Rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh thông qua dạy học chương I Sinh học 11 - Pdf 28

Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi gặp không ít những khó khăn
nhưng nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô giáo và sự động viên, cổ vũ của
bạn bè, người thân đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Th.s Hoàng Thị
Kim Huyền đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình tôi hoàn thành
khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các cô giáo trong
TrườngTHPT Tống Văn Trân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong việc tìm hiểu và
cung cấp các số liệu về trường. Đây là bước đầu tiên tôi làm quen với công tác
nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi sự thiếu xót. Tôi mong sẽ nhận được
những ý kiến, góp ý của các thầy, cô và các bạn đọc để khỏa luận hoàn thiện
hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 15 thán 5 năm 2013 Sinh viên Nguyễn Thị
Phương
Đề tài: “Rèn luyên kĩ năng tư hoc cho hoc sinh thông qua day hoc
« / • o • • • o M. • ư •
chương I Sinh học 11” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn
của cô giáo Th.s Hoàng Thi Kim Huyền không trùng với kết quả nghiên cứu
nào khác.
Các số liệu, kết quả thu thập được trong khóa luận là: Trung thực, rõ
ràng, chính xác và chưa từng công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu
nào.
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm.
LỜI CẢM ƠN
Hà Nội, ngày 15 thảng 05năm.2013 Sinh viên
Nguyễn Thị Phương
Phần I. MỞ ĐẦU
1.
2
3. CHƯƠNG 2. Rèn luyên kĩ năng tư hoc cho hoc sinh thông


Sách giáo khoa
18.

THCS 19.

Trung học cơ sở
20.

THPT 21.

Trung học phổ thông
22.

CNH- HĐH
23.

Công nghiệp hóa- Hiện
đại hóa
24.

VD 25.

Ví dụ
26.

Tb 27.

Tế bào
28.

chung và quá trình dạy học nói riêng. Trong hoàn cảnh như vậy, giáo dục ý thức
tự học, tự học một cách thường xuyên, có kế hoạch, phương pháp học tập đúng
đắn, khoa học cho HS là một nhiệm vụ bắt buộc và trách nhiệm nặng nề của
GY. Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay: Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH)
ở trường phổ thông luôn là nhiệm vụ thời sự, cấp bách, do sự đòi hỏi của thực
tiễn giáo dục phổ thông nhất là đối với việc thực hiện chương trình, SGK mới.
Sau khi nội dung dạy học bộ môn đã đổi mới thì nhiệm vụ nghiên cứu về
phương pháp dạy học phù họp nội dung là công tác trung tâm của khoa học sư
phạm ở nước ta Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã nêu: cần “Đổi mới và hiện
LỜI CẢM ƠN
đại hoá phương pháp giáo dục .Chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động, thầy
giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp
cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một
cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng họp; phát triển được năng lực của
mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động ,tính tự chủ của học sinh.
38. Chỉ có tự học, tự sáng tạo, học đi đôi với hành mới đáp ứng yêu
cầu của sự phát triển xã hội đang đòi hỏi một nguồn nhân lực chất lượng cao. Do
đó trước hết cần phải rèn luyện cho HS kĩ năng tự học, tự nghiên cứu tài liệu.
Đó sẽ là cơ sở để phát huy năng lực tự học sau này cho các em.
39. Trong các môn học mà học sinh được học trong trường phổ thông
thì môn Sinh học chiếm một vị trí quan trọng nó giúp học sinh vươn tới mọi
khía cạnh của cuộc sống. Để con người thực sự có cuộc sống văn minh, ổn định,
bất kì ở lĩnh vực nào không thể thiếu được những hiểu biết cơ bản về sinh giới.
Vì rằng từ việc giữ gìn sức khỏe đến việc làm tăng của cải vật chất đều cần có
sự hiểu biết về Sinh học.
40. Đối tượng của sinh học luôn sẵn có trong cuộc sống hàng ngày
của học sinh như các loài động vật, thực vật và đặc thù của môn Sinh học là
khoa học thực nghiệm, chính vì thế việc rèn kĩ năng tự học, tự nghiên cứu môn
sinh học cho học sinh là rất cần thiết.
41. Xuất phát từ lí do trên em chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng tự

6. Giả thuyết khoa học
47. Nếu xác định được biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho HS và
thiết kế được hoạt động tự học cho HS thì sẽ rèn luyện được kĩ năng tự học cho
học sinh.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu lí thuyết
48. Nghiên cứu các tài liệu về hệ thống cơ sở lí luận về kĩ năng tự
học, biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học.
7.2 Điều tra quan sát
- Sử dụng phiếu điều tra đối với giáo viên và học sinh để điều tra thực
trạng tự học ở học sinh
- Dự giờ của giáo viên phổ thông để tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động
tự học cho HS
7.3 Phương pháp phỏng vấn.
7.4 Phương pháp chuyên gia
49.

Xin ý kiến chuyên gia tư vấn về biện pháp rèn luyện kĩ năng tự
học cho HS và hệ thống câu hỏi, PHT, bài tập đã biên soạn để rèn luyện kĩ năng
tự học cho HS.
8. Những đóng góp của đề tài /Ỷ nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
(dự kiến)
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về kĩ năng tự học
- Phân tích, phát hiện được những mâu thuẫn và khó khăn trong việc tổ
chức hoạt động tự học và rèn luyện kĩ năng tự học
- Yận dụng được một số biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho HS thông
qua dạy học chương I sinh học 11
LỜI CẢM ƠN
50. -Thiết kế một số giáo án mẫu
51. Phần 2. NỘI DUNG CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÝ LUÂN VÀ THƯC

trong quá trình dạy học như: Catxchuc G.X; Retzke R; Ilina T.A; Brunop
E.P; Picaxistui P.I [5, tr.9].
- Động cơ học tập và giáo dục đúng đắn được N.A. Rubakin; H.Smitman
và nhiều nhà giáo dục học coi là yếu tố quan trọng nhất có tính quyết
định đến hiệu quả tự học, vì nó thúc đẩy người học tích cực chủ động
trong tự học [5, trlO].
- Những năm 30 của thế kỉ XX, nhiều nhà giáo dục Châu Á cũng quan tâm
sâu sắc đến lĩnh vực tự học của học sinh - sinh viên. T.Makiguchi -
người Nhật- nhà sư phạm lỗi lạc đã trình bày các tư tưởng nổi tiếng trong
tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo”. Ông cho rằng giáo dục có
thể coi là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích
người học tạo ra giá trị để đạt đến hạnh phúc của bản thân và cộng đồng.
- về nhiệm vụ của giáo dục được Unesco nghiên cứu và chỉ rõ “Để đáp
ứng thành công nhiệm vụ của mình, giáo dục phải được tổ chức xoay
quanh bốn loại hình học tập cơ bản, mà trong suốt cuộc đời của mỗi con
người, chúng sẽ là trụ cột về kiến thức: Học để biết, học để làm, học để
cùng chung sống, học để làm người” [14, tr 71].
LỜI CẢM ƠN
- Ngày nay, chủ trương giáo dục của mọi quốc gia trên thế giới đều khẳng
định: Lên lóp mà GV chỉ thông báo kiến thức là ít có hiệu quả, cần thay
dần việc thông báo bằng việc tổ chức HS tự tìm tòi để phát hiện kiến
thức.
- Tóm lại hoạt động tự học đã được các tác giả xem xét tương đối cụ thể,
từ vai trò của tự học, các kĩ năng tự học cần thiết đến các điều kiện để tổ
chức quá trình tự học đạt kết quả.
- Hoạt động tự học được các tác giả kết luận là nó phải được thực hiện
trong mối quan hệ tương tác họp lý giữa các yếu tố, cá nhân người học,
giáo viên và các điều kiện hỗ trợ khác.
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
53. Trong lịch sử phát triển của giáo dục ở Việt Nam, vấn đề tự học,

