BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CHU BÍCH NGỌC
ĐỀ TÀI
THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC
PHẨM TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU
DÙNG Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CHU BÍCH NGỌC
ĐỀ TÀI
THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC
PHẨM TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU
DÙNG Ở VIỆT NAM
: BLDS
Bộ luật hình sự
: BLHS
Ngƣời tiêu dùng
: NTD
Sản xuất kinh doanh
: SXKD
Ủy ban nhân dân
: UBND
Vệ sinh an toàn thực phẩm
: VSATTP
Vi phạm hành chính
: VPHC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1. Tổng hợp địa điểm mua sắm thực phẩm……………………………. 49
Biểu đồ 1. Mức độ tin tƣởng đối với thực phẩm của ngƣời tiêu dùng……….
tiêu dùng ở Việt Nam………………………………………………………………16
1.2.1. Sự hình thành và phát triển pháp luật về an toàn thực phẩm ở Việt Nam 16
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật an toàn thực phẩm trong việc bảo vệ người
tiêu dùng ở Việt Nam ............................................................................................20
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC
PHẨM TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT
NAM..........................................................................................................................30
2.1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm trong
việc bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng……………………………………………..30
2.1.1. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội ............................................................30
2.1.2. Hệ thống pháp luật về an toàn thực phẩm .................................................31
2.1.3. Trình độ nhận thức pháp luật và văn hóa, lối sống của người tiêu dùng .32
2.1.4. Ý thức pháp luật, đạo đức kinh doanh của các tổ chức, cá nhân sản xuất
kinh doanh thực phẩm...........................................................................................33
2.1.5. Năng lực quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm ....................................34
2.2. Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm trong việc bảo vệ
quyền lợi ngƣời tiêu dùng ở Việt Nam…………………………………………….35
2.2.1. Những kết quả đạt được .............................................................................36
2.2.2. Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến việc
thực thi pháp luật an toàn thực phẩm ...................................................................45
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG
VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM ......................66
3.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật an toàn thực phẩm………………………66
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm
trong việc bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng ở Việt Nam………………………….67
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm trong việc
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đảm bảo tính thống nhất, khả thi. ...................67
nguồn cung cấp năng lƣợng các chất dinh dƣỡng cần thiết để con ngƣời tồn tại và
phát triển. Đƣợc tiếp cận với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền cơ bản đối
với mỗi con ngƣời, bởi an toàn vệ sinh thực phẩm không chỉ ảnh hƣởng trực tiếp
đến sức khỏe con ngƣời mà còn liên quan chặt chẽ đến năng suất, hiệu quả phát
triển kinh tế, thƣơng mại, du lịch và an sinh xã hội. Đảm bảo an toàn thực phẩm trở
thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất của bất cứ quốc gia nào trên thế
giới.
