Trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm Luận văn ThS. Luật - Pdf 28


MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
4
4. Phương pháp nghiên cứu
4
5. Bố cục của luận văn
5
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CHUNG VỀ AN TOÀN THỰC
PHẨM
6
1.1. Khái niệm về thực phẩm và an toàn thực phẩm
6
1.1.1. Khái niệm thực phẩm
6
1.1.2. Khái niệm an toàn thực phẩm
7
1.2. Một số khái niệm liên quan an toàn thực phẩm
8
1.2.1. Các loại thực phẩm
8
1.2.2. Các khái niệm truyền thống liên quan đến thực phẩm

26
1.5.2. Các hành vi sẽ bị cấm
30
Chương 2. TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VÀ CÁC HÀNH VI VI PHẠM
PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI VIỆT NAM
32
2.1. Thực trạng an toàn thực phẩm tại Việt Nam
32
2.1.1. Hiện trạng ATTP ở Việt Nam
32

2.1.2. Nguyên nhân gây mất an toàn thực phẩm
35
2.2. Pháp luật an toàn thực phẩm tại Việt Nam
41
2.2.1. Một số văn bản pháp luật về an toàn thực phẩm
41
2.2.2. Các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm
46
2.2.3. Xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm
54
2.3. Đánh giá về công tác tổ chức thực hiện pháp luật về ATTP
63
2.3.1. Kết quả đạt được
63
2.3.2. Tồn tại, hạn chế
64
2.3.3. Nguyên nhân
66
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC CÁC CHỮ VÀ KÝ HIỆU VIẾT TẮT ATTP : An toàn thực phẩm
BVTV : Bảo vệ thực vật
CLVSATTP : Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
HCBVTV : Hóa chất bảo vệ thực vật
NĐTP : Ngộ độc thực phẩm
PGTP : Phụ gia thực phẩm
SXKD : Sản xuất kinh doanh
RAT : Rau an toàn
UBTVQH : Ủy ban thường vụ Quốc hội
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm

có 432 vụ/năm, riêng năm 2008 có 468 vụ với 8.656 người mắc, số người
chết là 89 người”. Trong năm 2009 có 152 vụ ngộ độc với hơn 5.200 người
mắc trong đó có 35 người bị tử vong, trong năm 2010 toàn quốc đã xảy ra 132
vụ ngộ độc thực phẩm với 4.676 người mắc, 3.281 người nhập viện và có 41
trường hợp tử vong, năm 2011, các ca ngộ độc thực phẩm tập thể trên toàn
quốc tăng 7 vụ (31,8%) với số ca mắc tăng hơn 60% so với năm 2010. Do
tình hình ngộ độc thực phẩm trở nên trầm trọng và ít được quan tâm, mặt khác
trong quá trình hội nhập kinh tế thì lượng hàng hóa lưu thông ngày càng nhiều
và đa dạng khó có thể kiểm soát hết, chính vì vậy mà an toàn thực phẩm là
một trong những vấn đề đang được quan tâm nhất hiện nay của toàn xã hội vì 2
nó gắn liền và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của tất cả mọi người, sự tồn
tại của thế hệ đương đại và sự phát triển của thế hệ tương lai, ảnh hưởng đến
sự phát triển của xã hội loài người và nó cần sớm được giải quyết một cách
nhanh chóng để đảm bảo tính mạng sức khỏe cho con người.
Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, đã và đang tham
gia hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ đạo, với mô
hình sản xuất nhỏ lẻ.
Cho đến năm 2003, nước ta vẫn chưa có pháp lệnh hoặc Luật về an
toàn thực phẩm, mà cao nhất mới chỉ là Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ
(15/4/1999). Tổ chức bộ máy về quản lý, thanh tra chuyên ngành và kiểm
nghiệm còn quá thiếu, các quy định và tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm hầu
như chưa có, nhận thức và thực hành của người quản lý lãnh đạo, người sản
xuất, kinh doanh và người tiêu dùng còn rất hạn chế. Đặc biệt, trình độ sản
xuất nông nghiệp, trong đó có ngành trồng trọt và chăn nuôi còn nhỏ lẻ, cá
thể, chưa phát triển. Tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước còn quá trầm
trọng. Công nghệ chế biến thực phẩm chưa phát triển, còn thủ công, mang
tính hộ gia đình và cá thể. Nhiều phong tục, tập quán và tiêu dùng còn lạc

