Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu tại việt nam hiện nay luận văn ths 2015 - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------------------------

TRẦN NGỌC BÁCH

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP ĐẦU MỐI XĂNG DẦU
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------------------------

TRẦN NGỌC BÁCH

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP ĐẦU MỐI XĂNG DẦU
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS PHẠM VĂN DŨNG



1.4.3. Kinh nghiệm của Thái Lan.................................................................... 32
1.4.4. Kinh nghiệm của Trung Quốc ............................................................... 33
1.4.5.Một số bài học cho Việt Nam ................................................................ 38
CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP ĐẦU MỐI XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY . 39
2.1. Tổng quan về sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp đầu mối
xăng dầu .......................................................................................................... 39
2.1.1.Hệ thống kho, cảng tiếp nhận................................................................. 40
2.1.2.Hệ thống mạng lƣới phân phối............................................................... 42
2.1.3.Thị phần của các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu ................................ 42
2.2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu
tại Việt Nam hiện nay ..................................................................................... 44
2.2.1. Quản lý điều kiện kinh doanh xuất nhập khẩu xăng dầu và số lƣợng các
doanh nghiệp đầu mối xăng dầu ..................................................................... 44
2.2.2 . Quản lý hạn mức nhập khẩu xăng dầu ................................................. 46
2.2.3. Quản lý thuế nhập khẩu, các khoản phụ thu và giá bán xăng dầu ........ 47
2.2.4. Bộ máy Quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu
......................................................................................................................... 59
2.3. Đánh giá chung về Quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp đầu mối
xăng dầu tại Việt Nam hiện nay ...................................................................... 64
2.3.1. Thành tựu ............................................................................................. 64
2.3.2. Những tồn tại của Quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp đầu mối
xăng dầu tại Việt Nam hiện nay ...................................................................... 65
CHƢƠNG 3 QUAN ĐIỂM, PHƢƠNG HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP ĐẦU MỐI XĂNG DẦU TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY . 68


3.1. Hội nhập kinh tế quốc tế và những nhân tố mới ảnh hƣởng đến QLNN



DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT

Chữ viết tắt

1

AEC

Nội dung
Asean Economic Community (Cộng đồng kinh tế
Asean)

2

AFTA

Asean Free Trade Area (Khu vực mậu dịch tự do
Asean)

3

APEC

Asia-Pacific Economic Cooperation (Diễn đàn hợp
tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dƣơng)

4


OPEC

Organization of the Petroleum Exporting Country

Doanh nghiệp nhà nƣớc

(Tổ chức các nƣớc xuất khẩu Dầu mỏ thế giới)
10

PCCC

Phòng cháy chữa cháy

11

QLNN

Quản lý nhà nƣớc

12

TNTX

Tạm nhập - tái xuất

13

WTO


một khoản bù lỗ cho các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu (các doanh nghiệp
đƣợc phép nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu) nhằm bình ổn giá để ổn định
đầu vào nhiên liệu cho các ngành kinh tế khác. Nhất là trong thời gian gần
đây, khi nhu cầu về xăng dầu của các nƣớc Trung Quốc, Mỹ tăng cao, một số
nƣớc có tài nguyên dầu mỏ bất ổn về chính trị...đã đẩy giá xăng dầu thế giới
biến động tăng giảm đột biến. Cơ chế điều hành thị trƣờng xăng dầu hiện tại
của Việt Nam thƣờng tỏ ra lúng túng trong việc đối phó với những đợt biến
động này, gây ra những khoản lỗ lớn cho doanh nghiệp, gây bức xúc trong
đời sống nhân dân.
Nhận thức đây là vấn đề cấp thiết và xuất phát từ thực tiễn, tôi lựa
chọn “Quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu tại
Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp chƣơng trình cao học
Quản lý kinh tế.
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng
và hội nhập, nhà nƣớc cần quản lý các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh
xăng dầu nhƣ thế nào để vừa đảm bảo đƣợc lợi ích của doanh nghiệp, vừa đáp
ứng đƣợc lợi ích ngƣời tiêu dùng và của nhà nƣớc?
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, đã có một số đề tài nghiên cứu về
đổi mới quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp xăng dầu cụ thể: Tác giả
1


