Nghiên cứu trách nhiệm xã hội của một số doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tại Hà Nội - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================
TẠ TRANG NHUNG
NGHIÊN CỨU TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA MỘT
SỐ DOANH NGHIỆP KINH DOANH LỮ HÀNH
TẠI HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN ĐỨC THANH

Hà Nội - 2014

1
MỤC LỤC

DANH MỤC SƠ ĐỒ 4
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 4
CHÚ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 24
4. Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1. Thực trạng chung 72
2.3.2. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietinbank Travel 75
2.3.3. Thực trạng tại Công ty Dịch vụ lữ hành Saigon Tourist 77
2.3.4. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietnam Today Travel 79
2.3.5. Thực trạng tại Công ty du lịch Sun Travel 80
2.4. Thực trạng trách nhiệm xã hội với khách hàng 82
2.4.1. Thực trạng chung 82
2.4.2. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietinbank Travel 85
2.4.3. Thực trạng tại Công ty Dịch vụ lữ hành Saigon Tourist 87
2.4.4. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietnam Today Travel 89
2.4.5. Thực trạng tại Công ty du lịch Sun Travel 91
2.5. Thực trạng trách nhiệm xã hội với môi trường 93
2.6. Thực trạng trách nhiệm xã hội với cộng đồng 101
2.6.1. Thực trạng chung 101
2.6.2. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietinbank Travel 105
2.6.3. Thực trạng tại Công ty dịch vụ lữ hành Saigon Tourist 106

3
2.6.4. Thực trạng tại Công ty du lịch Vietnam Today Travel 107
2.6.5. Thực trạng tại Công ty du lịch Sun Travel 108
Tiểu kết chương 2 109
CHƢƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƢỜNG TRÁCH
NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH TẠI HÀ NỘI 111
3.1. Nhận xét chung và căn cứ đề xuất giải pháp 111
3.2. Giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội trong quản lý nội bộ 118
3.3. Giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội với đối tác 122
3.4. Giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội với khách hàng 125
3.5. Giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội với môi trường 128
3.6. Giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội với cộng đồng 130
Tiểu kết chương 3 133

và nhân viên của Vietinbank travel 63
Biểu đồ 5 : Biểu đồ minh họa về đánh giá trách nhiệm xã hội đối với nhân
viên của lãnh đạo và nhân viên Vietnam Today Travel 69
Biểu đồ 6 : Biểu đồ so sánh đánh giá của lãnh đạo và nhân viên về việc thực
hiện cam kết với đối tác của doanh nghiệp 73
Biểu đồ 7 : Biểu đồ minh họa tần suất trung bình về việc kiểm tra chất lượng
dịch vụ thực tế của đối tác cung ứng dịch vụ của lãnh đạo Doanh nghiệp 74
Biểu đồ 8 : Biểu đồ minh họa đánh giá của lãnh đạo / nhân viên / khách hàng
về chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp lữ hành. 85
Biểu đồ 9 : Biểu đồ minh họa tổng hợp ý kiến của lãnh đạo/nhân viên/khách
hàng của 4 doanh nghiệp về việc thực hiện hướng dẫn cho du khách về việc
bảo vệ môi trường tự nhiên trước chuyến du lịch của doanh nghiệp. 95

5
Biểu đồ 10 : Biểu đồ minh họa đánh giá của nhân viên 4 doanh nghiệp về
việc thực hiện hướng dẫn giữ gìn, bảo vệ môi trường của doanh nghiệp dành
cho nhân viên và đối tác. 97
Biểu đồ 11 : Biểu đồ minh họa mức chi trung bình cho việc tham gia bảo vệ
môi trường tự nhiên của doanh nghiệp trong 1 năm 100
Biểu đồ 12 : Biểu đồ minh họa tổng hợp ý kiến của lãnh đạo và nhân viên 4
doanh nghiệp về việc sử dụng lao động và sản phẩm địa phương 104