Liên quan đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm có rất nhiều tác giả
tiến hành nghiên cứu, tuy nhiên liên quan đến vấn đề trách nhiệm pháp lý đối
với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thì chưa được đề cập
đến nhiều nên vẫn còn nhiều thiếu sót và bất cập trong công tác quản lý, đặc
biệt là trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về an toàn
thực phẩm. Chính vì lý do đó, mà tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: Trách
nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm để
nghiên cứu nhằm đóng góp vào phương thức quản lý của cả nước nói chung
và công tác quản lý an toàn thực phẩm nói riêng. 4

3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Thực hiện Đề tài này, Tác giả đặt ra những mục đích nghiên cứu sau
đây:
- Tổng thuật một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn pháp lý về an toàn
thực phẩm.
- Rà soát các hành vi vi phạm về điều kiện an toàn thực phẩm.
- Đánh giá hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực
phẩm.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả trong
công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và hoàn thiện hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật liên quan đến an toàn thực phẩm.
- Xác định rõ trách nhiệm pháp lý của các đối tượng trong xã hội đối
với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm.
- Nâng cao kiến thức về quản lý an toàn thực phẩm.

4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều

rất lâu, và nó được hiểu là những gì có thể ăn hay uống được và mang lại chất
dinh dưỡng giúp con người phát triển. Khái niệm đầu tiên về thực phẩm đã
xuất hiện năm 1999 là:
“Thực phẩm là những đồ ăn, uống của con người ở dạng tươi, sống
hoặc đã qua sơ chế, chế biến bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm và các chất
được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm.”[5]
Khái niệm này đã khái quát được thực phẩm là gì trong giai đoạn này,
nhưng về sau nó không còn phù hợp nữa vì sự bao gồm cả đồ uống, nhai,
ngậm là bao gồm cả thuốc dùng để chữa bệnh mà đây thì không được xem là
thực phẩm, mặc dù vậy nhưng nó đã phần nào khẳng định bước đầu hình
thành nền pháp lý về ATTP ở Việt Nam. Và để loại bỏ những sai xót trên nó
đã được thay thế bởi một khái niệm tương đối hoàn chỉnh hơn trong một văn
bản có giá trị pháp lý cao hơn và ở đây thực phẩm được định nghĩa là :
“Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi,
sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản.”[13]
Và đây là một khái niệm khá đầy đủ được sử dụng trong khoảng thời
gian qua, nhưng do xã hội ngày càng phát triển thực phẩm cũng trở nên đa
dạng và phong phú nên nó vẫn chưa được thể hiện một cách đầy đủ nhất, mà
nó sẽ được thay thế bởi một khái niệm đầy đủ và có giá trị pháp lý cao hơn
trong thời gian tới đây là Luật ATTP trong đó: 7
“Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi,
sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Khái niệm thực phẩm này không
bao gồm thuốc dùng cho người, các chất gây nghiện và thuốc lá”.[10]
Qua khái niệm trên đã khái quát một cách đầy đủ và khắc phục những
hạn chế, thiếu xót mà các văn bản trước đó mắc phải. Từ đây ta có thể nhận
thấy rằng vấn đề thực phẩm ngày càng trở nên quan trọng và là một vấn đề
cấp thiết hiện nay, nó cần phải được giải quyết một cách tốt hơn.

đảm bảo an toàn là hết sức cần thiết trong tình hình hiện nay, để bảo vệ sức
khỏe được tốt hơn.