59. Trong nghị quyết của bộ chính trị về cải cách giáo dục
(11/1/1979) đã viết “Cần coi trọng việc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và
phương pháp tự học cho HS, hướng dẫn HS biết cách nghiên cứu SGK, thảo
luận chuyên đề ghi chép tài liệu, tập làm thực nghiệm khoa học”. Chính vì vậy
việc nghiên cứu những vấn đề này có tính thời sự và đã được nhiều nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu.
60. Từ năm học 1977 đến nay, có rất nhiều tác giả với các công trình
LỜI CẢM ƠN
viết về vấn đề tự học như tác giả Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn
Kỳ, Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức, Lê Khánh Bằng, Nguyễn Như Ất, Nguyễn Văn
Hộ Khi nói về tự học GS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng “Cốt lõi của học là tự
học. Hễ có học là có tự học, vì không có ai có thể học hộ người khác được”.
Nhiệm vụ của chúng ta là “biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”, tức là
khéo léo kết họp quá trình dạy học của thầy với quá trình tự học của trò thành
một quá trình thống nhất biện chứng” [7, ừ 60 - 66].
61. Riêng lĩnh vực Sinh học có rất nhiều công trình nghiên cứu về tự
học điển hình như Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, Trần Bá Hoành và
nhiều tác giả khác. Trong các công trình nghiên cứu của mình, tác giả Trần Bá
Hoành đã phân tích cơ sở khoa học, cách thiết kế bài học sinh học theo phương
pháp tích cực và kỹ thuật thực hiện các phương pháp tích cực như kĩ thuật xác
định mục tiêu bài học, sử dụng câu hỏi, phiếu học tập, kỹ thuật đánh giá. Trong
đó ông nhấn mạnh phát triển trí sáng tạo của HS, ông chỉ rõ: “GV phải biết
hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tự mình khám phá kiến thức mới, dạy cho học
sinh không chỉ kiến thức mà cả phương pháp học, trong đó cốt lõi là phương
pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được kĩ năng, phương pháp, thói
quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết
phát hiện và tự lực giải quyết vấn đề đặt ra sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy
tiềm năng vốn có trong mỗi người. Làm được như vậy thì kết quả học tập sẽ
tăng gấp bội, HS sẽ có thể tiếp tục tự học khi vào đời, dễ dàng thích ứng với
cuộc sống xã hội” [12, ừ. 50].

chủ, được sự giúp đỡ và tăng cường của một số yếu tố như GV (có
hướng dẫn), như công nghệ giáo dục hiện đại”. Việc tự học có hướng
dẫn có thể được cụ thể hóa theo mô hình sau:
- Thu nhận thông tin: Qua đọc SGK, tài liệu, qua quan sát, qua thí nghiệm,
qua bài tập,
- Xử lý thông tin: Phân tích, tổng hợp, khái quát, nhận xét đánh giá, phê
phán, tự trình bày, ứng dụng, lập bảng hệ thống,
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: qua trả lời của bạn, qua tự trả lời, qua tổng
kết của thầy.
66. Như vậy người học là chủ thể, trung tâm tự mình chiếm lĩnh tri
thức, chân lí bằng hành động của chính mình. Thầy là tác nhân hướng dẫn, tổ
chức, đạo diễn cho vai trò tự học trong sự họp tác với bạn.
1.2.2. Vai trò của tự học
1.2.2.1. Tự học - nhu cầu và đòi hỏi của thời đại đổi với mỗi con người
trong thể kỷ XXI
67. Khoa học và công nghệ phát triển ở cấp vũ trụ đã tạo ra nhiều
phương pháp tiếp cận tri thức khác nhau theo khả năng và điều kiện cho phép.
Để cập nhật và ứng dụng được tri thức lý thuyết và thực hành vào cuộc sống và
sản xuất thì phải có năng lực tự học ở bất cứ đâu, hoàn cảnh nào.
68. Yấn đề thay sách mới đây nhất cho thấy, chúng ta đã tăng lượng
kiến thức lên quá nhiều. Để chiếm lĩnh được khối lượng kiến thức đó đòi hỏi HS
phải có những phương pháp tự học tốt nhất. Tri thức nhân loại là vô tận, những
công trình khoa học được các nhà khoa học phát minh ra hàng ngày, để chiếm
LỜI CẢM ƠN
lĩnh và ứng dụng được các tri thức khoa học vào đời sống đòi hỏi mỗi người
phải tự nghiên cứu tìm tòi ra phương pháp tự học ở nhà trường và ngoài xã hội.
1.2.2.2. Tự học — lời giải cho vẩn đề mang nhiều nghịch ỉỷ đang đặt ra
trong chiến lược giáo dục con người
69. Nghịch lí đầu tiên mà tự học khắc phục đó là con đường tri thức
thì vô hạn nhưng tuổi học đường thì có giới hạn. Ở nước ta đào tạo Trung học