Ở Việt Nam, công tác đảm bảo an toàn thực phẩm trong những năm qua đã
đƣợc các cấp ủy Đảng, chính quyền và toàn thể nhân dân quan tâm nên đã có nhiều
chuyển biến tích cực. Khung khổ pháp luật, tổ chức bộ máy quản lý và đội ngũ cán
bộ đƣợc củng cố; nhiều mô hình tiên tiến về bảo đảm an toàn thực phẩm đƣợc xây
dựng và nhân rộng; nhiều văn bản pháp luật đƣợc ban hành quy định các vấn đề cơ
bản về sản xuất – kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm nhằm kiểm soát tình hình ngộ
độc thực phẩm trong cộng đồng, đảm bảo quyền lợi cho ngƣời tiêu dùng, nâng cao
chất lƣợng cuộc sống nhân dân và phát triển kinh tế – xã hội. Theo Chủ nhiệm Ủy
ban Khoa học, Công nghệ và Môi trƣờng – ông Phan Xuân Dũng nhận định: An
toàn thực phẩm là một vấn đề được Quốc hội và cử tri quan tâm. Thực thi chính
sách pháp luật về an toàn thực phẩm là hướng đến mục tiêu bảo đảm cho phát triển
sản xuất, phát triển kinh tế; bảo đảm cho sức khỏe, thể chất và tầm vóc người Việt
Nam và bảo đảm cho một môi trường sống trong lành, thu hút đầu tư, khách du
lịch1. Để đảm bảo quyền lợi của ngƣời tiêu dùng trong lĩnh vực tiêu dùng thực
phẩm, tạo lập môi trƣờng kinh doanh minh bạch, lành mạnh, Nhà nƣớc đã ban hành
hàng loạt các văn bản pháp luật quan trọng, đặc biệt là: Luật an toàn thực phẩm
2010, Luật Bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng 2010, Luật Chất lƣợng sản phẩm hàng
hóa 2007, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006… cùng với hệ thống các
văn bản pháp luật khác nhƣ Nghị định, Thông tƣ hƣớng dẫn thi hành trong lĩnh vực
này, tạo nên một hành lang pháp lý quan trọng để điều chỉnh hoạt động sản xuất –
kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm cũng nhƣ bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng.
1
Dƣới góc độ luật học, hầu hết các công trình nghiên cứu trƣớc đây thƣờng tách
riêng vấn đề an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng để nghiên cứu
độc lập. Gần đây, pháp luật an toàn thực phẩm cũng nhƣ pháp luật về an toàn thực
phẩm trong việc bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng đã đƣợc đề cập đến trong một số
công trình nghiên cứu, tiêu biểu có thể kể đến nhƣ: “Thực hiện pháp luật về vệ sinh
an toàn thực phẩm ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ luật học của Nhâm Thúy
Lan năm 2012 thực hiện tại Trƣờng Đại học Luật Hà Nội; “Theo dõi thi hành văn
bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm”, Khoá luận tốt
nghiệp của Nguyễn Ánh Nguyệt năm 2012 thực hiện tại Trƣờng Đại học Luật Hà
3
Nội; “Trách nhiệm của thương nhân trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở
Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ luật học do Nguyễn Thị Thu Hiền thực hiện
tại Trƣờng Đại học Luật Hà Nội năm 2014. Đặc biệt, năm 2016, Bộ Tƣ pháp đã tiến
hành thực Dự án Điều tra cơ bản: Thực trạng thi hành pháp luật an toàn thực phẩm
và vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đảm bảo thi hành, đây là hoạt
động điều tra cơ bản, mang tính toàn diện từ góc nhìn đa chiều để có đƣợc những
thông số chính xác từ thực tiễn thi hành pháp luật an toàn thực phẩm. Qua đó, làm
rõ đƣợc những ƣu điểm, hạn chế, vƣớng mắc trong pháp luật và tổ chức thực thi
pháp luật về an toàn thực phẩm.
Ngoài ra, có rất nhiều bài viết trên Tạp chí liên quan tới vấn đề này, đó là:
Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm của tác giả
Nguyễn Văn Hùng trên Tạp chí Quản lý nhà nƣớc Số 10/2009; Hoàn thiện pháp
luật về vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại của tác giả Đặng
Công Hiến trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Số 17/2013; Chất lượng công tác
quản lý an toàn thực phẩm - nhiệm vụ trọng tâm và cấp thiết của tác giả Nguyễn
Thị Thu Hằng, Tạp chí Quản lý nhà nƣớc Số 9/2014; Hoàn thiện cơ chế phối hợp
quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của
Mục tiêu nghiên cứu: Luận văn tập trung làm rõ tình hình thi hành pháp luật
về an toàn thực phẩm trong việc bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng. Từ đó, đề xuất
những phƣơng hƣớng, một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về an toàn thực phẩm ở nƣớc ta trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu trên đây, luận văn có
các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về thực phẩm, an toàn thực phẩm và
các nội dung cơ bản của pháp luật an toàn thực phẩm.
