BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_________________________ TRẦN THANH BÌNH ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA THƠ CA
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TÁC ĐỘNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ NGỌC TRÀ
thi nhân đã sử dụng như một thủ pháp để chuyển tải thông điệp từ trái tim mình
đến với độc giả để tác động đến lý trí và cảm xúc của họ. Trong phần nghiên cứu
một tác gia điển hình cho xu hướng thơ tác động, chúng tôi chọn nhà thơ Tố Hữu
bởi những đóng góp to lớn của ông dành cho thơ ca và cách mạng Việt Nam.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Trong sáng tác và trong cả hoạt động nghiên cứu, thơ c
a không còn là một
lĩnh vực thần bí. Trên thế giới và ở Việt Nam, đã có không ít các công trình nghiên
cứu về lý luận thơ ca, từ những công trình tầm cỡ thế giới như "Nghệ thuật thi ca"
của Aristote, "Văn tâm điêu long" của Lưu Hiệp hay "Tùy viên thi thoại" của Viên
Mai đến những công trình nghiên cứu của các nhà lý luận phương Tây và của các
nhà lý luận Việt Nam… Mặc dù đã khai thác bao quát hết các vấn đề thuộc về đặc
trưng, bản chất, chức năng hoặc có cả kinh nghiệm sáng tác thơ, nhưng các công
trình ấy không dừng lại tìm hiểu thi pháp của thơ như một hình thức nghệ thuật có
khả năng tác động vào công chúng độc giả. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn thu thập được
ở những tác giả ấy những ý kiến khẳng định ý nghĩa tác động của thơ ca từ những
góc nhìn khác nhau:
Từ góc nhìn của các nhà lý luận và sáng tác:
Trong tác phẩm "Dẫn luận nghiên cứu văn học", P
ospelov cho rằng "các
tình cảm của nhà thơ trữ tình có uy lực "lây truyền" người đọc, trở thành tài sản
tinh thần của người đọc"
[114, tr.332].
Công trình của ông khám phá đặc điểm của
tác phẩm trữ tình từ góc nhìn đặc điểm cấu trúc của lý luận truyền thống qua việc
nghiên cứu các đối tượng, nội dung, các dạng thức của trữ tình, đặc điểm biểu cảm
của lời văn trữ tình… và chỉ dừng lại ở những đặc điểm chung nhất của thể loại trữ
tình chứ không đi sâu vào đặc trưng thi phá
p hoặc những hình thức có khả năng tác
động của thơ ca.
dù không thay đổi được ngay thế giới – song có thể làm cho thế giới đó trở nên dễ
chịu hơn (…), có thể lay động con người khỏi trạng thái thờ ơ, và thậm chí có thể
đánh bật nó khỏi những lối mòn tư duy cố hữu"
[118, tr.72].
Bài viết của ông góp
phần khẳng định khả năng tác động của thơ ca, tuy chưa đi sâu vào nghiên cứu các
hình thức tác động cụ thể.
Trong công trình "Hệ thống kết cấu lý luận "Thi ngôn chí", Cổ Phong đã
bàn đến 8 chức năng của thơ ca trong đó có chức năng giáo dục. Ông đã đồng tình
với ý kiến của Khổng Dĩnh Đạt, Dương Duy Trinh, Ba Nhật Hưu… khi nói về khả
năng giáo huấn con người của thơ và cho rằng "thơ nói chí, chí lại có khả năng cảm
hóa, gi
áo dục con người"
[189, tr.36]
.
Lê Ngọc Trà trong "Lý luận và văn học" khẳng định: "Nghệ thuật trở
thành một phương tiện tác động quan trọng và có hiệu quả chính là nhờ những đặc
điểm vốn có của nó. Bản chất của nghệ thuật là tình cảm. Đánh vào tình cảm là tác
động vào khâu then chốt để lay chuyển con người"
,
"trong quá trình tác động để cải
biến con người, tác phẩm nghệ thuật hiện ra không phải như người thầy, nhà thuyết
giáo mà như là người đồng hành, người đối thoại với bạn đọc, với khán giả", "nghệ
thuật ảnh hưởng đến con người lâu dài, dần dần và tác động theo kiểu lây lan
"
[157,
tr.109 - 111]
.
[122, tr.94]
.