chú ý cao, sự kiểm soát chặt chẽ của thị giác, hành động chưa bao quát,
còn có động tác thừa. Được hình thành do luyện tập hay do bắt chước.
[10].
76. Nói cách khác “Kĩ năng là một việc gì đó mà HS phải thể hiện
cái phải làm. Kĩ năng bao hàm một hành vi trong đó kiến thức, hiểu biết và lập
luận được vận dụng một cách công khai” [11, tr.35].
* Rèn luyện kĩ năng tự học: Thực chất là hình thành và hoàn thiện hệ
thống kĩ năng tự học. Khi tiếp xúc với nguồn kiến thức khác nhau, học
sinh cần có kĩ năng hành động tương ứng. HS biết cách tổ chức, thu thập
thông tin, xử lí thông tin, tự kiểm tra, tự điều chỉnh trong quá trình làm
việc với các nguồn tri thức nghĩa là đã nắm được phương pháp học để
học trên lớp và tự học. Hoạt động học bao gồm một số hành động học có
mục đích phù họp, đáp ứng mục đích chung của hoạt động học, biết cách
sắp xếp trình tự, các hành động một cách họp lí, biết thực hiện các hành
LỜI CẢM ƠN
động học có kết quả. Người nào biết lựa chọn, sắp xếp và thực hiện đúng
các hành động theo đúng quy trình để đạt tới mục đích hoạt động thì
người đó có phương pháp học.
1.2.4 Cơ sở của việc rèn luyện KNTH cho HS
1.2.4.1 Cơ sở triết học
77. Theo quan điểm triết học thì kết quả của hành động bị chi phối
bởi hai yếu tố là nội lực và ngoại lực. Yếu tố ngoại lực trong học tập là sự tác
động, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn của GV. Người thầy giỏi là người biết tự
học sáng tạo suốt đời. Yếu tố nội lực là vốn tri thức đã có, động cơ học tập, năng
lực tự điều chỉnh và nội lực là quan trọng nhất. Nội lực là nhân tố quyết định
đến kết quả quá trinh nhận thức và rèn luyện kĩ năng. Do đó cần chú trọng đến
yếu tố nội lực.
78. Song tự học - thuộc quá trình cá nhân hóa việc học - không có
nghĩa là học một mình, đơn thân độc mã, mà học trong sự họp tác với các bạn,
trong môi trường xã hội, dưới sự hướng dẫn của thầy và sự họp tác của các bạn

cho HS.
1.3 Cơ SỞ THỰC TIỄN
1.3.1 Phương pháp xác định thực trạng
85. Để tìm hiểu thực trạng của việc giảng dạy và việc rèn luyện kĩ
LỜI CẢM ƠN
năng tự học cho HS thông qua chương I Sinh học 11, chúng em đã sử dụng các
phương pháp sau:
* Sử dụng phương pháp điều tra: Thiết kế phiếu điều tra( Phụ lục 1,2) để
điều tra về thực trạng rèn luyện kĩ năng tự học cho HS thông qua chương
I sinh học 11.
* Sử dụng phương pháp phỏng vấn.
- Em đã tiến hành phỏng vấn 5 thầy (cô) dạy môn Sinh học lớp 11 và các
em học sinh khối 11 ở trường THPT Tống Văn Trân- Nam Định.
* Sử dụng phương pháp quan sát: Dự giờ dạy, tham khảo bài soạn của một
số GV dạy môn Sinh học 11, quan sát hoạt động tự học của HS, gặp gỡ
trao đổi với các giáo viên và HS về vấn đề quan tâm.
1.3.2 Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng tự học cho HS thông qua
dạy học chương I sinh học 11
86. Qua điều tra, em có thể tóm tắt được kết quả như sau:
1.3.2.1 Thực trạng
* về việc GV hướng dẫn HS tự học chương I Sinh học 11:
- Giáo viên thường chỉ yêu cầu HS học bài cũ và chuẩn bị bài mới theo
câu hỏi và bài tập trong SGK, một số GV có thể hướng dẫn HS học bài
cũ và chuẩn bị bài mới. Một số GV quan tâm đến việc yêu cầu học sinh
lập dàn ý và xây dựng sơ đồ Grap cho các bài học và các bài ôn tập
chương.
- GV ở trường phổ thông đã sử dụng một số biện pháp rèn luyện kĩ năng
tự học cho HS như: Hướng dẫn HS trả lời câu hỏi, hướng dẫn HS giải
bài tập có một số GV đã hướng dẫn HS biện pháp tự học tích cực khác
LỜI CẢM ƠN

vững những kiến thức cơ bản chứ ít có nhu cầu mở rộng, hiểu sâu kiến
thức.
- về hoạt động của HS trong giờ lên lớp: Phần nhiều HS thụ động nghe
giảng, ít động não suy nghĩ, chỉ trả lời khi thầy yêu cầu và không dám
hỏi thầy khi có thắc mắc, ghi (chép lại) theo nội dung đọc tóm tắt của
thầy, chỉ có một số nhỏ HS tích cực, chủ động trong quá trình học như
sẵn sàng trả lời câu hỏi của thầy nếu biết và thậm chí sẵn sàng hỏi lại
thầy nếu có thắc mắc.
- về vấn đề thảo luận nhóm: Qua dự giờ và trao đổi với các em HS và GY
em thấy: Khi GV yêu cầu nghiên cứu SGK trao đổi nhóm và thảo luận,
một số nhỏ HS không làm gì chỉ nghe các bạn trong nhóm làm và báo
cáo, phần lớn các em có tham gia (để GV không phê bình) nhưng không
nhiệt tình. Chỉ những HS học khá, hay phát biểu (năng động) thì giữ vai
trò chủ chốt trong giờ học khi GV sử dụng hình thức trao đổi nhóm. Đa
số các em biết bám sát yêu cầu của câu hỏi khi thảo luận song khả năng
diễn đạt ý kiến rõ ràng, ngắn gọn và khả năng tranh luận để bảo vệ ý
kiến của mình, của nhóm mình còn hạn chế.
- về ý thức môn học: thì phần lớn các em chỉ coi môn sinh học là nhiệm
vụ bắt buộc, không hứng thú, say mê môn học. Chỉ một phần nhỏ là yêu
LỜI CẢM ƠN
thích và say mê nó.
1.3.2.2 Nguyên nhân của thực trạng nói trên:
* về phía HS:
- Do các em đã quá quen với cách học từ cấp 2 theo lối bị động, chưa có
phương pháp tự học hiệu quả.
- Do có nhiều HS thiếu hụt về kiến thức, động vào đâu cũng thấy khó
thành ra chán nản với việc học và từ đó dẫn đến không quan tâm đến tự
học.
- Tâm lí nhiều HS cho bộ môn Sinh là môn phụ do vậy không quan tâm,
không chịu đầu tư công sức, thời gian cũng như không hứng thú lắm đến

thu bài giảng không hiệu quả
90. Cần có nhiều mẫu vật trực quan mà giáo viên phải nêu ra hoặc
chuẩn bị và mang tới lớp giúp bài học sinh động. Mà những mẫu vật hay hiện
tượng này học sinh có thể dễ dàng chuẩn bị hoặc trực tiếp quan sát được trong
cuộc sống xung quanh ngay trong vườn nhà hay ngoài đồng ruộng.
2.2 Một số KNTH cần rèn luyện cho HS thông qua dạy học Sinh học
11 2.2.1 Kĩ năng đọc SGK
* “Để nâng cao giá trị dạy học, GV phải xem SGK là công cụ để tổ chức
LỜI CẢM ƠN
hoạt động tự học của HS” [5]. SGK chứa đựng những kiến thức khoa
học cơ bản và hệ thống nên HS có thể lĩnh hội kiến thức một cách logic,
ngắn gọn, súc tích, rõ ràng và khái quát nhất. Trong quá trình làm việc
với SGK, HS không những chỉ nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện các
thao tác tư duy, hình thành kĩ năng, kĩ xảo đọc sách. Với tư cách là
nguồn cung cấp kiến thức cơ bản cho HS. Do vậy điểm mấu chốt của
việc nâng cao năng lực tự học cho HS là mỗi GV phải biết tổ chức cho
HS cách làm việc với các bài trong SGK.
* Để giới thiệu cho HS cách làm việc với các bài học trong SGK, GV chỉ
cho HS biết làm việc với bài học là làm việc với cả phần chữ và phần
hình dựa theo các câu hỏi tương ứng ở phần đó, đồng thời chỉ ra cho HS
thấy, để làm việc với bài học có kết quả thì có thể tiến hành theo quy
trình sau:
1. Đọc và tìm hiểu sơ bộ về nội dung bài học: Tên bài, tìm hiểu thông tin ở
đầu bài và đọc lướt qua xem trong bài có những tiểu mục gì để hiểu sơ
bộ bài học nghiên cứu vấn đề gì?
2. Đọc kĩ và tìm hiểu nội dung khoa học của bài và nội dung các hoạt động
cần thực hiện qua việc:
- Xác định các thuật ngữ mới trong bài, tìm hiểu nghĩa của những thuật
ngữ đó.
- Tìm hiểu ý nghĩa của các công thức, các số liệu bằng cách so sánh với

- Bước 3: Tổ chức luyện tập trong quá trình dạy học. Việc tổ chức luyện
tập được tiến hành theo 2 giai đoạn:
96. + Giai đoạn 1 : GV trực tiếp hướng dẫn HS cách trả lời câu hỏi,
với mục đích làm cho HS nắm được các trình tự thao tác của kĩ năng trả lời câu
hỏi.
97. + Giai đoạn 2: Khi HS đã nắm được cách thực hiện trả lời câu
hỏi và có khả năng thực hiện được các thao tác đó ở mức độ nhất định, GV đưa
câu hỏi yêu cầu HS thực hiện trên phiếu học tập (hoặc hệ thống câu hỏi cho về
nhà). Đối với những câu hỏi khó đòi hỏi tư duy tổng họp khái quát, GV cần
hướng dẫn mang tính chất định hướng cho HS.
* Ví dụ minh họa : Nghiên cứu thông tin SGK trang 25/ sinh học 11 kết
họp với kiến thức đã biết, trả lời các câu hỏi sau:
- Kể tên các chất hữu cơ chứa Nitơ? Từ đó nêu vai trò của N trong đời
sống thực vật? Dấu hiệu thiếu N của cây ?
- Các dạng Nitơ nào cây dễ hấp thụ ?
- Nguồn cung cấp Nitơ tự nhiên cho cây ?
2.2.3 Kĩ năng làm việc với hình vẽ trong SGK
98. về kĩ năng làm việc với hình vẽ, chủ yếu rèn luyện cho HS khả
năng xác định xem hình vẽ cho biết điều gì, biết xem xét các chi tiết, các bộ
phận trên hình vẽ (mức độ 1), rèn luyện khả năng mô tả, rút ra các nhận xét khái
quát về đặc điểm của đối tượng hay trình bày diễn biến của hiện tượng, quá
trinh được thể hiện qua hình vẽ (mức độ cao hơn).
99. Hình vẽ trong SGK là phương tiện trực quan trình bày các đặc
LỜI CẢM ƠN

Trích đoạn Sử dụng bộ cõu hỏi trắc nghiệm khỏch quan Hệ thống cõu hỏi, bài tập, phiếu học tập nhằm rốn luyện kĩ năng tự học cho HS thụng qua dạy học cỏc bài thuộc chương I sinh học Nguản gốc ôxi trong quang hĩp? 3 H y chăn đ,p ,n đúng: Nguyễn Cảnh Toàn(1997), Quỏ trỡnh dạy học, NXB giỏo dục.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status