Trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi
phạm pháp luật về an toàn thực phẩm
Nguyễn Ngân Giang
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Như Phát
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Tổng thuật một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn pháp lý về an toàn thực phẩm.
Rà soát các hành vi vi phạm về điều kiện an toàn thực phẩm. Đánh giá hoạt động của các
cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị
để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và hoàn
thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến an toàn thực phẩm. Xác định rõ
trách nhiệm pháp lý của các đối tượng trong xã hội đối với các hành vi vi phạm pháp luật
về an toàn thực phẩm. Nâng cao kiến thức về quản lý an toàn thực phẩm.
Keywords: Pháp luật Việt Nam; Luật kinh tế; An toàn thực phẩm; Hành vi vi phạm pháp
luật Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, tình trạng bùng nổ dân số ngày càng nhanh thì việc an toàn vệ sinh trong ăn
uống và sinh hoạt đặt ra những vấn đề bức thiết, tất cả mọi nhu cầu của người dân đều tăng cao
như là ăn, mặc, ở, sinh hoạt, vui chơi, giải trí, và nhiều nhu cầu khác, đều cần phải được đáp
ứng một cách đầy đủ. Nhưng trong các nhu cầu đó vấn đề ăn uống là một vấn đề được đặt lên
hàng đầu trong các vấn đề cần thiết, cấp bách nói trên. Hiện nay tại nước ta vấn đề an toàn thực
viên khóa 32 khoa Luật trường Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu đề tài về “Quản lý nhà nước về
vệ sinh an toàn thực phẩm - Lấy thực tiễn tỉnh Kiên Giang”. Nhưng tác giả chủ yếu chỉ đi sâu
vào vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm chứ không
chuyên sâu vào quản lý nhà nước nên vẫn còn nhiều bất cập trong công tác quản lý, chính vì lý
do đó mà tác giả muốn nghiên cứu bổ sung để hoàn thiện những thiếu xót về mặt quản lý của nhà
nước, nhằm đóng góp vào phương thức quản lý của cả nước nói chung.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Thực hiện Đề tài này, Tác giả đặt ra những mục đích nghiên cứu sau đây:
- Tổng thuật một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn pháp lý về an toàn thực phẩm.
- Rà soát các hành vi vi phạm về điều kiện an toàn thực phẩm.
- Đánh giá hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà
nước về an toàn thực phẩm và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến an
toàn thực phẩm.
- Xác định rõ trách nhiệm pháp lý của các đối tượng trong xã hội đối với các hành vi vi
phạm pháp luật về an toàn thực phẩm.
- Nâng cao kiến thức về quản lý an toàn thực phẩm.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên
cứu khoa học khác nhau, trong đó tác giả đặc biệt coi trọng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy
vật biện chứng. Đồng thời sử dụng phổ biến các phân tích luật viết, phương pháp so sánh đối
chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp biện chứng, kết hợp thực tiễn, nhằm để phân tích,
lý giải, chứng minh các vấn đề được nêu ra, trong đó có tổng hợp các bài viết, bài báo cáo khoa
học, các công trình nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu, các cơ sở nghiên cứu và sử
dụng một số tài liệu có liên quan để thực hiện bài viết.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài các phần danh mục từ viết tắt, mục lục, tài liệu tham khảo, thì bố cục nội dung
Ngộ độc thực phẩm là tình trạng bệnh lý, xảy ra đột ngột, do hấp thụ thực phẩm bị ô
nhiễm hoặc có chứa chất độc”.
Sự cố về an toàn thực phẩm
“Sự cố về an toàn thực phẩm là tình huống ảnh hưởng tới sức khỏe, tính mạng con người
xảy ra do ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm hoặc các tình huống khác phát sinh từ
thực phẩm”.[10]
Điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm
“Điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm là những quy chuẩn kỹ thuật và những quy định
khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh
doanh thực phẩm, do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích bảo
đảm thực phẩm an toàn đối với sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng thư
̣
c phâ
̉
m.”
1.2.3. Một số khái niệm mới được quy định trong Luật an toàn thực phẩm năm 2010
Thực phẩm chức năng
Thực phẩm chức năng là thực phẩm dùng để hỗ trợ một hoặc nhiều chức năng của cơ thể
người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng và giảm nguy cơ mắc bệnh, bao
gồm: thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học.
Hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm
Hiện tại chưa có một văn bản cụ thể nào quy định về các hành vi vi phạm pháp luật về an
toàn thực phẩm mà chỉ được quy định chung trong các văn bản như Bộ luật hình sự (Điều 157,
158, 168, 187, 188 và Điều 244 ); Nghị định số 45 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
y tế (từ Điều 15 đến Điều 19);
Hiện nay, Bộ Y tế cũng đang dự thảo một Nghị định riêng về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực an toàn thực phẩm và đang trình Chính phủ xem xét, dự kiến ban hành vào tháng
8/2012. Theo đó, các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm được hiểu là những hành
vi do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý các quy định của pháp luật về quản lý
các hành vi vi phạm thì người tiêu dùng cũng là một nhân tố hết sức quan trọng trong việc đảm
bảo ATTP. Vì người tiêu dùng là người trực tiếp sử dụng thực phẩm, nếu người tiêu dùng nhận
thức được vai trò của mình là đảm bảo tốt vấn đề ATTP không để xảy ra tình trạng NĐTP thì sẽ
góp phần giúp nhà nước quản lý tốt vấn đề này.
1.4.3. Trách nhiệm của người tiêu dùng thực phẩm
Người tiêu dùng là người có trách nhiệm và thực hiện những phán quyết cuối cùng về
chất lượng sản phẩm. Trên thị trường, nơi có sự cạnh tranh buôn bán lành mạnh thì người tiêu
dùng sẽ là người quyết định xem sản phẩm có là thứ họ muốn hoặc cần không và giá của sản
phẩm có chấp nhận được không. Ở vào vị trí cuối cùng của dịch vụ lưu thông, phân phối, bản
thân người tiêu dùng không có khả năng thực hiện được vấn đề kiểm tra chất lượng thực phẩm.
1.4.4. Trách nhiệm của nhà sản xuất chế biến thực phẩm
Điều quan trọng là sản phẩm xuất xưởng phải luôn đáp ứng được yêu cầu cao về tiêu
chuẩn chất lượng và đủ nhu cầu cho người tiêu dùng. Có rất nhiều yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới
sự thể hiện chất lượng sản phẩm của người sản xuất và cũng có nhiều biện pháp kiểm tra khách
quan cần được sử dụng, để cung cấp các số liệu cần thiết nhằm hỗ trợ những yêu cầu đánh giá
xem xét chủ quan về chất lượng trong quá trình chế biến sản xuất.
1.4.5. Trách nhiệm của người kinh doanh
Người kinh doanh cung cấp nguyên liệu cho sản xuất, thực phẩm có thể là nông dân hay
nhà kinh doanh thương mại hoặc nhà sản xuất. Một số nhà sản xuất còn cung cấp các loại phụ
gia thực phẩm như hương liệu, phẩm màu, chất nhũ hóa, chất ổn định và các acid thực
phẩm…Việc xác định chất lượng của các chất phụ gia rất cần được kiểm tra một cách khách
quan về độ tinh khiết, ảnh hưởng tác động độc hại và giá cả…Người nông dân cung cấp các loại
thịt, rau, quả… làm nguyên liệu cho sản xuất thực phẩm. Như đã trình bày ở trên, việc kiểm tra
chất lượng nguyên liệu thường theo ý định chủ quan.
Người kinh doanh thương mại dịch vụ lưu thông thực phẩm cũng rất cần có sự hiểu biết
đầy đủ về các thực phẩm biến chất, hư hỏng, dễ gây độc hại để kiểm tra và cung cấp nguyên liệu
tốt nhất cho nhà sản xuất
1.5. Một số hành vi bị cấm và sẽ bị cấm về an toàn thực phẩm
vật (HCBVTV), kháng sinh và hormone đang là mối lo ngại của toàn xã hội, ảnh hưởng tới phát
triển kinh tế, thương mại và an sinh xã hội. Nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) tìm thấy
trong các loại rau quả như Pyrethroid, Fipronil, Dithiocarbamate, Carbendazim, Endosulfan,
Methamidophos. Dư lượng thuốc BVTV trong một số loại rau có xu hướng tăng.