1.2. Một số khái niệm liên quan an toàn thực phẩm
1.2.1. Các loại thực phẩm
Thực phẩm bao gói sẵn
Là “thực phẩm được bao gói và ghi nhãn hoàn chỉnh, sẵn sàng để bán
trực tiếp cho mục đích chế biến tiếp hoặc sử dụng để ăn ngay”[10]. Ngày nay
với tốc độ phát triển ngày càng nhanh của xã hội thì ngoài nhu cầu sử dụng
thức ăn nhanh đường phố ra thì thực phẩm bao gói sẵn cũng là một trong
những loại thực phẩm phù hợp với những người có công việc bận rộn hay ít
có quỹ thời gian rảnh, có rất nhiều loại thực phẩm bao gói sẵn, có thứ có thể
ăn ngay được như các loại bánh, , có loại phải qua chế biến nhưng phần lớn
nếu sử dụng chúng thì tiết kiệm được thời gian rất nhiều mà vẫn đảm bảo
được chất dinh dưỡng. Ngày nay thực phẩm bao gói sẵn có rất nhiều dạng và
chủng loại của nhiều công ty, cơ sở sản xuất khác nhau cho người sử dụng lựa
chọn, nhưng ngoài mặt thuận tiện và lợi ích thì nó cũng không kém phần nguy
hại cho sức khỏe người sử dụng. Vì vậy mặc dầu việc sử dụng thực phẩm bao
gói sẵn là một nhu cầu không thể thiếu nhưng người tiêu dùng nên cận thận
với loại hàng hóa này để bảo vệ sức khỏe. 9
Thực phẩm biến đổi gen
Theo quy định ban hành kèm theo Quyết định của Bộ Y tế năm 1999
thì được gọi là thực phẩm sử dụng công nghệ gen “là những thực phẩm được
chế biến từ những thực phẩm nguyên liệu đã bị biến đổi do áp dụng công
nghệ gen và bao gồm các chất phụ gia thực phẩm và chất hổ trợ chế biến thực
phẩm”.[5]
Theo Pháp Lệnh số 12 năm 2003 của UBTVQH thì gọi là thực phẩm có

dường như loại thực phẩm này đã được giải quyết tốt bằng một phương pháp
khác nên nó cũng không được nhắc đến trong Luật an toàn thực phẩm năm
2010.
Thức ăn đường phố
Xã hội ngày càng phát triển và từ đó nhu cầu ăn uống cũng tăng theo,
mặc khác là do nhu cầu cần phải tạo thêm thu nhập của những người có hoàn
cảnh khó khăn, từ đó mà thức ăn đường phố xuất hiện và ngày một phát triển
như hiện nay. Và chính sự phát triển ngày càng tăng đó nên nó cũng trở thành
một vấn đề cần được sự quan tâm và quản lý của nhà nước. Để tạo hành lang
pháp lý điều chỉnh kịp thời vấn đề này Bộ Y tế đã có Quyết định
4196/1999/QĐ-BYT trong đó thức ăn đường phố là:
“Thực phẩm đường phố là những thức ăn, đồ uống, kể cả rau, hoa quả
tươi có thể ăn ngay được bày bán trên đường phố hoặc nơi công cộng”
Từ đây thấy được thức ăn đường phố là một loại thức ăn có rất nhiều
ưu điểm như là người ta có thể sử dụng ngay, mặc dù vậy nhưng nó cũng có
mặt tiêu cực cần phải giải quyết chính từ việc bày bán trên đường phố đó có
thể làm cho nó không đảm bảo vệ sinh. Nhưng khi Pháp lệnh số 12 năm 2003
của UBTVQH ra đời thì dường như vấn đề này lại không được đề cập đến mà
chỉ quy định chung để đảm an toàn thực phẩm. Đến năm 2010 khi Luật an 11
toàn thực phẩm được ban hành thì thức ăn đường phố được định nghĩa như
sau:
“Thức ăn đường phố là thực phẩm được chế biến dùng để ăn, uống
ngay, trong thực tế được thực hiện thông qua hình thức bán rong, bày bán trên
đường phố, nơi công cộng hoặc những nơi tương tự”.
Có thể chia thức ăn đường phố làm 3 loại: bán trong cửa hàng cố định,
bán trên hè phố và bán rong. Hiện nay, cả 3 loại hình này đang phát triển
mạnh nhất là các cửa hàng ăn uống cố định mọc lên ở khắp nơi, việc phát

ngộ độc thực phẩm. Tình hình chung cho thấy khả năng giám sát về an toàn
thực phẩm của các cơ quan chức năng vẫn còn nhiều thiếu xót và chưa quản
lý chặt vấn đề này. Cụ thể có rất nhiều vụ ngộ độc thực phẩm không tìm ra
nguyên nhân.
Vì vậy để tránh bị ngộ độc thực phẩm chúng ta cần phải thực hiện đúng
các nguyên tắc sau để đảm bảo thực phẩm an toàn. Đó là: Chọn thực phẩm
tươi, sạch; Ăn chín, uống sôi, ngâm kỹ và rửa sạch rau quả khi ăn sống; Ăn
ngay thức ăn khi nấu vừa xong; Che đậy, bảo quản cẩn thận thức ăn đã nấu
chín; Đun kỹ thức ăn trước khi dùng lại; Thức ăn sống, chín phải để riêng,
không dùng lẫn dụng cụ chế biến; Rửa tay trước khi chế biến và trước khi ăn;
Giữ dụng cụ và nơi chế biến luôn khô sạch; Không ăn thức ăn ôi thiu; Chế
biến thức ăn bằng nước sạch.
Sản xuất, kinh doanh thực phẩm
“Sản xuất thực phẩm, kinh doanh thực phẩm là việc thực hiện một, một
số hoặc tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, sơ chế,
chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển, buôn bán thực phẩm.”
Sản xuất thực phẩm là một quá trình bao gồm nhiều công đoạn như
phải trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt để có được nguồn thực phẩm ban
đầu. Từ nguồn thực phẩm ban đầu này đưa qua quá trình sơ chế, chế biến mới 13
có thể sử dụng được còn đối với những nơi không trực tiếp sản xuất ra thực
phẩm nên phải sử dụng thực phẩm từ nơi sản xuất được đem đến thì cần phải
có thêm một giai đoạn nữa là vận chuyển và thông qua buôn bán mới đến
được người sử dụng. Hiện nay Luật an toàn thực phẩm đã được ban hành với
nhiều tiến bộ hơn rất nhiều trong đó việc định nghĩa về sản xuất thực phẩm và
kinh doanh thực phẩm được cụ thể và tách riêng biệt nhau.
“Sản xuất thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt
động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo

phẩ m.”
Theo đó ta có thể hiểu như sau, điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm là
ngoài những điều kiện mà người tạo ra thực phẩm phải đáp ứng khi làm ra
thực phẩm thì còn có những điều kiện đối với thực phẩm hay là các điều kiện
về kỹ thuật, môi trường trong quá trình tạo ra thực phẩm và còn có cả điều
kiện về vận chuyển, kinh doanh cũng phải được đảm bảo vệ sinh sạch sẽ. Ví
dụ: Việc kinh doanh thức ăn trong các nhà hàng khách sạn phải tuân theo các
điều kiện tối thiểu về mặt không gian như: Phải xa cống rãnh, bãi rác và các
nguồn gây ô nhiễm; vệ sinh dụng cụ chứa đựng trước khi sử dụng; có phương
tiện che chắn nắng, mưa, bụi bẩn và côn trùng…Hay là trong sản xuất chế
biến thì nghiêm cấm các loại hóa chất bị cấm sử dụng hay ngoài danh mục
được phép sử dụng; sử dụng phương tiện bị ô nhiễm không đảm bảo vệ sinh,
phương tiện đã vận chuyển các chất độc hại để vận chuyển thực phẩm… tất
cả những điều kiện này là do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để
đảm bảo cho thực phẩm được vệ sinh an toàn, sạch sẽ và bảo vệ sức khỏe cho
người tiêu dùng. 15
Sự cố về an toàn thực phẩm
“Sự cố về an toàn thực phẩm là tình huống ảnh hưởng tới sức khỏe,
tính mạng con người xảy ra do ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực
phẩm hoặc các tình huống khác phát sinh từ thực phẩm”.[10]
Điều đó có nghĩa là khi con người sử dụng phải thực phẩm không đảm
bảo vệ sinh sẽ xảy ra hai trường hợp. Một là, gây NĐTP hoặc mầm bệnh sẽ từ
thức ăn xâm nhập vào cơ thể người và gây bệnh; hai là, những chất độc hại sẽ
tích tụ trong cơ thể người từ lượng nhỏ đến lớn và gây ra các bệnh nguy hiểm

thực phẩm.
Vi chất dinh dưỡng và vitamin
Theo quy định ban hành kèm theo Quyết định của Bộ Y tế năm 1999
thì vi chất dinh dưỡng và vitamin lại không được đề cập đến.
Theo Pháp Lệnh số 12 năm 2003 của Ủy ban thường Vụ Quốc hội thì
vi chất dinh dưỡng và vitamin “là vitamin, chất khoáng có hàm lượng thấp
cần thiết cho sự tăng trưởng, phát triển và duy trì sự sống của cơ thể người”.
Đây là một trong những loại chất quan trọng mà con người khi ăn thức ăn
cũng chỉ để hấp thụ, lấy nó cho cơ thể.
Theo Luật an toàn thực phẩm năm 2010 thì được gọi là Thực phẩm bổ
sung vi chất dinh dưỡng “là thực phẩm được bổ sung thêm các vitamin,
khoáng chất hoặc các thành phần được phép khác nhằm cải thiện giá trị dinh
dưỡng của thực phẩm đó”. Với cách gọi này người ta sẽ phân biệt được thế
nào là vi chất dinh dưỡng và thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng, vì thực
phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng là khi người tạo ra thực phẩm này hoặc đã
thêm vitamin hoặc chất dinh dưỡng vào thực phẩm một lượng cần thiết nhất
định, để khi sử dụng cơ thể sẽ hấp thụ nó.
17
1.2.3. Một số khái niệm mới được quy định trong Luật an toàn thực phẩm
năm 2010
Thực phẩm chức năng
Thực phẩm chức năng là thực phẩm dùng để hỗ trợ một hoặc nhiều
chức năng của cơ thể người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề
kháng và giảm nguy cơ mắc bệnh, bao gồm: thực phẩm bổ sung, thực phẩm
bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học.
Kiểm nghiêm thực phẩm
“Là việc thực hiện một hoặc các hoạt động thử nghiệm, đánh giá sự phù

Theo đó, các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm được
hiểu là những hành vi do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý
các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn thực
phẩm.
Như vậy hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm sẽ được chia
thành 2 loại hành vi là hành vi vi phạm hành chính và hành vi vi phạm hình
sự.
1.2.4. Những vấn đề pháp lý liên quan đến trách nhiệm pháp lý đối với các
hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm
Trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý (TNPL) thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với
chủ thể dựa trên cơ sở hành vi vi phạm pháp luật do chủ thể gây ra. Nhà nước
sử dụng những biện pháp bất lợi về vật chất, tinh thần đối với chủ thể.
Như vậy trách nhiệm pháp lý có đặc điểm như sau:
- Có hành vi vi phạm pháp luật và được chủ thể thực hiện dưới dạng
hành động hoặc không hành động, xâm hại đến các lợi ích nhất định và gây ra
(hoặc có khả năng thực tế gây ra) hậu quả nguy hại cụ thể cho lợi ích công
dân, cho xã hội hoặc cho Nhà nước. 19
- Nhà nước bằng quyền lực của mình sử dụng những biện pháp mang
tính chất trừng phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích hợp pháp bị
xâm hại.
- Chủ thể vi phạm chịu những bất lợi nhất định về mặt tinh thần hoặc
vật chất do hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra.
Trách nhiệm pháp lý có 3 loại: Trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân
sự và trách nhiệm hành chính.
Trong phạm vi đề tài luận văn, tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu về
trách nhiệm hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực

phẩm cho người sử dụng, có thể nói sức khỏe đóng vai trò quan trọng đối với
con người bao nhiêu thì an toàn thực phẩm đóng vai trò bấy nhiêu đối với
việc đảm bảo sức khỏe, vì chỉ có sử dụng thực phẩm sạch thì mới có được sức
khỏe tốt để thực hiện ước mơ trong cuộc sống.

