ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN LÊ THỊ NHƢ PHƢƠNG
ĐA DẠNG SINH HỌC CÁ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
KHAI THÁC, SỬ DỤNG HỢP LÝ NGUỒN LỢI CÁ
Ở VÙNG CỬA HỘI, NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
i
MỤC LỤC
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. KHÁI QUÁT VỀ VÙNG CỬA SÔNG 3
1.1.1. Các khái niệm về cửa sông 3
1.1.2. Hệ thống cửa sông – ven biển Việt Nam 4
1.1.3. Đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông – ven biển Việt
Nam 5
1.1.4. Lịch sử nghiên cứu hệ sinh thái cửa sông – ven biển Việt Nam 6
1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI CÁ CỬA SÔNG – VEN
BIỂN VIỆT NAM 10
1.3. THỰC TRẠNG KHAI THÁC, VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI
NGUỒN LỢI CÁ VÙNG CỬA SÔNG – VEN BIỂN VIỆT NAM 15
1.3.1. Thực trạng khai thác 15
1.3.2. Khó khăn và thách thức 17
1.4. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ Ở VÙNG CỬA HỘI, NGHỆ AN 18
CHƢƠNG 2. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TÀI LIỆU 18
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1. ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 19
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu 19
2.1.2. Đối tƣợng nghiên cứu 19
2.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 19
2.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.3.1. Phƣơng pháp kế thừa, tổng hợp 20
iii NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
ĐDSH
Đa dạng sinh học
FAO
Food and Agriculture Organization of the United Nations
(Tổ chức Nông lƣơng Liên hợp quốc)
HST
Hệ sinh thái
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
UBND
Ủy ban nhân dân
KHKT
Khoa học kĩ thuật
KHCN
Khoa học công nghệ
TX
Thị xã
v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1. Ảnh vệ tinh vùng cửa Hội, Nghệ An 19
Hình 2. Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại
cá Vây tia (cá Xƣơng) 24
Hình 3. Các loại vẩy và cách tính vẩy, các kiểu miệng, vị trí các xƣơng hàm và các
kiểu răng dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xƣơng) 25
Hình 4. Các đặc điểm cấu tạo, hình dạng của mang, bóng bơi, tia vây, đuôi và vây
đuôi dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xƣơng) 26
Hình 5. Biểu đồ thể hiện tỉ lệ % số họ trong 9 bộ cá tại cửa Hội 43
Hình 6. Biểu đồ thể hiện tỉ lệ % số loài trong 9 bộ cá tại cửa Hội 43
Hình 7. Biểu đồ thống kê công suất tàu thuyền, sản lƣợng và năng suất đánh bắt của
TX Cửa Lò giai đoạn 2010 – 2013 50 1
MỞ ĐẦU
Việt Nam có bờ biển dài 3260 km với hơn 100 cửa sông lớn nhỏ đổ ra biển
đã tạo nên vùng nƣớc cửa sông rộng lớn, xuất hiện nhiều hệ sinh thái và sinh cảnh
đặc trƣng. Chính điều đó đã tạo nên ĐDSH cao cho vùng cửa sông – ven biển và
đề tài: “Đa dạng sinh học cá và đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý
nguồn lợi cá ở vùng cửa Hội, Nghệ An”, nhằm mục đích:
1. Xác định đƣợc thành phần các loài cá ở khu vực nghiên cứu.
2. Bƣớc đầu tìm hiểu về thực trạng nghề cá trong vùng.
3. Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác và sử dụng bền vững nguồn lợi cá ở
vùng cửa Hội, Nghệ An. 3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. KHÁI QUÁT VỀ VÙNG CỬA SÔNG
vì vậy vùng cửa sông là vùng chuyển tiếp từ chế độ thủy văn sông sang chế độ thủy
văn biển.