Vấn đề kiểm soát thực phẩm qua biên giới
Thực phẩm qua biên giới chưa kiểm soát được, thực phẩm nhập lậu còn khá phổ biến như
rau quả, gia cầm, trứng, thủy sản, thịt và phủ tạng gia súc, thuốc lá, rượu Đặc biệt các loại hóa
chất bảo vệ thực vật (HCBVTV), thuốc tăng trọng, thuốc diệt chuột, các phụ gia cấm còn được
nhập lậu khá phổ biến. Các cơ quan kiểm tra tại cửa khẩu chưa được thống nhất về tổ chức; thủ
tục, nội dung kiểm tra, còn chồng chéo và còn bỏ trống nhiều mặt hàng thực phẩm không được
kiểm tra.
2.1.2. Nguyên nhân gây mất an toàn thực phẩm
Thực phẩm nhiễm vi sinh độc hại là một nguyên nhân chính yếu gây nhiều trường hợp
ngộ độc thực phẩm tập thể.
Hoá chất, phụ gia dùng trong nông thuỷ sản, thực phẩm có thể ảnh hưởng xấu đến sức
khoẻ người tiêu dùng
An toàn thực phẩm và nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật.
Việc kiểm soát an toàn thực phẩm đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là một nhu cầu bức
thiết, không thể không triển khai. Để triển khai được hoạt động này có hiệu quả đòi hỏi phải có
một hệ thống pháp luật đầy đủ và phải đáp ứng được các yêu cầu:
(1) Yêu cầu bảo đảm sức khỏe nhân dân và phát triển giống nòi:
(2) Phù hợp với xu thế phát triển của thế giới và khu vực:
(3) Đáp ứng yêu cầu hội nhập và xuất khẩu:
(4) Đảm bảo tính bao phủ toàn bộ chuỗi thực phẩm “từ trang trại đến bàn ăn
(5) Đảm bảo kiểm soát bền vững các yếu tố nguy cơ vệ sinh an toàn thực phẩm.
2.2. Pháp luật an toàn thực phẩm tại Việt Nam
2.2.1. Một số văn bản pháp luật về an toàn thực phẩm
Năm 2006, ban hành Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11 ngày
29/6/2006 và Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 1/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi
tiễn công tác xét xử vẫn tồn tại một số bất cập như căn cứ để chuyển các vi phạm pháp luật sang
xử lý hình sự; căn cứ xác định mức thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe của người tiêu dùng để
khởi tố các vụ vi phạm pháp luật hình sự còn chưa được quy định cụ thể nên một số vụ vi phạm
không đủ căn cứ để chuyển sang xử lý hình sự.
2.2.3.3. Những tồn tại trong kiểm tra, thanh tra, xử lí vi phạm pháp luật về ATTP
Việc xử lý các vi phạm còn chưa kiên quyết, nhất là ở ở tuyến xã hầu hết không xử
phạt mà chủ yếu chỉ là nhắc nhở (số cơ sở vi phạm không bị xử lý trong tháng hành động năm
2012 chiếm 71,39% số cơ sở vi phạm).
Nhận thức của một số người dân thực hiện các quy định về ATTP còn hạn chế, nhất là
các đối tượng bán hàng rong.
Nhận thức, thực hành ATTP của doanh nghiệp, người tiêu dùng còn thấp, còn tồn tại
nhiều phong tục, tập quán sinh hoạt, canh tác lạc hậu nguy cơ ô nhiễm thực phẩm và bệnh truyền
qua thực phẩm.
2.3. Đánh giá về công tác tổ chức thực hiện pháp luật về ATTP
2.3.1. Kết quả đạt được
Công tác quản lý và bảo đảm ATTP có tiến bộ rõ rệt. Điều kiện ATTP tại các cơ sở sản
xuất kinh doanh thực phẩm bước đầu được cải thiện hơn. ATTP của thực phẩm chế biến công
nghiệp được kiểm soát tốt. Ô nhiễm vi sinh vật trong một số sản phẩm thực phẩm tươi sống như
rau, thịt, thủy sản có chiều hướng giảm; số người bị ngộ độc thực phẩm trong một năm có xu
hướng giảm dần; tỷ lệ được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP của bếp ăn tập thể, cơ sở
kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố có tiến bộ.