Bùi Ngọc Bảo (2009), Vai trò của Petrolimex trong vận hành kinh doanh
xăng dầu theo cơ chế thị trường, www.petrolimex.com.vn; Tác giả Vƣơng
Đình Dung (2009), Đổi mới quản lý nhà nước, phát huy quyền chủ động của
các doanh nghiệp nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu, số 29 (11+12/2009),
Tạp chí Quản lý kinh tế - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ƣơng; Tác
giả Lƣơng Trọng Hải (2000), Một số vấn đề về hoàn thiện cơ chế quản lý nhà
nước đối với ngành xăng dầu Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Hà Nội. Ngoài ra,

- Thực trạng QLNN đối với các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu tại
Việt Nam hiện nay;
- Quan điểm, phƣơng hƣớng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện
QLNN đối với các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu tại Việt Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoàn thiện QLNN đối với các
doanh nghiệp đầu mối xăng dầu tại Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ nghiên cứu các vấn đề trực tiếp liên quan đến QLNN đối với
các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu; không nghiên cứu các vấn đề liên quan
đến công nghệ, sản xuất chế biến.
Về không gian: Các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu trên lãnh thổ Việt Nam;
không nghiên cứu các hoạt động đầu tƣ ra nƣớc ngoài của các doanh nghiệp.
Về thời gian: Giới hạn từ năm 2012 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phƣơng pháp chủ yếu nhƣ phƣơng pháp thu thập và
xử lý số liệu, phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp phân tích hệ thống, phƣơng
pháp thống kê, phƣơng pháp chuyên gia...
Dựa vào số liệu, tài liệu của các cơ quan quản lý nhà nƣớc và các
doanh nghiệp đầu mối xăng dầu, đề tài tổng hợp, xử lý phân tích để đánh giá
3


thực trạng của QLNN đối với các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu hiện nay
một cách thực tiễn và khách quan. Ngoài ra, đề tài cũng kế thừa một số kết
quả nghiên cứu của từ các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến
nội dung của đề tài.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản nhất về QLNN đối với
doanh nghiệp nói chung, cũng nhƣ đối với hoạt động của các doanh nghiệp

bao gồm các loại khí hóa lỏng. Xăng dầu là một loại hàng hóa đặc biệt do
đóng vai trò là yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất, là năng lƣợng phục vụ
dân sinh, quốc phòng, an ninh mà chƣa có loại năng lƣợng nào có thể thay thế
hoàn toàn đƣợc.
Kinh doanh xăng dầu bao gồm các hoạt động kinh doanh xuất khẩu,
nhập khẩu, tạm nhập tái xuất xăng dầu; tạm xuất, tái nhập xăng dầu; nhập
khẩu nguyên liệu để sản xuất, chế biến xăng dầu; phân phối xăng dầu tại thị
trƣờng trong nƣớc; dịch vụ cho thuê cảng, kho, tiếp nhận xăng dầu nhập khẩu
và dịch vụ vận tải xăng dầu. Sản xuất chế biến xăng dầu là quá trình lọc dầu,
chuyển hóa dầu thô và các nguyên liệu khác thành các sản phẩm xăng dầu.
Thị trƣờng xăng dầu có quá trình hình thành và phát triển nhƣ thị
trƣờng các hàng hóa khác, tuân theo quy luật khách quan của cơ chế thị
trƣờng, trong đó, các quan hệ cung cầu và giá cả là yếu tố quyết định. Tuy
nhiên, nguồn cung xăng dầu phụ thuộc nhiều vào các nƣớc có trữ lƣợng khai
thác và xuất khẩu xăng dầu lớn nhƣ các nƣớc Trung Đông, Nga, Venezuela...
Do vậy, giá xăng dầu, ngoài chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố kinh tế, chính
trị, xã hội… của các nƣớc xuất khẩu dầu mỏ, còn bị chi phối bởi những nƣớc
có sức tiêu thụ xăng, dầu lớn nhƣ: Mỹ, Trung Quốc, EU…
5