7
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
“Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” (TNXH) là một khái niệm ra
đời từ những năm đầu của thập kỷ 50. Tuy là một vấn đề tương đối mới
nhưng TNXH ngày càng được quan tâm rộng rãi trên thế giới và cả tại Việt
Nam. Việc thực hiện TNXH đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư một nguồn vốn
nhất định song trước đòi hỏi của xã hội việc thực thi TNXH đã dần trở thành
yêu cầu không thể bỏ qua của mỗi doanh nghiệp. Bên cạnh chất lượng sản
phẩm là một yêu cầu tiên quyết, uy tín và vị thế của doanh nghiệp còn phụ
thuộc vào việc thực thi TNXH của doanh nghiệp đối với cộng đồng, nhân
viên, khách hàng và đối tác của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp du lịch lữ
hành cũng không nằm ngoài quy luật đó nhất là trong thực tế du lịch lại là
ngành dịch vụ mang tính xã hội cao. Việc kinh doanh của các doanh nghiệp lữ
hành không mang tính tách biệt mà có tác động đáng kể tới một số lượng lao
động và công việc của các ngành nghề khác.
Hà Nội là trung tâm kinh tế văn hóa xã hội của cả nước, đồng thời cũng
là điểm du lịch không thể bỏ qua khi đến với Việt Nam. Số lượng các doanh
nghiệp lữ hành tập trung tại Hà Nội khá lớn với nhiều quy mô và loại hình

các chính sách, ra các quyết định hoặc làm theo những chuỗi hành động cần
thiết cho các mục tiêu và giá trị của xã hội”[9, tr. 50]
Các tác giả Keith Davis và Joseph McGuire có cùng quan điểm về
TNXH khi cho rằng :“TNXH là những quyết định và hành động của doanh
nhân được đưa ra có ít nhất một phần lý do ngoài lợi ích kinh tế và kỹ thuật

9
của doanh nghiệp” [14, tr. 72] và”Ý tưởng của TNXH đề xuất rằng doanh
nghiệp không chỉ có nghĩa vụ về kinh tế và pháp luật mà còn phải có những
trách nhiệm với xã hội vượt ngoài những nghĩa vụ đó” [32, tr. 15]
Tuy nhiên hai tác giả Theodore Levitt và Milton Friedman lại có những
ý kiến tiêu cực về TNXH khi họ không ủng hộ xu hướng này khi cho rằng
doanh nghiệp không cần phải bắt buộc có trách nhiệm với xã hôi. Năm 1958,
Theodore Levitt cho rằng :“mối quan tâm về xã hội và phúc lợi chung không
phải là trách nhiệm của doanh nghiệp mà là chính quyền, và công việc của
doanh nghiệp là quan tâm đến những khía cạnh vật chất nhiều hơn phúc lợi”
[30, tr. 45]. Ông e ngại rằng sự chú ý đến trách nhiệm xã hội sẽ làm giảm
động cơ lợi nhuận điều rất cần thiết cho sự thành công kinh doanh. Tác giả
Friedman (1970) đưa ra ý kiến của ông :”Chỉ có một và chỉ một TNXH của
doanh nhân – đó là sử dụng nguồn lực của họ và tham gia vào các hoạt động
được thiết kế để gia tăng lợi nhuận miễn là vẫn nằm trong khuôn khổ các quy
tắc của luật chơi, điều mà được nói rằng, tham gia vào cuộc cạnh tranh mở
và tự do không có sự gian lận và lừa gạt”[21, tr. 126]. Kết luận của Friedman
gây ra nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu về TNXH thời kỳ những năm
1970.
Trong khi đó, hai tác giả Eells và Walton (1974) lại đưa ra một định
nghĩa về TNXH hoàn toàn khác với Friedman khi hai ông cho rằng doanh
nghiệp cần phải có sự quan tâm tới việc hỗ trợ và cải thiện phúc lợi xã hội:
“Theo nghĩa rộng nhất, TNXH đại điện cho mối quan tâm tới nhu cầu và mục
tiêu của xã hội mà vượt ngoài lợi ích kinh tế đơn thuần. Trong phạm vi các hệ

trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”[33, tr. 58]

