1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM THỊ THỦY
SỬ DỤNG BÀI TẬP LỊCH SỬ NHẰM RÈN LUYỆN
KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(Vận dụng khóa trình lịch sử thế giới cận đại lớp 11,
Trung học phổ thông, chƣơng trình chuẩn). LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
Mã số: 601410
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thế Bình
HÀ NỘI – 2012
5
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng bài tập
nhằm rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh trong dạy học
lịch sử ở trương THPT 12
1.1. Cơ sở lý luận 12
1.1.1. Quan niệm về sử dụng bài tập nhằm rèn luyện kỹ năng tự
học cho học sinh 12
1.1.2. Cơ sở xuất phát của việc sử dụng bài tập.nhằm rèn luyện
kỹ năng tự học cho học sinh 26
lớp 11, THPT, chương trình chuẩn 58
2.3.1. Bài tập trắc nghiệm khách quan 58
2.3.2. Bài tập tự luận 69
2.3.3. Bài tập thực hành 76
2.4. Thực nghiệm sư phạm 84
2.4.1. Mục đích thực nghiệm 84
2.4.2. Đối tượng thực nghiệm 85
2.4.3. Nội dung thực nghiệm 85
2.4.4. Phương pháp thực nghiệm 85
2.4.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm 86
Kết luận và khuyến nghị 89
Tài liệu thamkhảo 92
Phụ lục 95 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
TH: Tự học
KNTH: Kỹ năng tự học
RLKNTH: Rèn luyện kỹ năng tự học
SGK: Sách giáo khoa
THPT: Trung học phổ thông
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
học tập cho học sinh” [24;23].
Có nhiều kỹ năng tự học cần hình thành và rèn luyện cho HS trong quá trình dạy
học bộ môn lịch sử. Khi giải quyết bài tập, các kỹ năng cơ bản như làm việc với
sách giáo khoa; ghi nhớ sự kiện, tái hiện kiến thức lịch sử; phân tích, tổng hợp kiến
thức; so sánh, đối chiếu sự kiện, hiện tượng; đánh giá nhân vật; thực hành bộ môn
được củng cố và phát triển. Bên cạnh đó, rèn luyện cho HS tính tự giác, tích cực,
chủ động, độc lập và hứng thú đối với bộ môn. Đây là những yếu tố đặc trưng của
quá trình tự học.
Sử dụng bài tập để rèn luyện các kĩ năng tự học cho HS trong quá trình dạy học
lịch sử ở nhà trường phổ thông có vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, trên thực tế
nhiều giáo viên chỉ tập trung vào dạy kiến thức, ít khuyến khích HS tự học. Do vậy,
sử dụng bài tập đôi khi chỉ mang tính hình thức, chiếu lệ, không đạt hiệu quả cao.
8
Về phía HS, do nhiều yếu tố tác động, đặc biệt tâm lý coi nhẹ môn phụ, tình trạng
học tập thụ động, ảnh hưởng từ quan niệm xã hội, chi phối tới quá trình hoàn
thành bài tập. Một bộ phận không nhỏ học sinh phổ thông hiện nay chưa có ý thức
làm bài hoặc làm bài tập để đối phó với sự kiểm tra của giáo viên. Thực trạng trên
khiến việc sử dụng bài tập để rèn luyện các kỹ năng tự học cho HS chưa phát huy
hết tác dụng của nó. Theo đó, hiệu quả học tập của HS chưa cao.
Quá trình phát triển của lịch sử thế giới cận đại (thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ
XX) trong chương trình lịch sử lớp 11 là giai đoạn phát triển tiếp nối giai đoạn lịch
sử thế giới trung đại (Thế kỷ V – XVI) và phần lịch sử thế giới cận đại lớp 10 (thế
kỷ XVI – XVIII), đồng thời kết nối và mở ra giai đoạn phát triền tiếp theo của lịch
sử thế giới hiện đại. Với nội dung phong phú và cơ bản, khóa trình lịch sử thế giới
cận đại chiếm vị trí quan trọng trong chương trình lịch sử lớp 11 ở trường THPT.