1.3.2. Ý nghĩa của việc đảm bảo an toàn thực phẩm đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng
Thực phẩm là một loại thức ăn mà con người phải sử dụng hằng ngày để có
thể duy trì sự sống, làm việc và phát triển. Việc bảo đảm an toàn thực phẩm
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giữ gìn sức khỏe con người, nâng cao
chất lượng cuộc sống hiện tại cũng như đối với phát triển nòi giống. Chỉ khi
con người có thể tồn tại và phát triển một cách mạnh khỏe, thì mới có thể bảo
đảm cho sự phát triển của giống nòi sau này được bền vững và tốt hơn. ATTP
không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe chúng ta mà còn liên quan chặt
chẽ đến năng suất, chất lượng lao động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh; tác
động trực tiếp đến nguồn lực và môi trường đầu tư phát triển kinh tế - văn
hóa, đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo của cả một thế hệ tương lai
nếu như không đảm bảo tốt ATTP. Chính vì vậy nếu thực phẩm sử dụng hằng 21
ngày đều được đảm bảo thì sẽ giúp cho người sử dụng nó mạnh khỏe, phát
triển tốt về năng lực, trí lực tạo ra một nguồn lao động dồi dào cho đất nước
cho xã hội. Và chính nguồn lực này sẽ lao động và tạo ra của cải cho xã hội,
giúp cho nền kinh tế của quốc gia phát triển, góp phần ổn định kinh tế thế
giới. Tạo cho con người một cuộc sống ấm no, đầy đủ thoát được đói nghèo,
hướng tới cuộc sống tốt đẹp. Đồng thời nó cũng tạo ra được một nguồn tài
chính dồi dào có thể đầu tư để duy trì và phát triển văn hóa, giáo dục, an sinh
xã hội, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường một cách tốt hơn. Và cũng
chỉ có sự phát triển về năng lực trí lực đó mới cung cấp một tiềm lực quân sự

xây dựng phòng thí nghiệm, xét nghiệm để thực hiện việc quản lý của mình.
Thanh tra, kiểm tra, giám sát xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm
trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc
lĩnh vực được phân công quản lý để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, có
hình thức xử phạt khen thưởng, kỷ luật nhằm tạo niềm tin cho nhân dân.
Đồng thời tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về an
toàn thực phẩm cho người dân nâng cao vốn hiểu biết và cách phòng tránh;
xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất thực phẩm an
toàn để bảo đảm rằng các sản phẩm thực phẩm được tạo ra là an toàn vệ sinh,
không gây hại cho người sử dụng.

1.4.2. Vai trò người tiêu dùng
Ngoài việc quản lý của nhà nước bằng các biện pháp thanh, kiểm tra,
giám sát và xử lý các hành vi vi phạm thì người tiêu dùng cũng là một nhân tố
hết sức quan trọng trong việc đảm bảo ATTP. Vì người tiêu dùng là người
trực tiếp sử dụng thực phẩm, nếu người tiêu dùng nhận thức được vai trò của
mình là đảm bảo tốt vấn đề ATTP không để xảy ra tình trạng NĐTP thì sẽ
góp phần giúp nhà nước quản lý tốt vấn đề này, đồng thời bảo vệ được sức

Trích đoạn Một số văn bản pháp luật về an toàn thực phẩm Trách nhiệm pháp lý và các hành vi vi phạm hành chính về an tồn thực phẩm Kết quả đạt được Nhóm giải pháp về thể chế chính sách Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status