- Nghiên cứu, phân tích các yếu tố ảnh hƣởng tới việc thi hành pháp luật an
toàn thực phẩm, qua đó đánh giá thực trạng thi hành pháp luật an toàn thực phẩm
trong việc bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất những phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật và đƣa ra một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật an toàn thực phẩm trên cơ sở tham
khảo pháp luật của một số nƣớc trên thế giới.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra của đề tài, luận văn sử dụng phƣơng pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh và các quan điểm, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc ta trong điều kiện đổi
mới và hội nhập quốc tế hiện nay.
Ngoài ra, nhằm đảm bảo nội dung đƣợc logic, khoa học giữa các vấn đề, luận
văn còn kết hợp sử dụng một số phƣơng pháp cụ thể nhƣ:
- Phƣơng pháp tổng hợp: đƣợc sử dụng để khái quát các quy định của pháp
luật về an toàn thực phẩm trong việc bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng;
- Phƣơng pháp phân tích: đƣợc áp dụng trong việc xây dựng các luận điểm
trong từng nội dung của luận văn;
5
- Phƣơng pháp thống kê: đƣợc áp dụng trong quá trình phân tích thực trạng
pháp luật về an toàn thực phẩm trong việc bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng ở Việt
Nam
6
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG
1.1. Khái quát về thực phẩm và an toàn thực phẩm đối với ngƣời tiêu
dùng
1.1.1. Khái niệm thực phẩm
Thực phẩm là nguồn cung cấp chất dinh dƣỡng cần thiết cho sự tồn tại và phát
triển của con ngƣời. Sức khỏe, sự thịnh vƣợng của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi
cộng đồng và mỗi quốc gia có liên quan mật thiết tới số lƣợng và chất lƣợng thực
phẩm mà cá nhân, gia đình, cộng đồng và quốc gia đó tiêu thụ.
Theo Pháp lệnh thực phẩm năm 1971 (Điều 1) của Thụy Điển, thực phẩm
đƣợc hiểu là “thức ăn, đồ uống, chất kích thích hoặc các sản phẩm khác với mục
đích để con người sử dụng loại trừ các sản phẩm được quy định trong Pháp lệnh
dược phẩm”. Tƣơng tự, Điều 4 Pháp lệnh thực phẩm năm 1963 của Thái Lan quy
định: “Thực phẩm là những thứ có thể ăn được và những thứ duy trì sự sống:
(1) Chất không kể hình dạng có thể ăn, uống, ngậm hoặc đưa vào cơ thể qua
đường miệng hoặc đường khác, nhưng không bao gồm thuốc, các chất an thần, gây
nghiện;
(2) Chất có ý định sử dụng hoặc sử dụng như thành phần trong sản xuất thực
phẩm bao gồm phụ gia thực phẩm, chất tạo màu hay chất tạo mùi”.
Khái niệm về thực phẩm ở nƣớc ta xuất hiện lần đầu tiên trong Quyết định số
4196/1999/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 29/12/1999 về việc ban hành “Quy định về
chất lƣợng vệ sinh ATTP”. Theo đó: “Thực phẩm là những đồ ăn, uống của con
người ở dạng tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến bao gồm cả đồ uống, nhai,
sẵn sàng để bán trực tiếp cho mục đích chế biến tiếp hoặc sử dụng để ăn ngay
(Khoản 27 Điều 2). Ngày nay với tốc độ phát triển ngày càng nhanh của xã hội thì
đây là một trong những loại thực phẩm phù hợp với những ngƣời có công việc bận
rộn hay ít có quỹ thời gian rảnh, có rất nhiều loại thực phẩm bao gói sẵn, có thứ có
thể ăn ngay đƣợc hoặc có loại phải qua chế biến nhƣng phần lớn nếu sử dụng chúng
sẽ tiết kiệm đƣợc nhiều thời gian mà vẫn đảm bảo đƣợc chất dinh dƣỡng.