Nhìn dọc theo chiều phát triển của tư duy nghệ thuật từ thơ cổ điển, lãng
mạn, tượng trưng, đến thơ cách mạng, Trần Đình Sử đã thấy rõ khả năng tác động là
một thành công lớn của thơ cách mạng. Tuy nhiên, ông cũng chỉ dừng lại ở những
nhận định đó chứ không đi vào nghiên cứu cụ thể hệ thống thi pháp có khả năng tác
động.
Đinh Gia Trinh tr
ong "Hoài vọng của lý trí", khi bàn về trách nhiệm của
các văn sĩ và nghệ sĩ, đã khẳng định: "Sức cảm hóa của văn chương và của nghệ
thuật là một điều hiển nhiên. Những kẻ khinh sự truyền bá tư tưởng bằng văn
chương, coi những trang sách như một vang bóng vô ích chỉ là những kẻ xét đoán
hẹp hòi"
[161, tr.52, 53]
.
Và khi đọc "Xuân thu nhã tập", ông cũng cho rằng: "Bởi
nhạc điệu, bởi sự hòa hợp âm thanh, bởi màu sắc của hình ảnh, tức khắc lời thơ đọc
lên "mê hoặc" ta, làm ta đắm say. Cốt thơ chính là có cái năng lực cảm hóa ấy, cái
năng lực làm người ta rung động… Thi sĩ là người khơi nguồn lưu thông cái run
rẩy huyền diệu của Thơ, mình cảm, mình rung động, rồi lựa lời, lựa âm thanh, điều
hòa màu sắc làm người ta cảm, người ta rung động, đem cái run rẩy huyền diệu
làm tràn sóng sang người đọc"
[161, tr.201]
.
Công trình lý luận về thơ "Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện
đại" của Hà Minh Đức bàn đến nhiều vấn đề của thơ ca Việt Nam, trong đó, ông có
viết: "Thơ ca chân chính luôn là tiếng nói yêu thương, là lời ca chiến đấu, giàu ước
mơ và khát vọng", "nhà thơ không chỉ nhân danh mình để nói lên một điều gì, mà
những hình thức nghệ thuật đặc thù của thơ ca trong mối tương quan mật thiết giữa
sự vận động của xã hội và sự phát triển của thơ ca.
Mã Giang Lân trong khảo luận "Tìm hiểu thơ" có viết: "Chúng ta có tiếng
nói trữ tình quen thuộc kết hợp một cách nhuần nhị, tự nhiên với chất tự sự; khi cần
thiết vận dụng châm biếm, đả kích để đánh kẻ thù có hiệu quả hơn. Đến kháng
chiến chống Mỹ thơ có thêm tiếng nói chính luận đanh thép sắc sảo, có sức thuyết
phục, lay động mạnh tạo nên âm hưởng hùng tráng và vẻ đẹp sử thi"
[80, tr.103, 104].
Tuyển tập phê bình tiểu luận "Tiếng vọng những mùa qua" của Nguyễn
Thị Thanh Xuân có bài viết về văn học kháng chiến ở Nam Bộ. Bàn về thơ ca giai
đoạn này, bà khẳng định: "Thơ ca chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống văn
học ở chiến khu Nam Bộ, cả về số lượng lẫn chất lượng". "Nội dung của thơ ca giai
đoạn này là ca ngợi cuộc kháng chiến, lên án sự tàn bạo của quân thù, biểu dương
những tấm gương anh hùng của nhân dân v
à kêu gọi những người đi theo giặc trở
về với chính nghĩa"
[175, tr.225].
Lê Thành Nghị trong tác phẩm "Văn học sáng tạo và tiếp nhận" cho rằng
hiệu quả tác động của tác phẩm là tất yếu khi người cầm bút cố gắng và không bị
hạn chế trong việc "sử dụng những biện pháp hiệu quả nhất, kể cả các biện pháp
của các phương pháp sáng tác phi hiện thực như lãng mạn, viễn tưởng, huyền
thoại… miễn là tất cả sự vận dụng và tìm tòi nghệ thuật này nhằm đạt đến tính chân
thực thuyết phục của hình tượng văn học, đạt đến hiệu quả cao nhất trong việc tác
động vào tư tưởng và tình cảm người đọc"
[101, tr.58]
.
[140, tr.104, 105]
.
Đông La trong "Biên độ của trí tưởng tượng" cho rằng: "Thơ ca không
chỉ tạo nên sự xúc động, sự khoái cảm, sự tâm đắc mà còn gợi nên những suy tư,
những trăn trở, ý thức trách nhiệm lớn lao đối với đồng loại"
[70, tr.98]
.