1.1.2. Hệ thống cửa sông – ven biển Việt Nam
Vùng cửa sông Việt Nam trải ra dọc bờ biển từ 8
0
30’ đến 21
0
30’ vĩ độ Bắc
và quanh các đảo, tạo nên vùng nƣớc lợ rộng lớn với hàng loạt các hệ thống sông
lớn nhỏ. Hai hệ thống sông lớn nhất nƣớc ta là hệ thống sông Hồng – Thái Bình và
Cửu Long – Đồng Nai. Các hệ thống sông của nƣớc ta phần lớn đổ ra biển Đông
theo hƣớng Tây Bắc, Đông Nam với mật độ khoảng 15 – 20km/cửa sông, trừ một số
sông ở vùng Đông Bắc nhƣ Bằng Giang – Kỳ Cùng, là phụ lƣu của sông Tây Giang
(Trung Quốc) và các sông ở phía Tây Trƣờng Sơn đổ vào sông Mê Kông. Trong
mạng lƣới này, 90% là sông nhỏ, chỉ có 9 hệ thống sông lớn với diện tích lƣu vực
trên 10.000km
2
nhƣ hệ thống sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, sông Hồng, sông Thái
Bình, sông Mã, sông Cả, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai, sông Cửu Long.
76% diện tích lãnh thổ nƣớc ta thuộc các hệ thống sông này [24].
Các hệ thống sông miền Bắc hoạt động theo mùa, liên quan với chế độ mƣa
của toàn lƣu vực. Mùa mƣa của các sông ở Bắc Bộ kéo dài từ tháng 6 – 10, muộn
hơn đối với các sông ở phía Nam. Ở thời kỳ này, lƣợng dòng chảy chiếm 75 – 90%
tổng lƣợng nƣớc và 90% tổng lƣợng bùn cát cả năm, làm cho vùng cửa sông bị ngọt
hóa và mở rộng ra biển hàng chục cây số. Ngƣợc lại, vào mùa kiệt trong những
tháng còn lại, lƣợng dòng chảy thấp, vùng cửa sông bị thu hẹp. Thủy triều còn đƣa
nƣớc biển xâm nhập sâu vào lục địa theo các triền sông.
Các hệ thống sông miền Trung đều ngắn và dốc ở phía thƣợng lƣu, còn ở hạ
lƣu chảy trên dải đồng bằng hẹp, khá bằng phẳng. Mùa lũ của các sông thƣờng kéo
dài từ tháng 9 đến tháng 12 với lƣợng dòng chảy tập trung trong 3 tháng chiếm 50 –
Vùng cửa sông – ven biển là hệ sinh thái độc đáo và phức tạp nhƣng giàu có
về tài nguyên thiên nhiên, là bãi đẻ của nhiều loài động vật, là nơi ở vào giai đoạn
sớm của nhiều giáp xác và cá biển. Ở vùng ven biển đã xác định đƣợc khoảng 94
loài thực vật ngập mặn, 346 loài san hô, 794 loài cá biển, 639 loài rong và cỏ biển,
4971 loài động vật đáy… [22, 24]
Vùng cửa sông – ven biển là nơi có điều kiện sống đặc trƣng tạo nên nhiều
đặc sản nhƣ tôm, cua, sò, rong câu… Nhiều loài là mặt hàng có giá trị kinh tế, làm
thực phẩm, làm cảnh… đƣợc tiêu thụ trong nƣớc và xuất khẩu ra nƣớc ngoài. Trong
số đó cá, giáp xác, thân mềm và rong biển là những đối tƣợng có sản lƣợng lớn và
đang đƣợc khai thác. Cá ở vùng biển nông chiếm tới 80 – 90% tổng sản lƣợng cá
6
khai thác đƣợc. Riêng tôm, năm 1995 sản lƣợng là 19.000 – 24.000 tấn, cua ghẹ
chiếm trên 3% tổng sản lƣợng hải sản khai thác [24].
1.1.4. Lịch sử nghiên cứu hệ sinh thái cửa sông – ven biển Việt Nam
Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám
Những nghiên cứu trong giai đoạn này đều do các tác giả nƣớc ngoài, đƣợc
tiến hành trong phạm vi rộng trên thềm lục địa Biển Đông và các biển kế cận về các
lĩnh vực khoa học cơ bản nhƣ địa chất, hải dƣơng, khí tƣợng – thủy văn, các quá
trình động lực biển, nhất là sự trao đổi nƣớc giữa biển Đông với Thái Bình Dƣơng.