- Thức ăn đường phố là thực phẩm đƣợc chế biến dùng để ăn, uống ngay,
trong thực tế đƣợc thực hiện thông qua hình thức bán rong, bày bán trên đƣờng phố,
nơi công cộng hoặc những nơi tƣơng tự (Khoản 26 Điều 2). Có thể chia thức ăn
đƣờng phố làm 3 loại: bán trong cửa hàng cố định, bán trên hè phố và bán rong.
Hiện nay, cả 3 loại hình này đang phát triển mạnh nhất là các cửa hàng ăn uống cố
định mọc lên ở khắp nơi, việc phát triển các loại hình thức ăn đƣờng phố trên là một
nhu cầu tất yếu của cuộc sống, của xã hội, với việc đem lại nhiều thuận tiện cho
NTD.
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, dân trí ngày một nâng cao, thì nhu cầu
bảo vệ sức khỏe ngƣời dân từ đó cũng gia tăng. Ngày càng có nhiều NTD lựa chọn
sử dụng các loại thực phẩm đƣợc sản xuất nhờ ứng dụng công nghệ thực phẩm bên
cạnh việc ăn uống thực phẩm tƣơi sống hàng ngày. Bởi ngoài bổ sung các chất dinh
dƣỡng, chúng còn có tác dụng giúp hỗ trợ chức năng các bộ phận trong cơ thể, nâng
cao sức đề kháng, giảm bớt các nguy cơ bệnh tật… Do đó, nhiều loại thực phẩm
8
mới đƣợc sản xuất và cung ứng cho NTD, có thể kể đến nhƣ các loại thực phẩm
chức năng, thực phẩm tăng cƣờng vi chất dinh dƣỡng, thực phẩm biến đổi gen, thực
phẩm đã qua chiếu xạ. Các khái niệm này đƣợc quy định trong Luật ATTP năm
2010. Cụ thể:
- Thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng là thực phẩm đƣợc bổ sung
vitamin, chất khoáng, chất vi lƣợng nhằm phòng ngừa, khắc phục sự thiếu hụt các
thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng”3.
Ở Việt Nam, khái niệm này đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật ATTP
2010, theo đó: “ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe,
tính mạng con người”. Đồng thời, Chỉ thị số 06/2007/CT-TTg ngày 28/03/2007 của
Thủ tƣớng Chính Phủ về việc triển khai các biện pháp cấp bách bảo đảm vệ sinh
ATTP khẳng định: “…ATTP có tác động trực tiếp thường xuyên đến sức khoẻ của
mỗi người dân, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã
hội, về lâu dài còn ảnh hưởng đến phát triển nòi giống dân tộc”.
Nhận thức rõ ATTP là một trong những điều kiện thiết yếu để con ngƣời duy
trì cuộc sống lành mạnh nhƣng bảo đảm ATTP không hề là công việc dễ dàng. Hiện
nay, thực trạng ATTP vẫn còn nhiều bức xúc nhƣ: chƣa kiểm soát và ngăn chặn triệt
để tình trạng một số nơi rau quả bị ô nhiễm hoá chất độc hại; thịt gia súc, gia cầm,
thuỷ sản của một số cơ sở sản xuất còn dƣ lƣợng kháng sinh, hóc môn; việc sử dụng
các hoá chất, phụ gia không đúng quy định trong chế biến, bảo quản thực phẩm;
việc kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống tại các chợ, đƣờng phố, khu du lịch,
lễ hội, trƣờng học, bệnh viện chƣa đƣợc quản lý tốt, ngộ độc thực phẩm tại các bếp
ăn tập thể, các khu công nghiệp vẫn xảy ra làm ảnh hƣởng tới sức khoẻ của nhân
dân và ảnh hƣởng tới phát triển kinh tế, du lịch, văn minh đô thị. Tình trạng thực
phẩm bẩn, thực phẩm giả, kém chất lƣợng, thực phẩm nhập lậu qua biên giới chƣa
đƣợc kiểm soát chặt chẽ; các vi phạm pháp luật chƣa đƣợc xử lý kịp thời, nghiêm
minh4. Do vậy, nhận thức rõ tầm quan trọng của ATTP đối với cuộc sống của mỗi
ngƣời dân cũng nhƣ lợi ích chung của quốc gia, công tác bảo đảm ATTP đƣợc nhà
nƣớc ta rất quan tâm cả về phƣơng diện pháp luật, công cụ quản lý ATTP và công
tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của NTD và cả cộng đồng.
