MỞ ĐẦU
Quá trình thực hiện công cuộc đổi mới hơn hai thập kỷ qua, Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta không ngừng phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn thử thách,
đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đạt được những thành tựu to lớn, có ý
nghĩa rất quan trọng. Đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, chuyển
sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đã thu được nhiều
thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có những
định hướng mang tính chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội. Đi cùng với đó
những hạn chế, thiếu sót trong của các cơ quan bảo vệ pháp luật, những sơ hở
thiếu sót của nạn nhân trong việc quản lý và bảo vệ tài sản cũng là điều kiện
thuận lợi để các đối tượng phạm tội XPSH hoạt động, làm cho tình hình
TTATXH hết sức phức tạp. Thực tế cho thấy, tình hình tội phạm XPSH như
cướp, trộm cắp, lừa đảo... diễn biến phức tạp, nhiều vụ án đã xảy ra, có nhiều vụ
đặc biệt nghiêm trọng.
Trong những năm vừa qua, nhất là từ năm 2005 trở lại đây, các cơ quan
bảo vệ pháp luật đã tích cực tổ chức điều tra, khám phá và xử lý kịp thời nhiều
vụ án XPSH. Song do nhiều nguyên nhân khác nhau mà tình hình tội phạm
XPSH trên địa bàn vẫn không giảm, thậm chí còn có một số tội phạm tiếp tục
phát sinh và phát triển, gây ra nhiều thiệt hại cho các đơn vị kinh tế, doanh
nghiệp và nhân dân, một số vụ đã gây hoang mang trong tư tưởng của quần
chúng nhân dân, từ đó đã ảnh hưởng đến sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá của của nước ta. Bên cạnh đó, công tác điều tra khám phá loại tội phạm này
của cơ quan chức năng còn có nhiều bất cập, chưa có sự phối hợp cần thiết giữa
các lực lượng tiến hành, sự hỗ trợ của quần chúng nhân dân còn hạn chế, nên
hiệu quả công tác điều tra xử lý các vụ án XPSH còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ các vụ
án được phát hiện thấp, tiến trình điều tra chậm, đề nghị xử lý bằng hình sự chưa
cao. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công
tác điều tra các tội phạm XPSH và những bất cập của việc chứng minh trong quá
trình điều tra các tội xâm phạm sở hữu là một đòi hỏi hết sức cấp bách, góp phần
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh
thành tội XPSH như tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142) chẳng hạn, chỉ xâm
phạm đến quyền sử dụng tài sản...
Quyền sở hữu về tài sản bị xâm hại bởi các tội phạm XPSH là quyền sở
hữu tài sản của người khác ngoài chủ thể thực hiện tội phạm. Hành vi xâm hại
đến quyền sở hữu tài sản của chính mình không cấu thành tội XPSH.
Trong các tội phạm XPSH, khách thể loại và khách thể trực tiếp đều là
quyền sở hữu tài sản. Vì vậy, để phân biệt các tội phạm XPSH cụ thể phải phân
tích từng nội dung quyền năng pháp lí của quyền sở hữu tài sản bị xâm hại, đồng
thời phải dựa vào các dấu hiệu khác của tội phạm. Trong trường hợp cá biệt, một
số tội phạm XPSH còn xâm hại tới các quan hệ xã hội khác được luật hình sự
bảo vệ. Trong trường hợp này, hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội khác phải
đồng thời với quyền sở hữu tài sản mới cấu thành tội phạm XPSH. Chẳng hạn
hành vi dùng vũ lực tấn công người khác chỉ cấu thành tội phạm cướp tài sản
theo qui định tại Điều 133 BLHS khi có sự chiếm đoạt hoặc nhằm để chiếm đoạt
tài sản...