11
Các định nghĩa dưới đây có nét tương đồng khi đề cập đến trách nhiệm
của doanh nghiệp với đối tác, các bên liên quan với doanh nghiệp trong khái
niệm TNXH. Năm 2001, Ủy ban Châu Âu (EU Commission) đã xác định
TNXH là : "Một khái niệm theo đó các doanh nghiệp tích hợp vấn đề xã hội
và môi trường trong hoạt động kinh doanh của họ và trong sự tương tác của
họ với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện". Học giả Campbell năm 2006
đưa ra cách hiểu của ông về TNXH : “Tôi coi doanh nghiệp đang thực hiện
những hành động trách nhiệm khi họ làm hai điều. Thứ nhất, họ không làm
điều gì gây tổn hại đến các bên liên quan. Thứ hai, nếu họ làm hại các bên
liên quan, sau đó họ phải khắc phục nó bất cứ khi nào nó được phát hiện và
chú ý những vấn đề đó” [37, tr. 14]. Đồng quan điểm, hai nhà nghiên cứu
Basu and Palazzo (2008) cho rằng :“Chúng ta có thể định nghĩa TNXH như là
một quá trình mà các nhà quản lý và các doanh nghiệp nghĩ và thảo luận về
mối quan hệ với các bên liên quan cũng như vai trò của họ trong mối quan hệ
đến sản phẩm chung, cùng với định hướng hành vi với sự tôn trọng cho việc
thỏa mãn và đạt được những vai trò và mối quan hệ đó” [31, tr. 150]
Gần đây nhất, tại hội thảo tháng 10 năm 2011 về vấn đề Đổi mới chiến
lược EU giai đoạn 2011-2014 về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp , Ủy ban
Châu Âu đã đưa ra thêm một định nghĩa mới về TNXH. Theo định nghĩa mới
này của họ : “TNXH là trách nhiệm của doanh nghiệp với những tác động
của họ đối với xã hội” [Website : Tôn
trọng luật pháp và thoả ước tập thể giữa các đối tác xã hội, là một điều kiện
tiên quyết để đáp ứng các trách nhiệm đó. Để đáp ứng đầy đủ TNXH, doanh
nghiệp cần có ở một quá trình hội nhập xã hội, về môi trường, đạo đức, nhân
quyền và sự quan tâm đến người tiêu dùng vào hoạt động kinh doanh và chiến
lược cốt lõi trong hợp tác chặt chẽ với các bên liên quan của họ .


bảo vệ môi trường. Một phân tích sau đó của Patrick Murphy cho rằng những
năm 1960 và đầu những năm 1970 là thời đại" nâng cao nhận thức” và “phổ
biến” của TNXH. Đây là giai đoạn đánh dấu việc thay đổi ý thức xã hội và
công nhận trách nhiệm chung, sự tham gia của cộng đồng trong các vấn đề xã
hội, mối quan tâm về các đô thị bị tàn phá, xóa bỏ phân biệt chủng tộc, giảm
thiểu ô nhiễm và thời kỳ tiếp tục diễn ra các hoạt động từ thiện trong đó tập
trung vào đóng góp từ thiện của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp bắt đầu
ý thức được kỳ vọng của xã hội và doanh nghiệp đã đi sâu hơn vào những
hoạt động xã hội. Tuy nhiên hoạt động TNXH của doanh nghiệp thời kỳ này
chưa thực sự mạnh mẽ mà mới dừng ở mức độ “dè chừng” từng bước một.
Ngoài các hoạt động từ thiện với cộng đồng, chủ thể được đề cập đến trong
khái niệm TNXH trong giai đoạn này đã bao gồm cả những hoạt động liên
quan đến nhân quyền, bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội…Một đặc tính
của TNXH trong những năm 1960 là không có bất kỳ sự liên kết nào giữa
trách nhiệm xã hội với hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Đây cũng chính
là điểm khác biệt cơ bản của khái niệm TNXH so với cách hiểu về TNXH
ngày nay.
Cho đến những năm 70 có thêm nhiều hơn các cuộc tranh luận về trách
nhiệm của doanh nghiệp với quyền lợi của người lao động, do trong thời kỳ
này chính phủ đã phải chịu quá nhiều trách nhiệm cho các khoản phúc lợi xã
hội và cơ sở vật chất. Chủ đề đạo đức trong kinh doanh ngày càng có vai trò
quan trọng trong những năm 70. TNXH giai đoạn này đã nâng lên một tầm
cao mới đó là việc đòi hỏi các doanh nghiệp phải cần có trách nhiệm với cộng
đồng xã hội ngoài mục đích lợi nhuận kinh tế và ngoài nghĩa vụ tuân thủ pháp
luật thông thường. Tính trách nhiệm với cộng đồng trở thành một tính chất
quan trọng trong bản thân khái niệm TNXH. Tuy nhiên, vào thập niên 70 này,