1.1.4. Khái niệm người tiêu dùng, vai trò của thực phẩm và an toàn thực
phẩm đối với người tiêu dùng
1.1.4.1. Khái niệm người tiêu dùng
NTD là khái niệm rộng đƣợc hiểu dƣới nhiều góc độ khác nhau:
3
trên thế giới đang phải gánh chịu không chỉ đến từ thực phẩm bẩn, nhiễm khuẩn
sinh – hóa học, mà còn đi sâu đi xa hơn thế: từ thành phần dinh dƣỡng không an
toàn do sử dụng các chất gây dị ứng, ung thƣ, kháng sinh hay các chất kích thích
tăng trƣởng; đến lƣợng đƣờng, muối, chất béo bão hòa… trong thực phẩm quá cao;
hay vấn đề sản xuất thực phẩm bền vững7. Do vậy, việc đảm bảo ATTP là vấn đề
cấp thiết cần đƣợc các quốc gia trên thế giới đặt lên hàng đầu.
Cần phải nhấn mạnh rằng, không có thực phẩm nào đƣợc coi là có giá trị dinh
dƣỡng nếu không đƣợc đảm bảo vệ sinh. Về lâu dài thực phẩm không những có tác
động thƣờng xuyên đối với sức khỏe mỗi con ngƣời mà còn ảnh hƣởng đến nòi
5
Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nxb. Công an nhân
dân, Hà Nội, tr. 7
6
Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nxb. Công an nhân
dân, Hà Nội, tr. 8
7
Người tiêu dùng, tiêu chuẩn và an toàn thực phẩm tại Việt Nam, Nguồn: http://vinastas.org/bai-viet/nguoitieu-dung-tieu-chuan-va-an-toan-thuc-pham-tai-viet-nam-ntd473.aspx, ngày truy cập 25/05/2017
11
giống của dân tộc. Việc tiêu dùng thực phẩm mất an toàn có thể gây hại rất lớn cho
các cá nhân, các gia đình và cho cộng đồng. Không phải ngẫu nhiên mà dân gian đã
tổng kết “bệnh từ miệng mà vào”.
Vấn đề ATTP còn liên quan chặt chẽ đến tình hình phát triển kinh tế, an sinh
xã hội, là gánh nặng lớn cho chi phí chăm sóc sức khỏe cộng đồng của mỗi quốc gia
và phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu8. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ƣớc
tính các bệnh tiêu chảy liên quan đến thực phẩm và nƣớc uống giết chết 2,2 triệu
ngƣời mỗi năm, trong đó có 1,9 triệu trẻ em9. Ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y
12
thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Sự thành bại của doanh nghiệp phụ
thuộc chủ yếu vào việc NTD có mua những sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp
đó hay không. Trong trƣờng hợp sản phẩm hàng hóa không đƣợc NTD lựa chọn sử
dụng, doanh nghiệp sẽ không bán đƣợc hàng hóa và sẽ dẫn đến phá sản11. Do đó,
việc bảo đảm ATTP nhằm bảo vệ quyền lợi NTD xuất phát từ chính vai trò của họ
trong nền kinh tế.
Để phát triển kinh tế bền vững, bất kì quốc gia nào cũng đều phải quan tâm
bảo vệ các thành tố thị trƣờng mà NTD là chủ thể trung tâm. Bên cạnh những hỗ trợ
mang tính kĩ thuật nhƣ hƣớng dẫn, đào tạo, tuyên truyền, cần thiết có một công cụ
mạnh hơn đó là chính sách bảo vệ quyền lợi NTD để đảm bảo cho NTD có thể dựa
vào đó để tự mình bảo vệ hoặc nhờ ngƣời khác bảo vệ trƣớc những vi phạm, lạm
dụng của các doanh nghiệp.
1.1.5.2. Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thực phẩm
Giống nhƣ tổ chức, cá nhân SXKD hàng hóa, dịch vụ nói chung, tổ chức, cá
nhân SXKD thực phẩm có thể là thƣơng nhân theo quy định của Luật thƣơng mại,
cũng có thể là cá nhân hoạt động thƣơng mại một cách độc lập, thƣờng xuyên,
không phải đăng ký kinh doanh12. Đây là những chủ thể tham gia trực tiếp vào quá
trình SXKD và cung ứng sản phẩm thực phẩm ra thị trƣờng, có mối quan hệ tác
động qua lại với NTD và chịu sự điều chỉnh của pháp luật ATTP. Những chủ thể
này có thể tham gia một hoặc nhiều công đoạn của quá trình sản xuất, chế biến, bảo
quản, vận chuyển, phân phối hàng hóa, sản phẩm… với mục đích lợi nhuận.
Vấn đề đảm bảo ATTP là một trong những trách nhiệm chính của các tổ chức,
cá nhân SXKD thực phẩm. Việc đảm bảo ATTP không chỉ thể hiện trách nhiệm của
tổ chức, cá nhân đối với sản phẩm do mình cung cấp ra thị trƣờng cho NTD mà còn
là trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững về kinh tế, thƣơng mại, văn hóa, xã
hội và an ninh chính trị của mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia.
1.1.5.3. Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về chất lƣợng, VSATTP đối với các sản
phẩm đã thành thực phẩm có nguồn gốc sản xuất trong nƣớc và nhập khẩu lƣu
thông trên thị trƣờng trong phạm vi cả nƣớc.
- Bộ Công thƣơng: thực hiện hoạt động quản lý ATTP trong suốt quá trình
sản xuất, chế biến, xuất – nhập khẩu, kinh doanh đối với một số loại thực phẩm cụ
thể nhƣ: rƣợu, bia, nƣớc giải khát, sữa chế biến, dầu thực vật, sản phẩm chế biến bột
và tinh bột và các thực phẩm khác… Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ Công thƣơng
đang có các cơ quan có liên quan trực tiếp tới hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD bao
gồm: Cục Quản lý cạnh tranh, Cục Quản lý thị trƣờng, Vụ khoa học và công nghệ.
- Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn: có vai trò quản lý ATTP đối với
đối với sản xuất ban đầu nông – lâm – thủy sản theo quy định của Chính phủ. Do
tính chất đa ngành, để bao quát toàn bộ quá trình sản xuất nông – lâm – thủy sản,
công tác quản lý chất lƣợng, VSATTP nông – lâm – thủy sản hiện nay đƣợc phân
công cho nhiều đơn vị thuộc Bộ thực hiện: Cục Trồng trọt, Cục Bảo vệ thực vật,
Cục Quản lý chất lƣợng nông – lâm – thủy sản.
13
Khoản 1 Điều 61 Luật ATTP 2010
Khoản 2 Điều 61 Luật ATTP 2010
15
TS. Nguyễn Thị Vân Anh – TS. Nguyễn Văn Cƣơng, Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tr.
85
14
14
- UBND các cấp: là cơ quan quản lý nhà nƣớc về ATTP trong phạm vi địa
phƣơng do mình quản lý. Thực hiện công tác bảo đảm ATTP đối với cơ sở sản xuất,
kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thức ăn đƣờng phố, cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn
Bộ Công Thƣơng (2010), Dự án MUTRAP III, Bộ tài liệu giới thiệu Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng, Quyển 6.