Nguyễn Thị
Dư Khánh với "Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường"
có phần bàn về mục đích của môn Ngữ Văn, trong đó, theo bà, "thơ trữ tình là loại
tác động trực tiếp và sâu xa hơn cả"
[63, tr.133].
Trong cuộc hội thảo về “Văn học và hiện thực”, “Phản ánh hiện thực là
chức năng hay thuộc tính của văn học?”, các nhà nghiên cứu lý luận cũng bày tỏ
mối quan tâm về khả năng tác động của tác phẩm. Từ quan điểm thông báo, Hoàng
Ngọc Hiến cho rằng “tác phẩm văn học phải truyền cho người đọc ham muốn cải
tạo hiện thực cuộc sống”
[45, tr.6],
còn Nguyễn Huệ Chi thì thừa nhận chính sự tự do
sáng tạo và tài năng nghệ thuật của tác giả đã tạo nên sự giao cảm kỳ diệu và “đánh
thức dậy trong người đọc một thế giới bí ẩn chưa từng biết trong hiện thực”
[11,
tr.14]
.
Trong các công trình nghiên cứu, các giáo trình lý luận văn học, khả năng
tác động của thơ được nói đến từ góc nhìn về chức năng của văn học. Trần Đình Sử
trong "Lý luận và phê bình văn học" cho rằng: “Văn học vừa khơi gợi khoái cảm,
nhằm góp phần thúc đẩy cuộc sống mới phát triển.
Từ góc nhìn của các nhà ngôn ngữ học:
Gần đây, việc nghiên cứu thơ ca từ góc độ ngôn ngữ được các nhà ngôn ngữ
học Việt Nam quan tâm. Đã có Mai Ngọc Chừ với "Tìm hiểu vần thơ Việt Nam"
(1986), Bùi Công Hùng với "Góp phần tìm
hiểu nghệ thuật thơ ca" (1989), Phan
Ngọc với "Tìm hiểu phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Du trong Truyện Kiều"
(1985), "Cách giải thích Văn học bằng ngôn ngữ học" (2000), Nguyễn Phan Cảnh
với "Ngôn ngữ thơ" (1987), Hữu Đạt với "Ngôn ngữ thơ Việt Nam" (1993), Triều
Nguyên với "Bình giải thơ từ góc độ cấu trúc ngôn ngữ" (2006)... Mỗi một người có
những đóng góp khác
nhau vào cái nhìn tổng thể của ngôn ngữ học đối với thơ ca.
Qua đó, và qua các tác phẩm khác, vấn đề tác động của thơ cũng được nhìn nhận.
Trong "Ngôn ngữ và đời sống xã hội văn hóa", Hoàng Tuệ cho rằng vấn
đề phong cách trong văn chương thực chất là "một sự tạo nghĩa", nhưng cần nhấn
mạnh rằng đó là một sự tạo nghĩa đặc biệt, trong sự giao tiếp xã hội bằng nghệ
thuật, nhằm tạo nên một tác động đặc biệt"
[164, tr.23]
.
Phan Ngọc thì nhìn thấy khả năng tác động như là một thuộc tính của thơ.
Trong quyển "Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ", ông viết: “Thơ là một
cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm
xúc và, phải suy nghĩ…”
[102, tr.29]
.
Theo ông, sở dĩ, có những câu thơ được nhớ đến
hàng ngàn năm là nhờ cách tổ chức ngôn ngữ của nó
.
công trình này không đi sâu sát vào các đặc trưng ngữ pháp có xu hướng tác động.
Trong "Phong cách học và phong cách chức năng Tiếng Việt", Hữu Đạt
cho rằng "Các đơn vị ngôn ngữ hoạt động trong phong cách nghệ thuật với chức
năng nổi bật nhất là chức năng tác động bằng hình tượng (…). Tác động của nghệ
thuật trước hết là tác động tình cảm và thẩm mỹ, (…), chức năng tác động tình cảm
lại là yếu tố nổi bật lên trước nhất"
[29, tr.285 - 287]
.
Ông cũng chỉ ra rằng việc sử
dụng thường xuyên các lời than gọi, các câu hỏi tu từ nghệ thuật, nhiều từ láy, từ
tượng hình, là một trong những điểm tạo nên dấu hiệu khác biệt giữa phong cách
nghệ thuật và các phong cách chức năng khác.