Tài sản thuộc các hình thức sở hữu được pháp luật bảo vệ là thực thể biểu
hiện khách thể của tội phạm, là đối tượng của các tội phạm XPSH. Tài sản là đối
tượng tác động của các tội XPSH có những đặc điểm riêng so với tài sản thuộc
đối tượng tác động của các tội phạm khác. Những đặc điểm đó là:
2
+ Tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị vật chất cụ thể.
Tài sản thể hiện dưới dạng phi vật chất như quyền sử dụng đất, quyền tác giả,
quyền sở hữu công nghiệp...; tài sản không có giá trị vật chất cụ thể như nguồn
nước tự nhiên, sinh vật dưới biển, thú trong rừng... không phải là đối tượng tác
động của các tội phạm XPSH. Mặt khác, tài sản là đối tượng của các tội phạm
XPSH phải có giá trị sử dụng. Tài sản không có giá trị sử dụng như thuốc tân
dược hết thời hạn sử dụng mang tiêu huỷ, động vật chết đã đem chôn... không
phải là đối tượng của các tội phạm XPSH.
+ Tài sản là đối tượng của các tội phạm XPSH phải có chủ sở hữu cụ thể.
Tài sản không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu đã tự nguyện từ bỏ
140, bao gồm: hành vi cướp tài sản (Điều 133); hành vi bắt cóc nhằm chiếm
đoạt tài sản (Điều 134); hành vi cưỡng đoạt tài sản (Điều 135); hành vi cướp giật
tài sản (Điều 136); hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137); hành vi
3
trộm cắp tài sản (Điều 138); hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139); hành
vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140).
+ Hành vi XPSH không có tính chất chiếm đoạt. Những hành vi XPSH
không có tính chất chiếm đoạt được qui định từ Điều 141 đến Điều 145 BLHS
bao gồm những hành vi: hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141); hành vi
sử dụng trái phép tài sản (Điều 142); hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài
sản (Điều 143); hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản của
Nhà nước (Điều 144); hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều
145).
Về hậu quả tác hại, đa số các tội phạm XPSH hậu quả không phải là dấu
hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm trừ một số trường hợp cá biệt như: Tội
thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều
144); tội vô ý gây thiệt hạn nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145). Hậu quả ở các
tội phạm này là những thiệt hại vật chất và ở mức độ nghiêm trọng mới cấu
thành tội phạm. Mức độ thiệt hại về vật chất cũng là ranh giới để phân biệt tội
phạm với hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu TNHS và phân định các
trường hợp thuộc các khung hình phạt khác nhau. BLHS năm 1999 qui định, giá
trị tài sản bị xâm hại do hành vi chiếm đoạt gây ra là từ 500.000 đồng trở lên
mới bị truy cứu TNHS. Tuy nhiên, có thể truy cứu TNHH với những người
chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 500.000 đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng
hoặc đã bị xử lí hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội
chiếm đoạt chưa được xoá án mà còn vi phạm. Riêng với các tội vô ý gây thiệt
hại nghiêm trọng đến tài sản, thì thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng trở lên
mới bị truy cứu TNHS.
- Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm
Các tội phạm XPSH có chủ thể là những người thoả mãn các điều kiện
CQĐT và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật
định, được tiến hành theo thủ tục và trình tự TTHS nhằm làm rõ sự thật của vụ
án đã xảy ra theo yêu cầu của pháp luật”. Định nghĩa trên đã chỉ ra những điểm
cơ bản nhất, phản ánh bản chất của hoạt động điều tra.
Trên cơ sở phát triển khái niệm điều tra vụ án hình sự của khoa học ĐTHS,
có thể xác định: Điều tra vụ án hình sự về tội phạm XPSH là hoạt động của
CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra theo luật định, được tiến hành theo trình tự, thủ tục của luật TTHS đối với
những vụ án XPSH đã xảy ra, đã được khởi tố nhằm mục đích chứng minh sự
thật khách quan của vụ án theo yêu cầu pháp luật.