Các nghiên cứu về thủy sinh vật và nghề cá cũng đƣợc coi trọng nhằm tạo cơ sở cho
việc đánh giá tài nguyên, phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa [11].
Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám đến nay
Sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt là sau khi miền Bắc đƣợc giải phóng,
các hoạt động nghiên cứu khoa học đƣợc chuyển dần sang các nhà khoa học trong
nƣớc. Nhiều công trình nghiên cứu lớn đƣợc ra đời nhƣ: chƣơng trình Thuận Hải-
Minh Hải, các đề tài thuộc chƣơng trình 52.02, các chƣơng trình Biển và các
chƣơng trình nghiên cứu Khoa học cơ bản qua các giai đoạn nhƣ 48.06, 48B, KT-
03, KHCN-06,…
Viện Nghiên cứu biển Hải Phòng vào những năm chiến tranh chống Mỹ
Dynamics of the landscape and pollution of environment of coastal wetland of Hai
Phong-Quang Ninh caused by human activities (Vu Trung Tang, 2000) thuộc
chƣơng trình KHCN-06 do Đặng Trung Thuân chủ trì (1997-1998); khảo sát và
đánh giá các dạng tài nguyên sinh học nhằm tạo cơ sở khoa học phụ vụ cho khai
thác, duy trì và phát triển tài nguyên (Huỳnh Quang Năng, Vũ Tự Lập & Vũ Trung
Tạng - Chƣơng trình Thuận Hải-Minh Hải); Huỳnh Quang Năng, Nguyễn Tác An,
Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Đức Cự - Chƣơng trình 48-06; Nguyễn Văn Điệp -
Chƣơng trình 48B; Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Chu Hồi;
Nguyễn Tác An - Chƣơng trình KHCN-06; Nguyễn Văn Tiến, 1999, 2002; Hồ
Ngọc Đại, 1998, 1999)… [11]
8
Sau khi chuyển vào Nha Trang Viện Nghiên cứu biển nay là Viện
Hải dƣơng học, ngoài việc tham gia vào các chƣơng trình Nhà nƣớc, còn tiến hành
nhiều đề tài độc lập khác, tập trung chính vào các thủy vực ven bờ nhƣ đầm Ô
Loan (Bùi Văn Dƣơng, Nguyễn Hữu Sửu, 1981; Nguyễn Văn Chung và Huỳnh
Quang Năng, 1980); đầm Nha Phu Khánh Hòa (Nguyễn Ngọc Lâm và nnk.,2006);
vịnh Bình Cang-Nha Trang (Nguyễn Văn Chung và nnk,1978); Văn Phong và Cam
Ranh Khánh Hòa (Thái Ngọc Chiến và nnk.,2006), các rạn san hô ven bờ Nam
Việt Nam (Võ Sỹ Tuấn và nnk., 1996)…
Trạm cá biển Hải Phòng hay Viện Nghiên cứu Hải sản hiện nay, ngoài sự
tham gia vào các chƣơng trình khảo sát lớn cấp nhà nƣớc, trong những năm sau này
còn tiến hành nhiều đề tài cấp Bộ có liên quan chặt chẽ với việc đánh giá nguồn lợi
thủy sản vùng ven bờ nhằm tạo cơ sở cho các quy hoạch khai thác, bảo tồn nguồn
lợi và bảo vệ môi trƣờng cũng nhƣ cho việc thiết lập các khu bảo tồn biển nhƣ
nghiên cứu về động vật thân mềm (Nguyễn Quang Hùng, 2005), cá rạn san
hô biển Cát Bà-Hải Phòng (Lại Duy Phƣơng, 2005), hiện trạng hệ sinh thái san hô
và tiềm năng bảo tồn biển quần đảo Cô Tô, Quảng Ninh (Đỗ Văn Khƣơng và nnk.,
2005), rong biển thuộc vùng biển Cát Bà-Cô Tô (Đỗ Văn Khƣơng và nnk., 2005);
điều kiện môi trƣờng và nguồn lợi hải sản vùng biển ven bờ tỉnh Thanh Hóa (Chu
Đại học Tổng hợp Huế trƣớc đây hay Đại học Huế hiện nay (Hoàng Đức Đạt và Võ
Văn Phú, 1977; Phạm văn Miên và Nguyễn Mộng, 1982; Nguyễn Thị Phƣơng
Liên và nnk., 1981; Tôn Thất Pháp, 1993; Võ Văn Phú, 1995, 2001, 2004, 2003
[11, 15].