2.3.2. Tồn tại, hạn chế
Tổ chức bộ máy cơ quan chuyên ngành quản lý ATTP còn chưa hoàn thiện. Lực lượng
cán bộ quản lý, thanh tra, kiểm tra ATTP còn thiếu đáng kể, lại phân tán theo nhiều nhiệm vụ
quản lý khác nhau như thanh tra chuyên ngành về ATTP, thanh tra việc thực hiện pháp luật về
bảo vệ và kiểm dịch thực vật, về thú y ; việc xử lý vi phạm chưa kiên quyết.
Phân công nhiệm vụ quản lý giữa các bộ càn chưa rõ ràng; công tác phối hợp giữa các cơ
3. 1. 3. Nhóm giải pháp về nguồn lực
Bố trí đủ nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn phục vụ công tác quản lý nhà
nước về ATTP.
3.2. Kiến nghị
3.2.1. Đối với Quốc hội
Tăng cường công tác giám sát việc thực hiện các văn bản pháp luật về ATTP và xử lý các
kiến nghị giám sát.
Chỉ đạo các cơ quan rà soát các văn bản QPPL có liên quan tới quản lý ATTP còn chồng
chéo, mâu thuẫn, không còn phù hợp hoặc còn thiếu để quyết định việc sửa đổi, bổ sung theo
thẩm quyền hoặc trình Quốc hội quyết định.
3.2.2. Đối với Chính phủ
Phân công rõ trách nhiệm và có cơ chế phối hợp giữa các Bộ có liên quan ở những khâu
có sự đan xen giữa các công đoạn để bảo đảm quản lý ATTP theo chuỗi thực phẩm. Đối với các
loại thực phẩm mà sự phân biệt giữa các công đoạn của chuỗi thực phẩm không rõ ràng (như rau
quả tươi, sữa, thịt chó ) thì cần quy định phân công cụ thể các bộ quản lý đối với từng loại thực
phẩm.
Phân cấp mạnh cho địa phương đồng thời với việc đầu tư nguồn lực để bảo đảm hiệu quả
quản lý trong một số hoạt động, nhất là phân cấp trong việc cấp giấy chứng nhận công bố tiêu
chuẩn sản phẩm, giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP, kiểm nghiệm, thử nghiệm,
3.3.3. Đối với các cơ quan tư pháp
Tăng cường năng lực điều tra, khởi tố các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
ATTP; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về ATTP.
3.3.4. Đối với các Bộ có liên quan đến quản lý ATTP
Rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản theo thẩm quyền trong lĩnh vực được phân
công quản lý; ban hành các quy chuẩn kỹ thuật về ATTP thuộc phạm vi quản lý.
References
1. Bộ Y tế (2009), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực
phẩm (giai đoạn 2004-2009).
2. Bộ Y tế (2012), Tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia Vệ sinh an toàn thực phẩm năm
2011 và triển khai kế hoạch năm 2012.
3. Bộ Y tế (2012), Báo cáo tình hình ngộ độc thực phẩm và công tác phòng chống ngộ độc
thực phẩm năm 2011 và định hướng kế hoạch năm 2012.
4. Bộ Y tế, Quyết định số 867/1998/QĐ-BYT ngày 04/4/1998 về việc ban hành “Danh mục
tiêu chuẩn vệ sinh đối với lương thực, thực phẩm”.
5. Bộ Y tế, Quyết định số 4196/1999/QĐ-BYT ngày29/12/1999 về việc ban hành “Quy định
về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.”
6. Chính phủ (2012), Nghị định của chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn
thực phẩm số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012.
7. Chính phủ (2009), Báo cáo về việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý chất lượng
vệ sinh an toàn thực phẩm.
8. Chính phủ (2008), Đặc san tuyên truyền pháp luật số 12/2008, chủ đề Pháp luật về vệ sinh
an toàn thực phẩm.
9. Chính phủ (2005), Nghị định của chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực y tế
10. Quốc hội (2010), Luật an toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2010.
11. Quốc hội (2005), Bộ luật hình sự 2005.
12. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2008), Báo cáo kết quả giám sát thực hiện chính sách pháp
luật về quản lý chất lượng vệ sinh, an toàn thực phẩm.
13. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2003), Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm.