu tranh phòng chống buôn lậu và
gian lận thương mại.
- Tổ chức thu thập, cập nhật các thông tin, dữ liệu về đối tượng nộp
thuế, căn cứ để tính thuế đầy đủ, kịp thời, chính xác theo một hệ thống nhất
định, được lưu giữ tại Trung tâm dữ liệu của cơ quan HQ và được cung cấp
cho các đơn vị có liên quan khai thác và sử dụng.
- Yêu cầu đối tượng nộp thuế cung cấp đầy đủ, kịp thời hồ sơ, tài liệu,
chứng từ, sổ sách kế toán để kiểm tra việc kê khai, tính thuế, nộp thuế khi có
cơ sở nghi ngờ về căn cứ tính thuế, cách tính số tiền thuế phải nộp, số tiền
thuế được miễn, xét miễn, giảm, hoàn, không thu theo quy định của pháp luật.
- Ấn định TXK, TNK trong các trường hợp: đối tượng nộp thuế không
tự tính được số tiền thuế phải nộp; Đối tượng nộp thuế phải dựa vào các tài
14
liệu không hợp pháp để kê khai và tính thuế; không kê khai hoặc kê khai
không đầy đủ, chính xác căn cứ tính thuế theo quy định của pháp luật; Đối
tượng nộp thuế từ chối, trì hoãn hoặc kéo dài quá thời hạn quy định việc cung
cấp các tài liệu liên quan cho cơ quan HQ để xác định chính xác số tiền thuế
1.2.1 Đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Để hiểu được thế nào là đối tượng nộp thuế thì chúng ta cần hiểu khái
niệm và nội dung của các vấn đề liên quan đến đối tượng chịu thuế.
Theo đó, hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên
giới Việt Nam, kể cả hàng hóa trong nước đưa vào trong khu chế xuất và từ
khu chế xuất ra thị trường trong nước đều là đối tượng chịu TXK, TNK. Đối
tượng chịu thuế là những hành vi, hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh
của một sắc thuế. Đối tượng chịu thuế chính là mục đích của sắc thuế nhằm
tác động lên để điều tiết một phần thu nhập từ các hoạt động này vào Ngân
sách Nhà nước.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện
hành, đối tượng chịu thuế gồm có:
“1. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam
2. Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan
và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước”.
Theo nội dung khoản 1 Điều 2 nêu trên thì đối tượng chịu TXK, TNK
bao gồm: hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu đường bộ, đường
sông, cảng biển, cảng hàng không, đường sắt liên vận quốc tế, bưu điện quốc
tế và địa điểm làm thủ tục HQ khác được thành lập theo quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
16
Khu phi thuế quan theo nội dung khoản 2 Điều 2 nêu trên bao gồm: khu
chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan,
khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại - công nghiệp và các khu
vực kinh tế khác được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ,
có quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa giữa khu này với bên ngoài là quan hệ
xuất khẩu, nhập khẩu.
Để động viên hợp lý TXK, TNK vào ngân sách nhà nước và phù hợp
97/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ và Nghị định số 18/2009/NĐ-
CP ngày 18/2/2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 97/2007/NĐ-CP quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực hải quan thì vi phạm hành chính về hải quan là loại vi phạm pháp luật,
xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về hải quan. Mục đích của việc xử lý
vi phạm hành chính về hải quan nhằm ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi
vi phạm hành chính, bảo đảm kỷ cương, giữ vững trật tự pháp luật và đấu
tranh có hiệu quả với hành vi vi phạm hành chính.
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đã quy định cụ thể các nội dung
liên quan đến xử lý vi phạm hành chính như trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong đó, cán bộ, công chức HQ
có thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực quản lý của mình.
Theo quy định của Pháp lệnh và Nghị định quy định về xử phạt hành
chính trong lĩnh vực HQ, người có thẩm quyền trong cơ quan HQ có thẩm
quyền phạt tiền, áp dụng các hình thức phạt bổ sung và các biện pháp khắc
phục hậu quả nếu tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định tại Nghị định
xử phạt này. Bên cạnh đó, người có thẩm quyền trong cơ quan HQ có thể áp
dụng các biện pháp ngăn chặn để đảm bảo việc xử phạt, áp dụng các biện
pháp cưỡng chế buộc tổ chức, cá nhân vi phạm thi hành quyết định xử phạt.
18
Tuy nhiên, quá trình thực hiện pháp luật về hải quan nói chung, pháp
luật về TXK, TNK trong lĩnh vực HQ nói riêng luôn có những hành vi cố ý
hay vô ý vi phạm các quy định của Nhà nước đối với các chế độ quản lý, các
quy trình thủ tục hay việc kiểm tra, giám sát của cơ quan HQ. Các vi phạm đó
xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về HQ và diễn ra phổ biến ở hầu hết
các khâu nghiệp vụ của quá trình kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan. Các
hành vi vi phạm pháp luật này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, đều bị xử
phạt, có hành vi bị xử lý vi phạm hình sự như các hành vi buôn lậu, hay vận