Trƣờng Đại học Thủy sản Nha Trang hay Đại học Nha Trang hiện nay
thƣờng triển khai các nghiên cứu của mình trong các đầm phá Nam Trung Bộ nhƣ
đầm Thị Nại (Nguyễn Chính, Ngô Anh Tuấn, 1982; Nguyễn Trọng Nho và nnk.,
1982), đầm Nha Phu, Phú Khánh (Nguyễn Trọng Nho và nnk., 1982)…[11]
Nghiên cứu về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông ven
biển và đồng bằng Nam bộ có thể tìm thấy trong các công trình của Viện Nuôi trồng
Thủy sản II cũng nhƣ các trƣờng Đại học TP Hồ Chí Minh, Đại học Nông Lâm TP
Hồ Chí minh, đại học Cần Thơ, trong đó có các nghiên cứu về “Nguồn lợi động
10
vật Hai vỏ (Bivalvia) ở vùng ven biển thị xã Bạc Liêu” (Dƣơng Trí Dũng và
Nguyễn Văn Thƣờng, 2001), “Thực vật nổi (Phytoplankton) hạ lƣu sông Cửu Long
năm 1976-1979” (Trần Trƣờng Lƣu, 1979), về thủy sinh vùng cửa sông ven biển
Tây thuộc bán đảo Cà Mau phục vụ yêu cầu phát triển thủy sản (Lƣơng Văn Thanh
và Nguyễn Văn Khôi, 2002), “Điều tra nghiên cứu sử dụng hợp lí hệ sinh thái vùng
cửa sông ven biển thuộc hệ thống sông Cửu Long để bảo vệ nguồn lợi và phát triển
nuôi trồng thủy sản” (Trần Thanh Xuân và nnk.,1998) [11].
Các nghiên cứu về địa chất địa mạo thuộc các cửa sông và dải bờ biển Việt
Nam đƣợc nhiều tác giả quan tâm, có thể gặp trong ấn phẩm của Lê Xuân Hồng &
Lê Thị Kim Thoa, 2007.
1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI CÁ CỬA SÔNG – VEN
BIỂN VIỆT NAM
Theo Vũ Trung Tạng (2009), khu hệ cá của các cửa sông riêng biệt không đa
dạng so với những vùng biển kế cận của chúng, dao động từ 70 đến 230 loài. Khu hệ
cá toàn cửa sông dọc bờ biển nƣớc ta là 615 loài, 120 họ, thuộc 29 bộ. Trong đó có 5
bộ cá sụn (Chondrichthyes) với 11 họ và 26 loài, còn lại là đại diện của các nhóm cá
chúng một số loài gặp ở độ muối 5‰ , còn một số đông loài ở độ muối 18 - 25‰.
Không ít loài cá khơi điển hình thuộc các họ Carcharhinidae, Pristidae, Dasyatidae,
Scombridae, Soleidae, Bothidae, Cynoglossidae… theo thủy triêu xâm nhập sâu vào
các thủy vực nƣớc ngọt để kiếm ăn. Nhìn chung, nhóm này đa dạng về số lƣợng loài
và đông về cá thể, thƣờng gặp ở cuối các cửa sông, nơi nƣớc có độ muối cao và ổn
định, đặc biệt vào thời kỳ mùa khô, khi lƣợng nƣớc sông giảm. Thực tế, từ vùng
chuyển tiếp này ra khối nƣớc ven bờ là nơi giàu có thức ăn, trở thành bãi kiếm mồi
và sinh sản của nhiều đàn động vật biển, trong đó kể cả cá.