Muốn hiểu rõ về giai đoạn này cũng như vận dụng kiến thức để tìm hiểu giai đoạn
tiếp theo, học sinh cần học tập chủ động, rèn luyện các kỹ năng tự học của bản thân.
Sử dụng hệ thống bài tập sẽ giúp các em đạt được mục tiêu đó.
Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến nay, cùng với sự phát triển của xã hội
loài người, vấn đề tự học được đề cao. Báo cáo của Edgare Faure công bố năm 1972
do UNESCO bảo trợ nêu rõ “Học để làm người có nghĩa là khuyến khích sự phát
triển nhất tiềm năng sáng tạo của mỗi con người [42;103-104]. N.A Rubakin với
tác phẩm “Tự học như thế nào” nhấn mạnh “Việc giáo dục động cơ đúng đắn là
điều kiện cơ bản để bạn tích cực, chủ động trong tự học” [28; 36]. Trong cuốn
“Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào”, I.F.Kharlamop khẳng định: “Tự
học có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tính tích cực nhận thức và hiệu
quả hoạt động trí tuệ của học sinh” [15; 48]. Rogers – nhà giáo dục Mỹ những năm
cuối thế kỷ XX cho rằng, mục đích dạy học là giúp người học khơi dậy tiềm năng
vốn có chưa được sử dụng thường xuyên. Khuyến cáo của UNESCO về “Giáo dục
cho thế kỷ XXI” nêu ra bốn trụ cột của giáo dục: Học để biết, học để làm, học để
chung sống và học để khẳng định mình.
Bên cạnh việc bổ sung hoàn chỉnh những vấn đề lý luận về tự học, các nhà
nghiên cứu cũng đưa ra nhiều quan điểm tổ chức hoạt động tích cực của HS, trong
đó có sử dụng hệ thống bài tập: Tác phẩm “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào”
10
của nhà sư phạm N.G.Đairi nhấn mạnh đến loại bài tập gợi vấn đề trên lớp để tổ
chức hoạt động nhận thức của người học. Giáo viên cần “quy định một cách hợp lý
những bài tập cho học sinh khi nghiên cứu tài liệu mới lần đầu tiên, khi học tập ở
nhà, khi kiểm tra kiến thức và khi ôn tập” [10; 98]. Trong cuốn “Phát triển tư duy
học sinh” tác giả V.Onhinsuc nêu ra các hình thức để rèn luyện kết quả cũng như
phát triển kỹ năng tự học cho HS, trong đó có việc làm bài tập. Học giả Savin cho
rằng, GV có thể tổ chức công việc tự học của HS qua bài tập như đọc sách giáo
khoa, viết (bài tập), bài tập thực hành. Điều quan trọng là giáo viên cần chỉ dẫn cách
làm bài tập, dạy các em cách làm việc độc lập và có phương pháp kiểm tra đánh giá
phù hợp hơn. Cuốn sách “Phương pháp dạy học lịch sử qua sơ đồ, bảng biểu và
hình vẽ” của các tác giả M.B Kôrokova, Studennhikin nêu ra các năng lực tự học
mà giáo viên cần định hướng cho người học như tái hiện và tái tạo lại các biểu
Chủ tich Hồ Chí Minh không chỉ là tấm gương tự học, mà còn có nhiều quan
điểm lý luận đúng đắn xoay quanh vấn đề này. Người dạy rằng: “về cách học phải
lấy tự học là cốt Phải tự nguyện tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ cách
mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành
kế hoạch học tập”[26;11]. Nguyên tắc TH đem lại thành công cho Hồ Chí Minh
chính là sự kết hợp giữa học và hành “học đến đâu, luyện tập thực hành đến đến
đó”[26;174].
Những năm 60, tư tưởng tự đào tạo đã xuất hiện ở trường Đại học sư phạm Hà
Nội với phong cách giảng dạy và học tập mới, cốt lõi là khẩu hiệu “Biến quá trình
đào tạo thành quá trình tự đào tạo”[42;106].
Từ những năm 1977 – 1978 đến năm 1986 – 1987, dưới sự chủ trì của GS.