14
doanh nghiệp vẫn chưa thực sự chủ động thực hiện các vai trò xã hội của
mình do sức ép từ cộng đồng chưa thực sự đủ lớn để làm thay đổi hoàn toàn

hưởng đến TNXH, mặc dù TNXH tiếp tục hành trình trở thành một khái niệm
có tính hợp pháp doanh nghiệp, nhưng sự xuất hiện và sự lo lắng về đạo đức
kinh doanh đã phần nào hạn chế sự tiếp tục tăng trưởng và phát triển của chủ
đề trách nhiệm xã hội. Tuy nhiên những tiến bộ đáng kể vẫn đã được thực
hiện , đặc biệt là ở Anh và lục địa châu Âu [33, tr. 60]. Cho đến đầu những
năm 2000, phát triển bền vững trở thành một phần không thể thiếu của tất cả
các cuộc thảo luận về TNXH. Đồng thời với đó, TNXH trong giai đoạn những
năm 2000 có một bước phát triển trong nội hàm, bên cạnh các vấn đề về môi
trường, cộng đồng xã hội, phát triển bền vững… khái niệm TNXH trong giai
đoạn này còn quan tâm đề cập đến một nhân tố rất quan trọng, đó chính là
trách nhiệm của doanh nghiệp với đối tác, những bên liên quan trong hoạt
động của họ. Việc thực hiện trách nhiệm với các đối tác liên quan đến hoạt
động của doanh nghiệp đảm bảo lợi ích lâu dài cho cả hai bên và xã hội nói
chung.
Trong quãng thời gian đầu xuất hiện, TNXH được thực hiện thông
qua thành ý cá nhân của những người chủ, người quản lý doanh nghiệp muốn
làm những việc tốt cho xã hội, thể hiện qua các hành động từ thiện đóng góp
cho cộng đồng của cá nhân họ và doanh nghiệp của họ. Đây là hoàn toàn là
việc làm mang tính cá nhân chứ chưa chịu nhiều tác động từ ngoại cảnh và
sức ép xã hội. Doanh nhân và doanh nghiệp làm từ thiện một cách tự nguyện
và không trông mong vào những lợi ích trở lại dành cho doanh nghiệp.

16
Thập niên 60 và thập niên 70 của thế kỷ 20, do sức ép của các phong
trào xã hội về nhân quyền, bảo vệ môi trường tự nhiên và đòi hỏi từ phía
chính quyền về trách nhiệm của doanh nghiệp…các doanh nghiệp dần nhận
thấy sự kỳ vọng của xã hội dành cho mình và đã có những động thái tham gia
vào các hoạt động TNXH. Việc mở rộng các nội dung hoạt động trong khái
niệm TNXH trong thời kỳ này cũng là một cơ hội để các doanh nghiệp có thể
phát huy nhiều hơn vai trò của mình trên các phương diện xã hội. Thời kỳ này