Như vậy, đối tượng của hoạt động điều tra các vụ án XPSH là những vụ án
hình sự về các tội phạm XPSH đã xảy ra, đã được khởi tố. Chủ thể của hoạt
động điều tra vụ án hình sự về tội phạm XPSH là CQĐT và các cơ quan được
giao tiến hành một số hoạt động điều tra theo qui định về phân công, phân cấp
điều tra. Hoạt động điều tra được tiến hành theo trình tự, thủ tục của luật TTHS,
quá trình điều tra, chủ thể điều tra được áp dụng các biện pháp theo qui định của
pháp luật để làm rõ sự thật vụ án. Bản chất của hoạt động điều tra các vụ án
XPSH là quá trình nhận thức, chứng minh sự thật khách quan của vụ án XPSH
đã xảy ra theo yêu cầu pháp luật.
Từ những nội dung cơ bản về hoạt động điều tra và đặc điểm pháp lí của
các tội phạm XPSH có thể xác định, điều tra vụ án hình sự về các tội phạm
XPSH có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, điều tra vụ án hình sự về các tội phạm XPSH là quá trình chứng
minh sự thật vụ án XPSH đã xảy ra. Quá trình điều tra, CQĐT có trách nhiệm
làm rõ các nội dung thuộc đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự về các tội
phạm XPSH. Xét về bản chất, hoạt động chứng minh trong điều tra các vụ án
XPSH là hoạt động kết hợp chặt chẽ giữa hai mặt tư duy và thực tiễn được qui
định bằng các chế định pháp luật TTHS. Sự kết hợp đó luôn xoay quanh những
vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án. Trên cơ sở qui định tại Điều 63 Bộ luật
TTHS và đặc điểm của các tội phạm XPSH có thể xác định những vấn đề cần
Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25
tháng 12 năm 2001 hướng dẫn áp dụng một số qui định tại Chương XIV - “Các
tội phạm XPSH” của BLHS năm 1999. Theo Thông tư này có thể xác định một
số vấn đề cần chú ý khi xác định giá trị tài sản bị xâm hại trong các vụ án hình
sự về các tội phạm XPSH như sau:
+ Trong trường hợp làm rõ được người vi phạm ý thức được giá trị của tài
sản định xâm hại thì lấy giá trị đó làm căn cứ để truy cứu TNHS và định khung
xử lí đối với người vi phạm;
+ Nếu người có hành vi XPSH có ý định xâm phạm đến tài sản nhưng
không quan tâm đến giá trị tài sản thì lấy giá thị trường của tài sản bị xâm hại tại
địa phương vào thời điểm xảy ra tội phạm để xem xét việc truy cứu TNHS và
định khung xử lí đối với người vi phạm;
+ Trường hợp tài sản bị xâm phạm không còn, thì dựa vào lời khai của
những người biết về tài sản để xác định đó là tài sản gì; nhãn mác của tài sản;
giá trị ban đầu và giá trị còn lại của tài sản, xác định giá thực tế tại địa phương
6
vào thời điểm tài sản bị xâm hại... trên cơ sở đó kết luận về giá trị tài sản bị xâm
hại;
+ Trong trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi
XPSH nhưng giá trị tài sản bị xâm hại dưới mức tối thiểu để truy cứu TNHS qui
định của BLHS và không thuộc các trường hợp khác để truy cứu TNHS (gây
hậu quả nghiêm trọng; đã bị xử phạt hành chính; đã bị kết án nhưng chưa được
xoá án tích...), đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử
phạt hành chính, nếu tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm hại bằng hoặc trên
mức tối thiểu để truy cứu TNHS theo qui định của BLHS thì người thực hiện
nhiều lần cùng một loại hành vi XPSH phải bị truy cứu TNHS về tội phạm