Trong sách "Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học", Nguyễn Lai
cho rằng quá trình sáng tác, dù được thể hiện dưới dạng nào, "cuối cùng và thực
chất nhất là nó phải bắt đầu từ sự rung động của c
hính mình để qua đó tạo ra sự
rung động cho người khác"
[73, tr.59]
.
Hà Công Tài trong bài viết "Cấu trúc ẩn dụ
hóa trong thơ" cho rằng thơ ca có khả năng tác động bằng các yếu tố nghệ thuật,
trong đó có ẩn dụ, một phương tiện tu từ đặc sắc trong văn chương có thể giúp các
nhà thơ khai thác nhiều hình ảnh tân kỳ. Ẩn dụ cũng là một “phương cách tác động
và gây hấp dẫn nơi người đọc” vì "nghệ thuật thường tác động lên người đọc bởi sự
sáng tạo những ký hiệu lạ lùng hấp dẫn"
[128, tr.46]
.
Còn Phong Hồng Anh trong bài
viết "Tín hiệu thơ - cuộc đối thoại giữa nhà thơ và bạn đọc" xem thơ như một
“hình thức đối thoại trữ tình trực tiếp không ngừng của nhà thơ với cuộc đời” và
4. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Về ý nghĩa lý luận, luận văn góp một tiếng nói khẳng định ý nghĩa của
thơ tr
ong đời sống con người. Thông qua quá trình tìm hiểu những quan niệm của
đông đảo các học giả từ xưa đến nay, luận văn hướng đến tìm hiểu trạng thái và
nhu cầu tác động của nhà thơ khi sáng tác; đồng thời khẳng định rằng thơ ca là một
nghệ thuật có sức mạnh tác động đáng kể, góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu
tranh giữ nước Việt N
am trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc.
- Về ý nghĩa thực tiễn, luận văn góp thêm hướng nghiên cứu về thi pháp
bằng việc tìm hiểu các yếu tố nghệ thuật nổi bật nhất có khả năng tạo nên ấn tượng
sâu đậm và tác động mạnh mẽ vào công chúng. Mặc dù người ta vẫn đã và đang
sáng tác và thưởng thức thơ, nhưng lý thuyết về thi pháp thơ nhìn từ góc độ tác
động sẽ góp phần đáng
kể cho quá trình sáng tác của các nhà thơ đương đại và
trong tương lai – nhất là khi thị hiếu thẩm mỹ của công chúng ngày càng được
nâng cao và quy luật đào thải càng trở nên nghiệt ngã.
- Khảo sát các yếu tố nghệ thuật trong thơ Tố Hữu như một biểu hiện tiêu
biểu cho loại thơ tác động, luận văn cũng góp phần khẳng định giá
trị nghệ thuật và
sức mạnh tác động của thơ Tố Hữu đồng thời lý giải vì sao tiếng thơ Tố Hữu đã
vinh dự trở thành tiếng gọi đàn cho cả dân tộc ta trong những ngày tháng đấu tranh
gian khổ nhất.
5. PHƯƠNG P
HÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các phương
pháp sau đây:
Phương pháp hệ thống: Trong quá trình tìm hiểu các quan niệm về
thơ của các học giả, tìm hiểu các biểu hiện tác động của thơ ca trong lịch sử, và tìm
hiểu các hình thức thi pháp tác động cụ thể, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát, hệ
hành động phụng sự Tổ Quốc... và rồi dần dần, con người không thể sống thiếu thơ.
Bằng sức mạnh của riêng mình, thơ đã góp phần nâng cuộc sống này lê
n như một
thiên chức đáng tự hào. Mỗi một lần ngoái nhìn lại thơ ca là mỗi một lần chúng ta
không khỏi ngạc nhiên vì sức mạnh ấy.
1.1.1 Trong suy nghĩ của n
hiều học giả xưa nay
Thơ được viết ra để thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của con người: nhu
cầu thưởng thức cái đẹp, nhu cầu nâng cao tri thức, nhu cầu tiếp thu và khám phá
thế giới tình cảm của con người v.v… Mỗi bài thơ được thai nghén từ những trăn
trở, suy tư, những trải nghiệm đầy nỗi niềm và thấm trong từng câu chữ là những
giọt mồ hôi, giọt nước mắt của người sinh ra nó. N
hưng mọi sáng tạo đó chỉ trở nên
thật sự hữu ích cho xã hội loài người khi nó có thể góp phần nâng cuộc sống lên,
góp phần khiến cho người càng Người hơn. Sức mạnh của thơ thật vô cùng, và
trong thực tế, nó không chỉ giáo dục đạo đức, rèn luyện nhân cách cho con người
mà nó còn góp phần tác động vào tư tưởng, quan điểm, lập trường của con người, từ
đó m
à cải tạo xã hội. Thật ra, người ta đã phải trải qua thật nhiều những tranh luận,
nhiều thể nghiệm để khẳng định chân lý ấy. Tuy nhiên, thơ ca là một lĩnh vực nhạy
cảm nên vẫn thấy xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau. Mỗi nhà thơ, mỗi nhà
nghiên cứu hay cả những chính trị gia đều có những ý kiến riêng được hun đúc từ
những trải nghiệm của chính bản thân họ về thơ ca, nhưng điểm chung của họ là
nhìn nhận sức mạnh tác động của thơ ca đối với xã hội như một chức năng quan
trọng.
Thơ thể hiện sức mạnh của mình khi tác động đến tư tưởng c
on người với
tinh thần nhân văn cao cả. Ở phương Tây, từ thời cổ đại, Platon đã từng muốn đuổi
những nhà thơ ra khỏi đất nước mình vì nhìn thấy những ảnh hưởng khôn lường của
thơ đối với công chúng. Ông cho rằng, “ngoài loại thơ ca tụng thần linh và người
bài thơ không chỉ dừng lại ở ý nghĩa khiến người ta thỏa mãn những thị hiếu thẩm
mỹ của người đọc mà nó còn có ý nghĩa “giao tranh để đoàn kết mọi người”
[143,
tr.79].
Thơ không phải là những bài đạo đức khô khan phục vụ cho một chế độ, một
giai cấp nào nhưng nó lại có sức mạnh tuyệt đối để “khiến con người, tất cả mọi
người thành ra thuần khiết”
[143, tr.80].
Từ hướng tác động vào con người, thơ ca đi đến khả năng thay đổi xã hội. Ít
nhiều các nhà làm chính trị từ xưa đến nay vẫn nhìn thơ như một thế mạnh thuộc
một lĩnh vực tinh thần phong phú không những có khả năng xâm nhập và làm thay
đổi đời sống tinh thần con người mà thậm chí còn làm thay đổi cục diện xã hội. Các
nhà tư tưởng phương Đông cổ đại cho rằng, cuộc sống bình yê
n hay loạn lạc bắt
nguồn từ trong tư tưởng mà ra và trong đó, thơ là một yếu tố có khả năng gây ảnh
hưởng không nhỏ. Tuân Tử nghĩ rằng những âm thanh gian trá sẽ làm loạn nhân
sinh và ngược lại, những âm thanh tốt đẹp có khả năng cảm hóa con người, làm cho
cuộc sống bình yên. Quan niệm của Tuân Tử khẳng định chắc chắn khả năng tác
động của nghệ thuật: bất kể là xấu hay tốt, tác phẩm n
ghệ thuật có sức mạnh lớn lao
đối với tính “an” hay “loạn” của xã hội. Cùng quan điểm đó, Khổng Tử chủ trương
truyền dạy đạo đức, khiến người, giúp người tu thiện, rèn luyện nhân cách bằng
kinh sách. Một trong những cách thức “tu thân” mà Khổng Tử đề ra cho học trò là
đọc sách, đọc thơ, đọc Kinh Thi và bàn luận về Kinh Thi để nâng cao tri thức: “Bất
học thi, vô dĩ ngôn”
[93, tập 1, tr.39].
Ở góc độ lý luận văn học mà nhìn, ta thấy
Khổng Tử đã rất xem trọng khả năng tác động của thơ ca và đề xướng một quan
niệm văn học tuyên truyền và bảo vệ chế độ, đạo đức, lễ giáo phong kiến. Mặc Tử
cho đạo đức phong kiến. Qua những luận điểm bàn về vấn đề sáng tạo văn học, kết
cấu, từ văn, ngôn ngữ, biện pháp nghệ thuật trong “Văn tâm điêu long”, Lưu Hiệp
cho rằng thơ ca thật sự có ý nghĩa tích cực trong việc giáo huấn nhân dân: “C
ái chữ
thâu tóm của 300 bài (Kinh Thi) là không tà dâm. Giữ lấy nó để dạy thì thích hợp
vậy"
[47, tr.156].