tương lai mà doanh nghiệp nào cũng muốn theo đuổi.
Bước sang thế kỷ 21, thời kỳ cạnh tranh ngày càng khó khăn, việc xây
dựng hình ảnh đẹp trong mắt công chúng càng quan trọng và TNXH trở thành
một công cụ cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp
giờ đây thực hiện TNXH không những vì xã hội nói chung mà còn vì chính
doanh nghiệp của họ. Việc phá sản của tập đoàn năng lương khổng lồ Enron
của Mỹ là báo hiệu cho cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài từ năm 2008 cho
đến nay, phần nào làm cho công chúng mất lòng tin vào hệ thống doanh
nghiệp. Chính vì vậy việc minh bạch tài chính kinh doanh, xây dựng một
chính sách nội bộ tốt, quan hệ tốt với các đối tác kinh doanh và thực hiện các
hoạt động đóng góp cho cộng đồng xã hội…là một việc làm thiết thực của
doanh nghiệp trong bối cảnh hiện tại. Thực hiện tốt TNXH một cách toàn
diện là doanh nghiệp đã gây dựng cho bản thân doanh nghiệp một hình ảnh,
một tương lai vững chắc và đóng góp cho xã hội những giá trị tích cực
Giai đoạn trước và những năm 50 của thế kỷ 20 nhìn chung chưa có
nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến TNXH, phần lớn các nghiên cứu
trong giai đoạn này đề cập đến đạo đức trong kinh doanh – yếu tố bắt nguồn
của TNXH. Tác phẩm nổi bật về THXH trong thời kỳ này là cuốn sách của
tác giả Bowen “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” ra đời năm 1953. Cuối

18
năm 1958, tác giả Theodore Levitt khép lại thập niên 1950 bằng một bài báo
cảnh báo thế giới kinh doanh về sự nguy hiểm của trách nhiệm xã hội. Levitt
e ngại rằng sự chú ý đến trách nhiệm xã hội sẽ làm giảm động cơ lợi nhuận
điều rất cần thiết cho sự thành công kinh doanh. Nhưng bất chấp cảnh báo của
Levitt, TNXH vẫn phát triển phổ biến và hình thành trong những năm 1960.
Giai đoạn chuyển tiếp từ những năm 1960 chuyển vào những năm 1970
,các doanh nghiệp trong thời điểm này vẫn chưa có những động thái mạnh mẽ
hơn trong việc thực hiện TNXH nhưng lại có một sự phát triển đáng kể trong
việc nghiên cứu các cơ sở lý luận về TNXH. Chủ đề nổi bật được đề cập đến

xã hội với hoạt động tài chính của doanh nghiệp bùng nổ trong thập kỷ này,
và việc kết hợp chặt chẽ TNXH với các hoạt động tài chính công ty đã trở
thành một việc làm được các nhà nghiên cứu cũng như doanh nghiệp chú
trọng hơn. Thời kỳ này các nhà nghiên cứu cũng quan tâm nhiều hơn đến việc
nghiên cứu các trường hợp điển hình thực hiện TNXH. Xu hướng này tiếp tục
trong những năm 1990 khi TNXH tăng tốc trong việc tiếp cận cộng đồng toàn
cầu .
Thời kỳ những năm 2000, việc nghiên cứu các trường hợp kinh doanh
điển hình áp dụng TNXH trở thành một chủ đề thống trị trong giai đoạn này.
Đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp đang tìm cách hợp lý và hợp pháp hóa
hoạt động TNXH đã bắt đầu và đang tiếp tục. Cho đến đầu những năm 2000,
phát triển bền vững thành một nội dung không thể không đề cập trong các
nghiên cứu về TNXH.
Hiện nay ngoài những nghiên cứu về cơ sở lý luận TNXH, trong thế
giới kinh doanh, đã có một số chứng chỉ và bộ quy tắc ứng xử về TNXH
được quốc tế công nhận. Các tiêu chuẩn TNXHC quan trọng nhất trên thế giới