Nguyễn Cảnh Toàn, tập thể các nhà khoa học đã nghiên cứu và triển khai chương
trình “Tự học có hướng dẫn kết hợp với thực tập dài hạn ở trường phổ thông” (gọi
tắt là vừa học vừa làm giáo viên). Nguyên thứ trưởng Nguyễn Kỳ có bài viết
“Thành công lớn của một chiến lược con người” in trong Tạp chí Giáo dục số
5/1990 đề ra chiến lược giáo dục với nguyên tắc “tự học, tự quản, tự rèn luyện”.
Năm 1998, ý thức được tầm quan trọng của TH trong giáo dục và phát triển, hội
thảo khoa học “Nghiên cứu và phát triển tự học, tự đào tạo” được tổ chức. Hội thảo
12
thu hút sự quan tâm của nhiều giáo sư và những nhà nghiên cứu đầu ngành. Cũng
trong năm này, Nhà xuất bản Giáo dục cho ra mắt cuốn “Tự học – tự đào tạo – tư
tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam”. Tác phẩm bao gồm nhiều bài
viết của các nhà sư phạm, nhà nghiên cứu giáo dục do GS. Nguyễn Cảnh Toàn và
GS. Nguyễn Như Ý chịu trách nhiệm xuất bản.
Ngoài ra, Tạp chí Tự học của Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học do GS.
Nguyễn Cảnh Toàn chịu trách nhiệm sản xuất ra đời. Tạp chí có nhiều bài viết của
các nhà khoa học, nhà chính trị, tiêu biểu như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng,
Nguyễn Tấn Phát, bàn về vấn đề TH ở các môn khác nhau.
Năm 2001, hai cuốn sách “Học và dạy cách học”, “Tuyển tập tác phẩm tự học,
Thanh Thủy, Thiết kế và sử dụng bài tập về nhà trong dạy học lịch sử ở trường phổ
thông của trần Thị Phương Lan đề cập tới một số biện pháp sử dụng các dạng bài
tập để rèn luyện, phát triển năng lực TH cho HS.
Bên cạnh đó, có nhiều bài báo, khóa luận tốt nghiệp đề cập tới các biện pháp rèn
luyện và phát triển KNTH lịch sử. Điển hình như “Hướng dẫn làm bài tập lịch sử”
của tác giả Nguyễn thị Côi và Phạm Thị Kim Anh đăng trên Tạp chí Giáo dục số
6/1994, Một số biện pháp sư phạm nhằm phát huy tính tích cực cho HS trong dạy
học lịch sử lớp 7 THCS vùng kim Sơn – Ninh Bình” của Lê Thị Huệ, Một số biện
pháp rèn luyện ký năng tự học cho học sinh trong dạy học bài ôn tập, sơ kết, tổng
kết môn lịch sử lớp 11 THPT (chương trình chuẩn) của Đỗ Thu Quyên,
Như vậy, vấn đề tự học và các biện pháp tổ chức hoạt động TH được đông đảo
các nhà giáo dục trên thế giới và trong nước đề cập tới dưới nhiều hình thức, mức
độ khác nhau. Nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu các biện pháp sử
dụng bài tập nhằm rèn luyện kỹ năng tự học cho HS. Chính vì vậy, chúng tôi khẳng
định đây là hướng khai thác mới của luận văn.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình sử dụng bài tập nhằm rèn luyện KNTH cho HS trong dạy học lịch sử
ở trường THPT.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
14
Luận văn không đi sâu nghiên cứu về bài tâp, rèn luyện KNTH nói chung, mà
trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thành tựu về vấn đề này, chúng tôi tập trung
xác định các biện pháp nhằm rèn luyện KNTH cho HS thông qua sử dụng bài tập
lịch sử. Nội dung kiến thức cần khai thác giới hạn ở phần lịch sử thế giới cận đại
(thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX), lớp 11 THPT, chương trình chuẩn.
Do thời gian và trình độ có hạn, luận văn tiến hành điều tra ở một số trường tại
huyện Kinh Môn – tỉnh Hải Dương. Chúng tôi chỉ thực nghiệm sư phạm qua một
bài: Chiến tranh thế giới thứ nhất(1914 – 1918), (tiết 01) tại trường THPT Phúc
sử thế giới cận đại (thế kỷ XIX– nửa đầu thế kỷ XX) nói riêng.