Lý Bạch - nhà thơ, nhà lý luận thi ca xuất sắc đời Đường rất chú
trọng đến sức đồng vọng diệu kỳ của thơ ca. Ông đề cao chức năng “cảm hóa nhân
tâm” của thơ, cho rằng thơ không chỉ có mục đích tự thân mà còn phải “vì quân, vì
thần, vì dân, vì vật mà sáng tác, chứ không phải vì văn mà sáng tác”
[184, tr.572].
Từ
đó, ông khuyến khích sáng tác thơ để giúp vào việc thi hành chính đạo, phản ánh
nỗi đau khổ của nhân dân. Ông coi trọng thơ phúng dụ vì đấy là loại thơ có khả
năng “trị bệnh cứu người, bổ khuyết thời thế
”
[184, tr.585].
Từ những nhận thức đúng
đắn đó, Bạch Cư Dị sáng tác những tác phẩm có giá trị nhân sinh, được lưu truyền
rộng rãi trong nhân dân, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của đất nước Trung
Hoa. Về cách thức, thơ có cách cải tạo xã hội theo con đường đơn giản mà tinh tế,
quyến rũ nhất. Thơ nhẹ nhàng đi vào lòng người và thức tỉnh họ, kêu gọi họ bằng
nhiều cách khác nhau. Đôi khi, thơ đến với con người như là một tín ngưỡng thiêng
liêng và huyền bí. Chí
nh vì thế mà nhà thơ Pháp gốc Ba Lan Apollinaire đã kêu gọi
các nhà thơ “hãy quay về với Khổng Phu Tử, Phật Thích Ca, hiền triết Socrate,
Chúa Jesus, là những bậc đạo đức học chịu đói mà lang thang qua các xóm làng”
Nguyễn
Thượng Hiền khẳng định sức mạnh của thơ: “Thét một tiếng đã nâng dậy chứng ỳ
của một nền phong hóa suy đồi”
[61, tr.101]
còn Hồng Nhậm cho rằng thơ hay phải
“làm khóc được quỷ thần” và “thông suốt trời đất”
[61, tr.88].
Ta thấy rằng, sự liên
kết giữa thơ ca, chính trị và đạo đức là cái gốc để các thi nhân ngày xưa hướng ý đồ
tác động của mình đến độc giả mỗi khi sáng tác. Cảm hứng của nhà thơ được khơi
nguồn từ những điều tai nghe mắt thấy, từ những tồn vong của một triều đại, một
dân tộc và từ những buồn vui, sướng khổ của nhân dân. Theo đà phát triển của lịch
sử, thơ không những được xem là phương tiện giáo dục mà thơ còn là vũ khí góp
phần đấu tranh và phát triển xã hội. Sức mạnh tạo nên ý nghĩa xã hội cao quý cho
thơ còn ở chỗ nó có thể cải tạo xã hội. Tóm lại, cách nói của người xưa tuy chỗ đậm
chỗ nhạt nhưng cũng đã thừa nhận khả năng tác động của thơ vào xã hội như là một
bản chất vốn có. K
hi bày tỏ ý kiến về thơ, họ có cả một bề dày sáng tác ở phía sau.
Lời họ nói là những lời được trải nghiệm từ những hoạt động xã hội của một chính
trị gia, hoặc là lời gan ruột của thi nhân về cái nghiệp cầm bút của mình. Về mặt
này, các ý kiến của người đi sau cũng gặp gỡ những người đi trước. Ý nghĩa, vai trò
của thơ ca đã được thế hệ cha ông ta đặt ra từ rất lâu và ngà
y nay được nhận thức lại
từ góc nhìn của hệ tư tưởng mới.
R. Jakobson trong công trình “Ngôn ngữ và thi ca” đã nghiên cứu thơ ca từ
góc độ lý thuyết giao tiếp của ngôn ngữ và khẳng định “ngôn ngữ phải được nghiên
cứu trong tất cả các chức năng khác nhau của nó
” [33, tr.110].
Chính ông cũng xác
cao ý nghĩa hiện thực: “Tolstoi không những đã cống hiến những tác phẩm n
ghệ
thuật mà quần chúng sẽ tán thưởng và sẽ đọc mãi mãi, một khi họ đập tan được ách
của bọn địa chủ và bọn tư bản và tạo được cho họ những điều kiện sống của con
người”
[83, tr.258].
Với tư cách là một vị lãnh đạo, Lenin đề cao ý nghĩa xã hội của
văn chương và sử dụng chúng vì mục đích cách mạng. Trong một bức thư gửi cho
M. Gorki, Lenin đã rất băn khoăn trong việc chọn lựa một loại hình nghệ thuật có
khả năng tác động tích cực đến công chúng: “Bây giờ cần phải tác động như thế
nào, cần phải “làm loại văn học” nào cho đúng?”