Do giá xăng dầu thế giới thƣờng xuyên thay đổi, khó lƣờng, cùng với
vai trò đặc biệt của xăng dầu đối với nền kinh tế nên mỗi quốc gia đều có
chính sách quản lý, quy hoạch, chiến lƣợc về sản xuất, tiêu thụ, dự trữ và kinh
doanh xăng dầu nhằm tạo sự ổn định cần thiết về nguồn cung và giá cả xăng
dầu để tạo tiền đề phát triển kinh tế bền vững.
Ở nƣớc ta trƣớc đây, xăng dầu chủ yếu đƣợc viện trợ từ Liên Xô thông
qua Hiệp định ký giữa hai nhà nƣớc Việt Nam và Liên Xô. Đến năm 1990,
Hiệp định này hết hiệu lực, nguồn xăng dầu chủ yếu đƣợc nhập khẩu từ bên
ngoài. Nhà nƣớc giao cho một số doanh nghiệp và cấp phép cho một số doanh

an ninh năng lƣợng quốc gia.
Do những đặc thù trong hoạt động sản xuất kinh doanh xăng dầu,
QLNN đối với đối với các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng. Nhà nƣớc cần có sự can thiệp bằng cách đƣa ra những điều
kiện kinh doanh dành cho doanh nghiệp trong lĩnh vực này, hạn chế tình trạng
lãng phí nguồn lực quốc gia khi đầu tƣ quá nhiều vào một lĩnh vực cũng nhƣ
có biện pháp đảm bảo an toàn trong kinh doanh của doanh nghiệp.
Do là mặt hàng đặc biệt, mục tiêu ổn định về giá cả xăng dầu, cân đối
về lƣợng xăng dầu tiêu dùng của xã hội và lƣợng xăng dầu dự trữ quốc gia
của từng kỳ luôn là nhiệm vụ ƣu tiên của Nhà nƣớc. Để kiểm soát và thực
hiện mục tiêu này, Nhà nƣớc cần thực hiện quản lý các doanh nghiệp đầu mối
xăng dầu bằng cách định hƣớng, hoạch định đối với số lƣợng và giá cả xăng
dầu trong từng thời kỳ nhƣng vẫn phải đảm bảo điều kiện doanh nghiệp đƣợc
quyền tự chủ kinh doanh. Bên cạnh đó, QLNN đối với các doanh nghiệp đầu
mối xăng dầu cũng là nhiệm vụ để Nhà nƣớc giải quyết hài hòa giữa lợi ích
quốc gia, doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng.
Số lƣợng các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu là có hạn. Họ
hoàn toàn có thể thỏa thuận với nhau để bán xăng dầu theo giá độc quyền. Vì
7


vậy, QLNN đối với các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu là hết sức
cần thiết.
1.2.

Nội dung QLNN đối với các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu

1.2.1. Nội dung chủ yếu của QLNN đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế
a) Về chức năng QLNN
Trong nền kinh tế thị trƣờng, QLNN đối với các doanh nghiệp nói

QLNN đối với doanh nghiệp ở nƣớc ta chịu ảnh hƣởng của đặc điểm
văn hóa, kinh tế, chính trị - xã hội. Nhƣ đã phân tích ở trên, vai trò QLNN đối
với doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung là rất quan trọng. Tùy
theo từng loại hình kinh tế nhƣ đã nêu trên, vai trò của nhà nƣớc đối với
doanh nghiệp cũng rất khác nhau.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, vai trò của thị trƣờng bị coi
nhẹ, các doanh nghiệp hầu nhƣ chỉ đóng vai trò nhƣ các phân xƣởng sản xuất,
nhà nƣớc quyết định toàn bộ việc sản xuất cái gì? bao nhiêu? cho ai? giá nhƣ
thế nào? Các doanh nghiệp không có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh.
Các doanh nghiệp và nền kinh tế không đủ sức cạnh tranh trong điều kiện
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trên thực tế thể hiện sự không hiệu
quả của mô hình.
Trong nền kinh tế thị trƣờng thuần túy, vai trò QLNN đối với các
doanh nghiệp không thực hiện một cách trực tiếp, mà thông qua thị trƣờng.
Các doanh nghiệp tổ chức hoạt động theo các tín hiệu của thị trƣờng, theo
“bàn tay vô hình”. Theo mô hình này, quyền chủ động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp đƣợc đề cao. Do chạy theo lợi nhuận tối đa, nhiều khi
sự công bằng xã hội bị coi nhẹ, làm nảy sinh nhiều hậu quả xã hội phức tạp.
Trong cả hai mô hình quản lý tập trung và thị trƣờng thuần túy thì các hoạt
động của nền kinh tế không đạt đƣợc hiệu quả tối ƣu. Có thể nói việc quá coi
trọng vai trò của nhà nƣớc cũng nhƣ tuyệt đối hóa vai trò của thị trƣờng đều
9