- Tiến hành khảo sát, điều tra thực tiễn bằng phiếu hỏi, quan sát, dự giờ,
phỏng vấn giáo viên, học sinh về vấn đề sử dụng bài tập nhằm rèn luyện KNTH.
- Đề xuất các biện pháp sư phạm và tiến hành thực nghiệm ở trường phổ
thông.
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả thực nghiệm.
6. Giả thuyết khoa học
Trong thực tế giảng dạy lịch sử ở trường THPT hiện nay, việc sử dụng bài
tập lịch sử nhằm rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh còn nhiều hạn chế. Vì vậy,
nếu sử dụng các biện pháp theo yêu cầu của luận văn đưa ra sẽ góp phần rèn luyện
tốt kỹ năng tự học cho học sinh và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường
THPT.
7. Đóng góp của luận văn
- Khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng bài tập nhằm rèn luyện KNTH
cho HS trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
- Phản ánh rõ thực trạng sử dụng bài tập nhằm rèn luyện KNTH cho HS
trong dạy môn học lịch sử ở trường THPT.
- Đề xuất một số biện pháp sử dụng bài tập nhằm rèn luyện KNTH cho HS
trong dạy học lịch sử thế giới cận đại (thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX) lớp 11
THPT, chương trình chuẩn.
16
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
8.1. Ý nghĩa khoa học
Góp phần làm phong phú thêm lí luận phương pháp dạy học lịch sử về rèn
luyện KNTH cho HS qua sử dụng bài tập lịch sử.
8.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh ở
trường THPT trong việc rèn luyện KNTH cho HS trong dạy học lịch sử.
9. Bố cục khóa luận
theo trình độ nhận thức của người học từ đơn giản đến phức tạp như sau:
(1) Học là chiếm lĩnh thông tin càng nhiều càng tốt. Càng học càng nắm bắt
được nhiều thông tin. Học là tích lũy, gia tăng số lượng kiến thức
(2) Học là ghi nhớ lặp lại và thuộc lòng, là quá trình tích lũy thông tin mà ta
có thể tái hiện như là những mẩu kiến thức tách biệt
(3) Học là quá trình chiếm lĩnh, ứng dụng hay sử dụng kiến thức. Học là nắm
bắt sự kiện, kĩ năng hay quy trình có thể lưu trữ và sử dụng khi cần. Học là tích lũy
thông tin vào bộ nhớ để sử dụng mỗi khi có tình huống đòi hỏi.
(4) Học là quá trình trừu tượng hóa, định hướng, định giá trị. Học là liên kết
cái đang học với cái đã biết với thực tiễn của cuộc sống. Học là hiểu bản chất sự
vật, nối liền sự vật với nhau, lý giải và kiểm nghiệm giá trị của sự vật trong thực
tiễn.
(5) Học là tạo ra sự biến đổi trong nhận thức để hiểu biết thế giới bằng lí giải
và thông hiểu thực tiễn. Học là xác định mô hình thông tin và liên kết mô hình đó
với thông tin từ các tình huống và hoàn cảnh khác nhau.
(6) Học là biến đổi con người. Học là thông hiểu thế giới bằng nhiều con
đường khác nhau mà kết quả là làm biến đổi bản thân con người. Học là quá trình tự
18
tạo ra sự tiến hóa tổng hợp về tri thức, kĩ năng, thái độ và giá trị của một con người.
Đi vào chiều sâu, học có bản chất cốt lõi là tự học.
Với những định nghĩa khác nhau về khái niệm “học” cho ta một cái nhìn khá
toàn diện. Ổ mỗi giai đoạn khác nhau, mục đích học tập thay đổi nên việc “học”
cũng thay đổi. Khi người học là học sinh THPT thì việc “học” có thể hiểu đơn giản
là việc các em tiếp nhận kiến thức của bản thân bằng cách tự tìm hiểu qua sách, báo
hay do người khác (chủ yếu là GV) truyền đạt lại cho mình. Kiến thức đó bao gồm
cả tự nhiên, xã hội và kinh nghiệm sống.