- Nhóm cá cửa sông chính thức: gồm những loài nƣớc lợ ven biển thích ứng với
nhịp điệu biến đổi nhanh của độ muối vùng cửa sông. Cá cửa sông thuộc nhiều
nhóm phân loại khác nhau, từ những đại diện của họ cá tiến hóa thấp nhƣ Albulidae,
tới những họ cá bậc cao nhƣ Gobiidae, Bothidae, Cynoglossidae, Soleidae… Đại bộ
phận các loài này là cá cỡ nhỏ, sống đáy. Nhiều loài sống ổn định trong vùng, nhiều
loài tiến hành di cƣ biển – sông, hoặc di cƣ sông – biển; một số loài coi vùng cửa
12
sông là nơi sống bắt buộc trong những giai đoạn nhất định của đời sống, còn khi
sinh sản lại rời khỏi cửa sông ra biển (Mugil, Chanos) hay vào nƣớc ngọt nhƣ cá
Mòi cờ (Clupanodon thrissa), cá Cháy (Tenualosa reevesii). Phần lớn các loài cá
biển cũng nhƣ các nhóm động vật không xƣơng sống khác sử dụng vùng cửa sông
làm bãi đẻ và nuôi dƣỡng con non; khi lớn lên chúng rời khỏi vùng cửa sông về nơi
cƣ trú thƣờng xuyên của dạng trƣởng thành.
- Nhóm cá di cƣ có chu kỳ năm: gồm các loài cá nƣớc ngọt nhƣ cá Chình (Anguilla
japonica, A. marmorata, A. malagumora, A. bicolor bicolor) sống ở sông suối miền
Trung, đến kỳ sinh sản có tập tính di cƣ sông – biển để đẻ trứng ở vùng nƣớc xa bờ.
Một số loài cá cửa sông nhƣ cá Mòi cờ, cá Cháy di cƣ ngƣợc dòng vào vùng trung
hạ lƣu hệ thống sông Hồng để sinh sản.
Nếu xét sự phân bố theo chiều thẳng đứng, ta có thể chia cá ra làm hai nhóm
chính là cá nổi và cá đáy.
Cá nổi là nhóm bao gồm các loài cá sống ở tầng mặt và tầng giữa với các đại
trăng và vào thời kỳ nƣớc kém. Những loài có hiện tƣợng di cƣ ngày đêm là cá Nục,
Trích, Chỉ vàng, Tráo, Bạc má, Mối, Liệt, Mú xám… Trong mối quan hệ với tuần
trăng, cá tầng đáy cho sản lƣợng cao vào thời kỳ có trăng, nhất là những ngày trƣớc
khi trăng tròn. Ngoài ra, các mối quan hệ của cá với nhiệt độ nƣớc, dòng chảy, …
cũng ảnh hƣởng tới sự di cƣ của cá từ bờ ra xa và ngƣợc lại [2, 14].