không phải là các lựa chọn đúng đắn, tất cả sẽ làm cho nền kinh tế trở nên yếu
kém và dễ dẫn đến khủng hoảng.
Để nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung, các nhà chính trị, cũng
nhƣ các nhà kinh tế đã thống nhất nhận thức rằng phải có sự kết hợp giữa vai
trò của chính phủ và vai trò của thị trƣờng, hay còn gọi là lý thuyết “hai bàn
tay”. Trong mô hình kinh tế hỗn hợp này, cả chính phủ và thị trƣờng cùng

nƣớc. Nhà nƣớc sử dụng các công cụ chính sách vĩ mô khác nhau tùy theo
từng giai đoạn cụ thể để điều tiết nền kinh tế. Tuy không có một khuôn mẫu
nhất định, nhƣng nhìn chung, sự can thiệp, điều tiết của nhà nƣớc phải đƣợc
thiết lập dựa trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc nhƣ thừa nhận tính độc lập
của các cá nhân, doanh nghiệp trên thị trƣờng, xây dựng nền kinh tế thị
trƣờng mang tính cạnh tranh, phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với điều
kiện của đất nƣớc trong từng giai đoạn phát triển.
Nhà nƣớc có nhiệm vụ thực hiện các giải pháp tác động để phân bổ lại
nguồn lực xã hội và khắc phục các thất bại của thị trƣờng. Trong trƣờng hợp
các doanh nghiệp vì chạy theo lợi nhuận tối đa, không quan tâm đến bảo vệ
môi trƣờng sinh thái, làm tổn hại đến công bằng xã hội và lợi ích của ngƣời
tiêu dùng, hoặc không tuân thủ luật pháp, có nghĩa là thị trƣờng đã thất bại và
bộc lộ khiếm khuyết, nhà nƣớc cần phải can thiệp để khắc phục các thất bại,
định hƣớng để sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.
Can thiệp vào nền kinh tế để đảm bảo công bằng xã hội cũng là một
trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà nƣớc. Thông qua các chính sách
điều tiết thu nhập, hỗ trợ đối với những đối tƣợng yếu thế, kém sức cạnh
tranh, nhà nƣớc sẽ hạn chế đƣợc phần nào sự phân hóa giàu nghèo trong xã
hội. Trong trƣờng hợp này, nhà nƣớc phải tạo ra đƣợc cơ hội phát triển đồng
đều cho mọi đối tƣợng doanh nghiệp trong xã hội. Điều này cũng lý giải vì
sao rất nhiều nƣớc trên thế giới có những chính sách hỗ trợ ƣu đãi riêng cho
11


các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho các vùng kém phát triển.
Theo quan điểm truyền thống, quan hệ giữa nhà nƣớc và doanh nghiệp
là quan hệ giữa bộ máy cai trị và đối tƣợng bị cai trị. Trong nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung, vai trò của nhà nƣớc là tuyệt đối và mang tính chi phối
hầu nhƣ mọi hoạt động của doanh nghiệp. Quan hệ giữa nhà nƣớc và doanh
nghiệp trong mô hình này mang nặng tính “xin - cho”. Theo đó để làm một