[83, tr.297].
Theo quan điểm của
Lênin, văn thơ luôn là vũ khí đấu tranh giai cấp, là phương tiện để tuyên truyền,
giác ngộ quần chúng nhân dân.
Nhưng để tác phẩm có sức mạnh đấu tranh, người cầm bút phải nhận thức
rõ trách nhiệm của mình. Hay nói cách khác, ý nghĩa đấu tranh của tác phẩm phải
bắt nguồn từ sự dấn thân của hành vi sáng tạo. Sứ mạng cao cả của những người
cầm bút, theo Sartre là phải dấn t
hân vào công cuộc đấu tranh của xã hội: “Văn học
phải phục vụ cho đấu tranh, nhiệm vụ của nhà văn là vận dụng các loại hình thức
văn học để phơi bày cái thế giới này cho mọi người xem, để cứu vãn cái thế giới
này”, “Chỉ có nghệ thuật cho người khác và bởi người khác
”
[120, tr.132].
Quan niệm
dấn thân của Sartre xác định thái độ và quan hệ của nhà thơ đối với xã hội từ nhu
cầu, trách nhiệm tự bóc lộ mình, bóc lộ không phải để cho mình mà cho cả người
đọc để từ đó mà cải tạo xã hội.
[176, tr.178, 180].
Các ý kiến trên không dừng lại từng
thể loại cụ thể, nhưng trên tinh thần ấy, thơ cũng không nằm ngoài ý nghĩa đó. Với
tư cách là nhà thơ, Trường Chinh - Sóng Hồng nhiều lần khẳng định khả năng chiến
đấu của thơ: “Thơ là một vũ khí đấu tranh kỳ diệu”, “thơ có thể trở thành một sức
mạnh phi thường khi nó chinh phục trái tim quần chúng nhân dân”, “thơ có thể
truyền cảm mãn
h liệt cho quần chúng, cổ vũ quần chúng đấu tranh anh dũng và lao
động sáng tạo”. Quan niệm này còn được ông thể hiện bằng thơ: “Thơ như rót men
nồng, nhen lửa đốt, Khiến người nghe vác súng vút lên đường, Thơ hay nhất phải là
thơ thiết thực, Phải là thơ - vũ khí của nhân dân”… Và quyết liệt nhất vẫn là khẩu
khí kêu gọi nhà thơ hãy “Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ, Mỗi vần thơ: bom đạn
phá cường quyền”
[176, tr.664, 665, 679, 780].
Những quan niệm trên của nhà thơ Sóng
Hồng được chính bản thân nhà thơ thực hiện triệt để trong suốt quá trình sáng tác.
Như vậy đó, từ trong thực tế cuộc sống, thơ đã được sinh ra và đã gắn liền
với xã hội loài người bằng nhiều ý nghĩa tích cực. Trong nhiều ý nghĩa của thơ thì
khả năng đóng góp vào quá trình phát triển xã hội của thơ là điều mà các nhà tư
tưởng lỗi lạc cổ kim
đã thừa nhận. Trong dòng chảy của thơ Việt Nam, chúng ta
nhận thấy rất rõ khả năng tác động mạnh mẽ của thơ không chỉ là ở một giai đoạn,
một phong trào mà trong mỗi một nhà thơ, mỗi một bài thơ cũng tiềm ẩn thứ "năng
lượng" đó. Lịch sử "một trăm năm đô hộ giặc Tây, một ngàn năm đô hộ giặc Tàu"
và những thăng trầm của xã hội đã đẩy nhâ
n dân ta vào cuộc chiến tranh vệ quốc
trường kỳ mà kiêu hãnh. Và trong hoàn cảnh đó, thơ Việt Nam vẫn đồng hành với
người dân Việt, thơ là tri âm, là đồng chí đồng đội, là tiếng kèn dõng dạc thúc
quân…
1.1.2 Trong lịch sử văn học d
cồn, đã tác động vào tư tưởng chúng ta, chỉ cho ta những nẻo vào đời, vực dậy và
hâm nóng trong ta bầu nhiệt huyết tuổi trẻ, cuốn ta vào đại cuộc bằng ti
nh thần ái
quốc quên thân.