Cá cửa sông không thật đa dạng, song sự phát triển nghề cá dựa vào 2 nhóm
chủ yếu là cá cửa sông chính thức và cá biển xâm nhập. Cá cửa sông chính thức
phần lớn có kích thƣớc nhỏ đến trung bình, chỉ có giá trị kinh tế địa phƣơng nhƣng
ổn định, tạo ra sản lƣợng thƣờng xuyên cho khai thác. Cá biển xâm nhập thƣờng
xuất hiện trong những điều kiện xác định của vùng cửa sông để kiếm ăn hay sinh
sản, gồm những loài có giá trị kinh tế cao cho nghề cá. Những họ có nhiều loài đóng
vai trò quan trọng trong nghề cá cửa sông là Megalopidae, Clupeidae, Engraulidae,
Synodontidae, Ariidae, Mugilidae, Polynemidae, Hemirhamphidae, Centropomidae,
Serranidae, Teraponidae, Apogonidae, Carangidae, Leiognathidae, Nemipteridae,
Lutjanidae, Gerridae, Drepanidae, Haemulidae, Sciaenidae, Signanidae, Gobiidae,
14
Paralichthyidae, Bothidae, Cynoglossidae,… Phần lớn các loài cá thuộc những họ
trên là những loài thƣờng xuyên có mặt trong vùng, một số ít xuất hiện có chu kỳ
khi chúng xâm nhập vào vùng cửa sông để kiếm ăn hoặc để sinh sản. Chúng có thể
thuộc những loài cá biển khơi, cá rạn san hô hoặc ở đáy sâu xâm nhập vào để dinh
dƣỡng, đẻ trứng, tức là sử dụng vùng cửa sông cho một giai đoạn nhất định trong
chu kỳ sống của mình vào những thời gian xác định nhƣ các đại diện thuộc
Sphyraenidae, Choetodontidae, Pomacentridae, Labridae, Stromatoidae,
Echeneidae, Scombridae, Meniddae, Monodactylidae, Ephippidae…Những đại diện
của cá nƣớc ngọt thích nghi với độ muối thấp chỉ sử dụng phần đầu của vùng cửa
sông nhƣ một nơi kiếm ăn [24].
Nhiều loài cá cửa sông có giá trị kinh tế cao nhƣ cá Song vây cao
(Epinephelus maculatus), Song gió (Epinephelus awoara), Chim bạc
(Monodactylus argenteus), Chim gai (Psenopsis anomala). Một số loài cá có liên
có giá trị kinh tế đều là những đàn cá địa phƣơng, ít di cƣ, chủ yếu tập trung sống ở
các vùng nƣớc có độ sâu dƣới 200 m, nhất là các khu vực chịu ảnh hƣởng của các
con sông lớn, các vụng, vịnh ven biển. Sự phân bố của các đàn cá có sự biến động
theo mùa khí hậu: mùa đông có xu thế ra xa bờ và phân bố với mật độ dày ở vùng vĩ
độ thấp; mùa hè di chuyển vào gần bờ.
- Nhiều loài cá nói chung hay cá kinh tế nói riêng có mùa đẻ nhiều đợt, kéo dài. Bãi
đẻ chủ yếu ở các vùng nƣớc nông ven bờ
Với những đặc điểm trên thì việc phục hồi đàn sẽ nhanh nhƣng hiện tại các
hoạt động khai thác và các hoạt động kinh tế khác đã và đang làm suy giảm nguồn
lợi, ảnh hƣởng tới môi trƣờng sinh sống của các loài cá, kéo theo việc giảm năng
suất và sản lƣợng đánh bắt.
1.3. THỰC TRẠNG KHAI THÁC, VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI
NGUỒN LỢI CÁ VÙNG CỬA SÔNG – VEN BIỂN VIỆT NAM
1.3.1. Thực trạng khai thác
Nghề khai thác ở nƣớc ta rất đa dạng phong phú với quy mô cũng nhƣ tên
gọi. Hiện tại, cả nƣớc có trên 40 nghề khai thác thủy sản tập trung tại 5 nhóm nghề
chính (lƣới kéo, lƣới rê, lƣới vây, câu và lồng bẫy cố định). Tính đến hết năm 2007,
cả nƣớc có 95.609 tàu hoạt động nghề cá, trong đó tàu khai thác hải sản là 83.250