yếu tố sản xuất cũng nhƣ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp trên
thị trƣờng.
Quan hệ giữa nhà nƣớc và doanh nghiệp sẽ không có hiệu quả nếu chỉ
mang tính một chiều. Để hoạt động của nhà nƣớc có hiệu quả và phù hợp thì
trách nhiệm của doanh nghiệp cũng rất lớn. Các doanh nghiệp cần phải tích
cực đóng góp vào việc xây dựng pháp luật, kịp thời đóng góp ý kiến khi nảy
sinh những vƣớng mắc trong quá trình thực hiện để có những biện pháp giải
quyết kịp thời. Khi quy định của nhà nƣớc đã đƣợc ban hành thì doanh nghiệp
phải thực hiện một cách nghiêm túc, khắc phục tình trạng tùy tiện đã và đang
tƣơng đối phổ biến hiện nay ở nƣớc ta.
Thực tiễn phát triển của nhiều nƣớc trên thế giới chứng tỏ rằng, mối
quan hệ giữa nhà nƣớc và doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng có hiệu
quả nhất khi mà chính phủ tập trung vào công việc dự báo, là ngƣời khởi
xƣớng và tạo điều kiện phát triển thị trƣờng, chống độc quyền, chống kinh
doanh không lành mạnh, là ngƣời cung cấp các dịch vụ công có chọn lọc và
có chất lƣợng cao để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động kinh doanh
và hoạt động có hiệu quả.
b) Về các phương pháp quản lý nhà nước
Trong nền kinh tế thị trƣờng, nhà nƣớc thƣờng sử dụng các phƣơng
pháp sau để thực hiện sự quản lý của mình đối với doanh nghiệp:
1) Phƣơng pháp kinh tế
13


Phƣơng pháp kinh tế là phƣơng pháp tác động của chủ thể quản lý lên
doanh nghiệp thông qua lợi ích và cách chính sách đòn bẩy kinh tế, để doanh
nghiệp tự lựa chọn phƣơng án hoạt động của mình một cách có lợi nhất và tự
chịu trách nhiệm về các kết quả hoạt động của mình, không cần có sự tác
động trực tiếp mang tính mệnh lệnh và sự giám sát thƣờng xuyên về mặt hành
chính của cơ quan nhà nƣớc. Các phƣơng pháp kinh tế bao gồm:

- Đăng ký kinh doanh, hành nghề, thu giấy phép kinh doanh của doanh
nghiệp trong trƣờng hợp vi phạm quy định pháp luật.
Tác động về mặt điều chỉnh:
- Ra các chỉ thị có tính chất hành chính để điều chỉnh các vấn đề biến
động trên thị trƣờng;
- Ra các mệnh lệnh tức thời để điều chỉnh, giải quyết các vấn đề liên
quan đến hoạt động của doanh nghiệp;
- Đánh giá quá trình hành nghề, xử lý hoạt động vi phạm pháp luật của
doanh nghiệp.
Phƣơng pháp hành chính có tác dụng giải quyết vấn đề một cách nhanh
chóng, nhƣng việc sử dụng nó đòi hỏi phải đảm bảo tính chuẩn xác của các
quyết định, tránh lạm dụng, quan liêu và độc đoán, gây khó khăn cho hoạt
động của doanh nghiệp.
3) Phƣơng pháp tuyên truyền - giáo dục
Phƣơng pháp tuyên truyền - giáo dục là phƣơng pháp tác động đến
doanh nghiệp, chính xác hơn là đến đội ngũ ngƣời lao động của doanh nghiệp
thông qua các biện pháp về giáo dục, tâm lý, tình cảm.
Phƣơng pháp tuyên truyền - giáo dục xuất phát từ luận điểm cho rằng
hoàn cảnh vật chất quyết định ý thức con ngƣời, nhƣng ý thức và tình cảm
con ngƣời cũng có ảnh hƣởng trở lại đối với hoàn cảnh vật chất. Con ngƣời
làm việc không chỉ vì các lợi ích vật chất, mà còn tác động về tinh thần nhƣ
15


ham muốn sáng tạo, lƣơng tâm, trách nhiệm nghề nghiệp, niềm vui trong lao
động và đƣợc tôn vinh.
Nội dung giáo dục rất phong phú, nhƣng điều quan trọng là phải làm
cho các doanh nghiệp tự giác thực hiện nhiệm vụ và đƣa ra quyết định dựa
trên cơ sở nhận thức đƣợc tính tất yếu của vấn đề, cũng nhƣ trên cơ sở thực
hiện hoàn toàn tự nguyện. Cần tùy theo điều kiện cụ thể của từng doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status