20
hiện nay là: SA 8000 dành cho nơi làm việc của các nhà máy3, WRAP (Sản
xuất hàng may mặc có Trách nhiệm Toàn cầu), trách nhiệm trong ngành may
mặc và da giầy của Hoa Kỳ, hoặc ISO 14000, hệ thống quản lý môi trường ở
các doanh nghiệp, và OHSAS 1800 đối với an toàn sức khỏe.
Trong lĩnh vực du lịch, có khá nhiều học giả và đặc biệt là các tổ chức
du lịch quan tâm tìm hiểu về vấn đề trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp
du lịch nói chung và doanh nghiệp lữ hành nói riêng, trong đó có Tổ chức Du
lịch Thế giới (WTO), Hội đồng Du lịch Thế giới (WTTC) và Hiệp hội các
Công ty Lữ hành (TOI) là rất quan tâm đến vấn đề này.
Tiêu biểu trong các công trình nghiên cứu về TNXH của doanh nghiệp
không thế không nhắc đến bộ quy tắc đạo đức toàn cầu trong du lịch của Tổ
chức Du lịch Thế giới. Bộ quy tắc này đã được thông qua ngày 01 tháng 10

trách nhiệm xã hội doanh nghiệp năm 2009, Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI) giới hạn trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở hai lĩnh
vực lao động và môi trường, nhưng cũng đặt thêm tiêu chí “hoạt động kinh
doanh có hiệu quả kinh tế”.
Tuy đã có những nghiên cứu về TNXH từ những năm 2000 nhưng có
thể nói những hoạt động thực tiễn đầu tiên về TNXH mới chỉ mới được khởi
xướng tại Việt Nam từ những năm 2007.
Thời kỳ giai đoạn từ 2000 – 2007, chưa có nhiều những nghiên cứu
chuyên sâu về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam. Các
nghiên cứu liên quan đến vấn đề này thường chỉ tồn tại dưới dạng bài viết
đăng tải trên các báo, tạo chí hoặc các website, diễn đàn…chủ yếu giải thích
khái niệm này và nêu lên các ích lợi của việc áp dụng các quy chuẩn TNXH

22
như một công cụ tạo dựng lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế. Các bài viết
nhìn chung chưa đi sâu vào vấn đề, mang tính thảo luận và đánh giá khách
quan từ các chuyên gia nhiều hơn. Đồng thời các nghiên cứu về TNXH của
các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ chủ yếu quan tâm đến các nhóm ngành
công nghiệp như da giày, dệt may - là những nhóm ngành mà hoạt động có
ảnh hưởng nhiều đến môi trường.
Tuy vậy, trong những năm gần đây đã có một sự quan tâm rộng rãi hơn
đến TNXH từ những nhà nghiên cứu và nhà quản lý Việt Nam. Rất nhiều
doanh nghiệp Việt Nam đã nhận thức được và thực hiện TNXH như một
trong những tiêu chí hoạt động quan trọng của doanh nghiệp theo đúng bản
chất của khái niệm này. Báo Vietnam Report đã chọn chủ đề “Trách nhiệm xã
hội - Con đường nào cho doanh nghiệp Việt” cho Báo cáo thường kỳ số 7
năm 2010 của Vietnam Report– Báo cáo được xuất bản định kỳ theo quý của
Công ty cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) dành cho các
doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam. Báo cáo cung cấp các bài viết chuyên sâu
về lĩnh vư

Bình Dương (APRO), tập hợp sự tham gia tự nguyện của các doanh nghiệp
sản xuất, kinh doanh hóa chất thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động trên
lãnh thổ Việt Nam.
Các nghiên cứu về hoạt động TNXH tại Việt Nam đã có nhiều bước
tiến trong thời gian gần đây thông qua một số công trình nghiên cứu và báo
cáo phân tích của một số nhà nghiên cứu và giảng viên, sinh viên các trường
Đại học, tiêu biểu là các bài viết như : “TNXH của doanh nghiêp Việt Nam
và những vấn đề còn bất cập (TS Võ Khắc Thường 2013) ; Báo cáo khoa học
“Phân tích những nhân tố thúc đẩy việc thực hiện TNXH của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Cần Thơ “ (ThS Châu Thị Lệ Duyên, Nguyễn

Trích đoạn nghĩa của việc thực hiện trách nhiệm xã hội Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp lữ hành Trách nhiệm trong quản lý nội bộ Trách nhiệm với đối tác Trách nhiệm với khách hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status