chiếc, tàu làm công tác dịch vụ hậu cần nghề cá và kiểm ngƣ là 2.199 chiếc, với
tổng công suất máy đạt trên 5,4 triệu CV. Mặc dù phát triển nhanh chóng nhƣng
nghề khai thác hải sản nƣớc ta vẫn còn mang nặng tính chất của nghề cá quy mô
nhỏ. Các tàu công suất máy nhỏ hơn 90 CV chiếm tới 84% tổng số tàu, 88% tổng số
lao động hoạt động chủ yếu ở ven bờ. Hầu hết các tàu đánh cá đều đƣợc đóng bằng
16
gỗ, các máy tàu đƣợc sử dụng phần lớn là máy cũ hoặc dùng các máy ôtô vận tải
hạng nặng đã cũ để lắp đặt. Kết quả điều tra các tàu khai thác hải sản xa bờ cho
thấy, số tàu lắp máy cũ chiếm tới 88,58% tổng số tàu khai thác xa bờ, trang thiết bị
khai thác chƣa đầy đủ nên khai thác kém hiệu quả. Mặc dù nƣớc ta có tới 700 cơ sở
đóng tàu có khả năng đóng mới 4.000 chiếc/năm và sửa chữa 8.000 chiếc/năm
dù sản lƣợng khai thác hải sản liên tục tăng nhƣng chất lƣợng sản phẩm khai thác
đƣợc thƣờng có kích thƣớc nhỏ, có chất lƣợng thấp, tỷ lệ cá tạp cao. Trong khi đó,
hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ nghề cá vừa nhỏ bé, vừa manh mún khi cả nƣớc chỉ
có 75 cảng cá, bến cá, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu phục vụ ngành khai thác. Mạng
lƣới chợ cá còn ở trạng thái đang phát triển, chƣa có hình tức bán đấu giá tại chợ.
Việc mua bán, tiêu thụ cá ở các chợ cá phần lớn do các tƣ thƣơng đảm nhiệm, nên
hiện tƣợng “Trúng mùa rớt giá vẫn còn xảy ra’’ [13].
Sự mất cân đối giữa năng lực khai thác và khả năng hiện có của nguồn lợi
vùng ven bờ ngày càng tăng, dẫn đến nguồn lợi ven bờ bị giảm dần, hiệu quả kinh
tế của hoạt động khai thác vùng biển ven bờ ngày càng thấp. Trong khi đó, giá
nhiên liệu và những chi phí đầu vào cho khai thác tăng không ngừng, đang gây ra
những khó khăn lớn cho ngành khai thác hải sản. Hiệu quả kinh tế của các hoạt
động khai thác đang giảm dần nên các tàu cá buộc phải tận thu sản phẩm, từ đó dẫn
đến giảm sút nguồn lợi thuỷ sản nghiêm trọng hơn. Trong khi chúng ta chƣa mở
rộng đƣợc ngƣ trƣờng xa bờ và công nghệ đánh bắt còn lạc hậu, thì đội tàu có công
suất nhỏ lại phát triển nhiều, dẫn đến ngƣ trƣờng ven bờ ngày càng bị thu hẹp. Cả
nƣớc hiện có khoảng 95.609 chiếc tàu thuyền khai thác hải sản, nhƣng lƣợng tàu có
công suất lớn hơn 90 CV chỉ có khoảng 15 nghìn chiếc. Số còn lại là tàu nhỏ tập
trung vào khai thác bằng lƣới rê, câu, mành, vây, chụp quanh quẩn ở ven bờ [13].
Tàu thuyền đóng mới tăng nhanh, nhƣng chủ yếu là tàu nhỏ, không thể đánh
bắt xa bờ và dài ngày trên biển nên ngƣ dân tập trung khai thác ven bờ. Điều này
dẫn đến cạn kiệt nguồn hải sản ven bờ. Mặt khác, do cạn kiệt nguồn lợi thủy sản
nên xuất hiện ngày càng nhiều hình thức đánh bắt hủy diệt nguồn lợi nhƣ xung điện,
đánh mìn, giã cào [24].
18
1.4. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ Ở VÙNG CỬA HỘI, NGHỆ AN
Cho tới nay có rất ít công trình nghiên cứu tách riêng cho thành phần loài cá
vùng cửa Hội, chỉ mới có công trình của Nguyễn Thái Tự (1983) nghiên cứu khu hệ
cá lƣu vực sông Lam. Công trình đã xác định đƣợc 157 loài thuộc 52 họ và nằm