17
15
- Khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đổi mới công
nghệ, mở rộng quy mô sản xuất; sản xuất thực phẩm chất lƣợng cao, bảo đảm an
toàn;
- Mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh ký kết điều ƣớc, thoả thuận quốc tế về
công nhận, thừa nhận lẫn nhau trong lĩnh vực thực phẩm;
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho hội, hiệp hội, tổ chức, cá nhân trong nƣớc,
tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài đầu tƣ, tham gia vào các hoạt động xây dựng tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, kiểm nghiệm ATTP;
- Tăng cƣờng tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức ngƣời dân về tiêu
dùng thực phẩm an toàn, ý thức trách nhiệm và đạo đức kinh doanh của tổ chức, cá
nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng.
Thứ hai, pháp luật ATTP:
Pháp luật là những quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động do Nhà nƣớc ban hành theo trình tự, thủ tục luật định nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nƣớc.
Với nhận thức về vai trò quan trọng của pháp luật nhƣ một công cụ quản lý
hiệu quả, Nhà nƣớc đã xây dựng một hệ thống văn bản pháp luật phục vụ cho công
tác quản lý; gồm các lĩnh vực nhƣ an toàn sức khoẻ cộng đồng, quy định về kiểm
dịch động thực vật, hệ thống quy định về SXKD, xuất khẩu – nhập khẩu thực phẩm.
Luật ATTP 2010 là cở sở cho các chủ thể SXKD thực phẩm hoạt động, đồng thời là
khung pháp lý để Nhà nƣớc tiến hành hoạt động quản lý ATTP. Bên cạnh đó, nhiều
văn bản pháp luật có liên quan đến công tác kiểm soát VSATTP cũng đã đƣợc ban
hành nhƣ: Luật Tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lƣợng sản phẩm hàng
Nam
Pháp luật về ATTP là lĩnh vực pháp luật mang tính chuyên ngành điều chỉnh
hành vi của các chủ thể có liên quan trong chuỗi dịch chuyển của thực phẩm từ
công đoạn sản xuất, chế biến, bao gói, lƣu trữ, bảo quản, vận chuyển, phân phối,
cung ứng đến tiêu thụ của NTD18. Để có thực phẩm an toàn, các tổ chức, cá nhân
SXKD thực phẩm thực hiện chuỗi cung ứng bao gồm: trồng trọt/chăn nuôi, thu
hái/đánh bắt/khai thác, sơ chế/chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển, giới thiệu,
buôn bán thực phẩm19. Đây cũng chính là chuỗi hành vi mà pháp luật ATTP hƣớng
tới để điều chỉnh, kiểm soát nhằm đảm bảo sự an toàn của thực phẩm khi đến tay
NTD. Do đó, việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật quy định về ATTP
luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc chú trọng, tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý.
Lƣợc sử pháp luật ATTP ở Việt Nam có thể chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn
trƣớc khi ban hành Luật ATTP 2010 và giai đoạn từ khi ban hành Luật ATTP 2010
cho đến nay.
1.2.1.1. Giai đoạn trước khi ban hành Luật An toàn thực phẩm 2010
18
Bộ Tƣ pháp (2016), Dự án điều tra cơ bản, Thực trạng thi hành pháp Luật ATTPvà vai trò của các cơ quan
bảo vệ pháp luật trong việc đảm bảo thi hành, Hà Nội, 2016, tr. 23
19
Bộ Tƣ pháp (2016), Dự án điều tra cơ bản, Thực trạng thi hành pháp Luật ATTPvà vai trò của các cơ quan
bảo vệ pháp luật trong việc đảm bảo thi hành, Hà Nội, 2016, tr. 18
17
(i)
Từ năm 1985 đến năm 2003
20
21
Điều 7 Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989
Điều 1 Điều lệ vệ sinh 1991