Từ khi văn học thành văn đến hết thế kỷ XX, thơ Việt Nam đã trải qua
nhiều chặng đường phát triển với những thành tựu khác nhau nên sức mạnh tác
động của thơ vì vậy mà cũng thăng trầm. Đôi lúc, thi nhân phải đơn độc tìm đường,
cất lên tiếng thơ lẻ bạn nhưng cũng có lúc thơ ca phát triển thành những phong trà
o
mạnh mẽ, thậm chí, có nhiều bài thơ tuy không biết tên tác giả nhưng vẫn cứ được
truyền đọc như truyền cho nhau sức mạnh đấu tranh. Đến thời đại cách mạng, thơ
thật sự là tiếng thét căm thù, là lời kêu gọi hành động, được truyền đi, lan xa, lan xa
như sóng biển. Những làn sóng ấy làm nên một nền thơ cách mạng có sức chiến đấu
như vũ bão, có sức cuốn hút nhâ
n dân hăng hái nhiệt tâm bước vào cuộc chiến đấu
tranh vì độc lập dân tộc.
Trong cuộc chiến chống phong kiến phương Bắc, thơ ca thời Lý Trần nêu
cao tinh thần quật cường, kiên quyết bảo vệ nền độc lập. Các nhà thơ Lý Thường
Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão… cũng là những thiên tài
quân sự với những chiến công sáng chói trong lịch sử giữ nước, họ luôn đứng hiên
ngang trên tuyến đầu chống giặc. Vì vậy mà thơ của họ đã truyền cho ta sức n
én
dồn của lòng yêu nước, của lòng căm thù giặc sâu sắc. "Nam quốc sơn hà" xứng
đáng là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Bài thơ đã bất ngờ
vang vọng trên đoạn sông Như Nguyệt thuộc phòng tuyến sông Cầu làm nao núng,
lung lay ý chí chiến đấu của quân sĩ Tống, khiến quân tướng Đại Việt thêm bừng
bừng khí thế: "Nam quốc sơn hà, Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? Nhữ đẳng hành khang, thủ bại hư
" [65, tr. 68].
"Bình
Ngô đại cáo" đã tiếp thêm cho nhân dân ta sức mạnh, niềm tin vào chính nghĩa, vào
tinh thần quật khởi của giống nòi trước thế lực tàn bạo của kẻ thù mà đứng dậy tiến
công.
Sau Nguyễn Trãi, sự nghiệp của các nhà thơ lớn N
guyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương đều có tác động đáng kể đối với công chúng. Nguyễn
Bỉnh Khiêm dùng văn thơ để giáo huấn, truyền thụ đạo lý cho nhân dân khi chứng
kiến sự suy yếu và thối nát của chế độ phong kiến. Thơ Nguyễn Bỉnh K
hiêm được
viết ra với hy vọng vực lại đạo đức, phong hóa suy đồi để xoay được cái thế thiên
hạ. Người đời sau vẫn chịu ảnh hưởng tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, vẫn nhớ đến
phong vị riêng của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm bởi những lời triết lý và giáo huấn sâu
sắc. Họ luôn tìm thấy t
rong mỗi bài thơ của ông một lẽ biến dịch, tương sinh, tương
khắc; một lời răn dạy; một lời mỉa mai chê trách; một quan niệm nhân sinh... Sức
tác động nhẹ nhàng ấy của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã giúp người ta tự răn mình, tự
dạy mình thành "nhân". Đặc biệt, đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đã nâng thơ thành
tiếng kêu thương, thành tiếng nói nói hộ nỗi khổ đau của nhân tình thế th
ái. Với
"Truyện Kiều" và "Văn tế thập loại chúng sinh", ông đã làm rung chuyển cả lòng
người, đã khóc cho số phận con người và đặt vào trời đất những câu hỏi ai oán
khiến đất trời không thể đứng yên. Đến Nguyễn Du, thơ đi sâu vào trái tim người,
thơ Nôm của Nguyễn Du phản ánh tư duy của cộng đồng và thời đại với những câu
hỏi lớn về xã hội, về kiếp người; thơ chữ Há
n của Nguyễn Du có những câu hỏi đau
đáu niềm u uất của một đời người, có nỗi buồn thê thiết, xót thương cho những kiếp
người cơ cực và nỗi bất bình cho những người tài hoa, bạc mệnh. Thế nên, thơ của
Nguyễn Du có sức tác động mạnh. Mộng Liên Đường đã từng cho rằng nếu Nguyễn
Du “không phải có con mắt trông suốt sáu cõi, tấm