Theo Nguyễn Kì (1998): “Học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội
tại trong đó chủ thể tự thể hiện mình tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách
thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người
chung chung mà phải nghiên cứu vấn đề đang được trao đổi, thảo luận – những vấn
đề chủ yếu của thời đại mở rộng tầm nhìn cho bản thân “Hãy học bằng tất cả lí trí
và tâm hồn, cảm xúc của mình”. Như vậy với Rubakin tự học là quá trình người học
tự so sánh, đối chiếu hỏi và đáp, sự so sánh giữa lí thuyết và thực hành, giữa sách
vở với thực tế cuộc sống, từ đó mà rút ra cho mình một tri thức riêng đầy sáng tạo.
Trong quá trình tự học con người không hoàn toàn phụ thuộc vào cuộc sống mà cần
phải đưa nó lên trên cơ sở tự nâng mình lên [29]
Các tác giả trong nước cũng đưa ra một số ý kiến về tự học. Theo GS.TS
Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường định nghĩa, tự học là tự
mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, cơ bắp, phẩm chất, động cơ,
tình cảm để “chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực
đó thành sở hữu của mình” [34;101]. Theo tác giả Thái Duy Tuyên “Tự học là hoạt
động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo về kinh nghiệm lịch sử loài
người và của chính bản thân người học” [38;114].
Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào
tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “ Học bao giờ và
lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế
hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện
cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”
20
Theo Từ điển giáo dục học cho rằng: “Tự học là quá trình tự mình hoạt động
lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành không có sự hướng dẫn
trực tiếp của giáo viên và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục, đào tạo [13;34].
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về tự
học. Tuy nhiên, các học giả đều thống nhất ở yếu tố tự giác, chủ động và độc lập
của người học trong quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học, những kiến thức của
cuộc sống hàng ngày.
Như vậy, tự học là một bộ phận của học tập, nó được tạo thành bởi những
thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học. Đó là quá trình cá nhân tập
Lớp: cộng đồng lớp học, môi trường xã hội
Tri thức: Tự tìm ra với sự hướng dẫn của thầy và hợp tác của cả lớp
Thầy: tác nhân hướng dẫn, tổ chức
Tự học có những vai trò sau đây:
Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học. Trong quá trình hoạt động
dạy học giáo viên không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức có sẵn, chỉ
cần yêu cầu HS ghi nhớ, mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho HS tự
khám phá ra quy luật, thuộc tính mới của khoa học. Giúp HS không chỉ nắm bắt
được tri thức, mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy. Muốn thành công trên
bước đường học tập thì phải có khả năng phát hiện và tự giải quyết những vấn đề
mà cuộc sống, khoa học đặt ra.
Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh
mẽ cho quá trình học tập. Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân
là tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh. Nhiệm vụ quan trọng của
giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học. Bởi từ đó nền giáo dục mới
mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi hoàn
cảnh, góp phần phát triển cộng đồng. Có thể xem tính tích cực như một điều kiện,
kết quả của sự phát triển nhân cách. Trong đó, hoạt động tự học là những biểu hiện
sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng HS trong quá trình nhận thức thông qua sự
hưng phấn tích cực. Mà sự hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú học tập. Có
hứng thú HS mới có được sự tự giác say mê tìm tòi nghiên cứu. Hứng thú là động
lực dẫn tới tự giác, nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập của HS.
Thầy
Trò
22
Tự học giúp mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng
định năng lực phẩm chất và cống hiến. Tự học giúp con người thích ứng với mọi
hoàn cảnh sống. Nếu rèn luyện cho HS có được kỹ năng tự học thì tạo cho họ lòng
hình thức tự học này càng thu hẹp.
Đối với HS THPT thì hình thức tự học có sự hướng dẫn trực tiếp của GV ở
trên lớp và học tập ở nhà (HS tự làm bài tập, tự đọc, tự nghiên cứu theo SGK, tài
liệu tham khảo ) là phổ biến nhất. Do đó hoạt động tự học của HS có một số dấu
hiệu đặc trưng:
+ Học sinh phải tìm ra kiến thức bằng chính hoạt động của mình.
+ Học sinh tự thể hiện mình, đặt mình vào tình huống, nghiên cứu cách xử
lý, tự trình bày, bảo vệ sản phẩm của bản thân, tỏ rõ thái độ trước cách ứng xử của
bạn, tập giao tiếp, hợp tác với mọi người trong quá trình tìm ra kiến thức.
+ GV là người hướng dẫn HS nghiên cứu tìm ra kiến thức và tự thể hiện
mình trong lớp học. Đồng thời, người dạy cũng là trọng tài cố vấn, kết luận trong
các cuộc tranh luận, đối thoại giữa trò với thầy, trò với trò, để khẳng định kiến thức
do trò tự tìm ra. Thầy giáo là người kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của học sinh.
+ HS tự đánh giá, tự kiểm tra lại sản phẩm ban đầu sau khi đã trao đổi hợp
tác với bạn. Dựa vào kết luận của giáo viên, các em tự sửa chữa, điều chỉnh, hoàn
thiện và rút kinh nghiệm về cách học, xử lý tình huống, giải quyết vấn đề của mình.
Như vậy quá trình tự học của HS có thể chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: HS tự phát hiện vấn đề, định hướng cách giải quyết vấn đề, thu
thập thông tin và ghi lại những nghiên cứu ban đầu.
Gai đoạn 2: Tự thể hiện bằng văn bản, trình bày giới thiệu và bảo vệ ý kiến
của mình, ghi lại ý kiến của bạn bè, thầy giáo.
Giai đoạn 3: So sánh đối chiếu kết luận của thầy, bạn với ý kiến của mình để
tự sửa chữa điều chỉnh, tự rút ra kinh nghiệm về cách học, cách xử lí tình huống,
cách giải quyết vấn đề.
24
Để HS có thể thực hiện tốt ba giai đoạn tự học thì người giáo viên phải dạy
tốt ba giai đoạn dạy tự học ở trên lớp cho HS của mình:
Giai đoạn 1: Hướng dẫn thông qua những tình huống, những vấn đề và đề ra
nhiệm vụ học tập cho HS.
nhiệm vụ học tập bộ môn.
1.1.1.2. Kỹ năng và rèn luyện kỹ năng tự học lịch sử
- Kỹ năng
Có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng. Theo Từ điển Tiếng Việt, “kỹ
năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào
đó vào thực tế” [38;520].
Nhóm các tác giả AV Petrovxki, VA Cruchetxki, AG Covaliov, a Rudich,
xem kỹ năng là kỹ thuật của hành động. Quan niệm này cho rằng, kỹ năng là
phương tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động nào
đó. “Chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con người đã có kỹ năng, không
cần đến kết quả của hành động” [13;42].
M.Alêxeep quan niệm “kỹ năng là sự vận dụng tri thức trong thực tiễn, việc
hình thành tri thức tạo điều kiện thuận lợi cho việc rèn luyện kỹ năng” [17;27].
KK Platonov, N Đ Levitov, B. Phlomov, MA Danhilov, xem kỹ năng
không chỉ là kỹ thuật của hành động mà bao gồm cả năng lực giải quyết vấn đề.
“Kỹ năng không chỉ bao gồm các hành động vận động, mà cả những hành động trí
tuệ, độc lập lập kế hoạch quá trình làm việc, tìm thấy trong mỗi trường hợp cụ thể
các phương pháp hợp lý” [14;343]
Cũng theo các nhà tâm lý học, giáo dục học, người có kỹ năng về một hành
động nào đó là người có:
+ Tri thức về hành động bao gồm mục đích, cách thức thực hiện, các điều
kiện để thực hiện hành động.
+ Thực hiện hành động đúng với yêu cầu của nó.
+ Đạt được hiệu quả của hành động như mục đích đã đặt ra.
26
+ Có thể hành động đạt kết quả với những hành động tương tự trong những
điều kiện khác.
Như vậy, nếu xem kỹ năng đơn thuần chỉ nghiêng về mặt kỹ thuật của hành
động thì có thể sẽ đồng nhất kỹ năng với các thao tác của thiết bị máy móc đã được