tương ứng theo tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm, nếu: Các hành vi
XPSH được thực hiện một cách liên tục; Việc thực hiện hành vi XPSH có tính
chất chuyên nghiệp (lấy tài sản do việc XPSH làm nguồn sống chính); Với mục
đích XPSH, nhưng do điều kiện, hoàn cảnh khách quan nên việc XPSH phải
7
hiệu của vụ án XPSH. Các thông tin, dấu vết của các vụ án XPSH thường đa,
phản ánh trên nhiều nguồn khác nhau. Trong khi đó, hoạt động điều tra phải
được tiến hành trong những khuôn khổ pháp lí về mặt thời hạn, biện pháp... nên
các điều tra viên dễ phiến diện, một chiều. Thực tế, khi tiến hành điều tra, các
điều tra viên thường hoạt động độc lập, tự giải quyết những vấn đề cần phải
chứng minh và thường có xu hướng buộc tội nhiều hơn gỡ tội. Điều đó dễ đưa
điều tra viên đến chỗ chỉ chú ý đến những chứng cứ buộc tội, chứng cứ làm tăng
TNHS mà bỏ quên các chứng cứ gỡ tội, chứng cứ làm giảm nhẹ TNHS cho bị
can. Mặt khác, trong quá trình điều tra các vụ án XPSH thường tiến hành các
biện pháp nghiệp vụ trinh sát hỗ trợ và các biện pháp này được tiến hành bí mật,
nên có thể dẫn đến sự chệch hướng điều tra mà điều tra viên không lường trước.
Khả năng phiến diện, một chiều, chệch hướng điều tra luôn đạt ra những yêu cầu
cho chính công tác điều tra và công tác kiểm sát điều tra nhằm tránh những sai
lầm, thiếu sót đáng tiếc xảy ra.
1.2. Đặc điểm hình sự và những vấn đề cần chứng minh trong điều tra
các tội phạm xâm phạm sở hữu.
1.2.1. Đặc điểm hình sự các tội phạm xâm phạm sở hữu.
Ngoài những đặc điểm chung giống các loại tội phạm khác, tội phạm xâm
phạm sở hữu còn có những đặc điểm riêng sau đây:
1.2.1.1. Đặc điểm về đối tượng phạm tội xâm phạm sở hữu.
- Phần lớn đối tượng của những vụ án xâm phạm sở hữu là nam giới, có
nhiều tiền án, tiền sự, một số bị can không có nơi cư trú nhất định.
- Thường là những đối tượng côn đồ, lưu manh, hung hãn, có quan hệ gia
đình và xã hội phức tạp;
- Đặc điểm tâm lý: Đa số các đối tượng phạm tội xâm phạm sở hữu có
những hành vi liều lĩnh, đặc biệt là đối tượng phạm tội cướp tài sản có hành vi
tàn bạo, coi thường tính mạng người khác. Khi thực hiện tội phạm thế hiện tính
liều lĩnh cao độ, quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng, bằng mọi thủ đoạn để
đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản của nạn nhân.
- Nhiều trường hợp khi bị truy đuổi bọn tội phạm sử dụng vũ khí chống trả
- Nhanh chóng cất giấu, tiêu thụ các tài sản đã chiếm đoạt được.
1.2.1.3. Địa điểm và thời gian gây án:
- Địa điểm gây án thường lựa chọn là những nơi có đặc điểm địa hình thuận
lợi cho việc xuất hiện, gây án và rút khỏi hiện trường sau khi gây án.
- Thời gian gây án: thường tập trung chủ yếu trong khoảng từ 17h - 23h
1.2.1.4. Những dấu vết phổ biến của vụ án xâm phạm sở hữu
- Dấu vết chân, dấu vết giày, dép, dấu vết vân tay của thủ phạm,
- Dấu vết công cụ, phương tiện gây án, dấu vết súng đạn, dấu vết nguồn
hơi, dấu vết lục soát tài sản,
- Dấu vết sinh vật như máu, lông, tóc... trong các vụ cướp, cướp giật, trộm
cắp tài sản;
- Các loại dấu vết khác như: dấu vết đổ vỡ, thay đổi đồ vật tại hiện trường,
dấu vết cỏ, cây bị dập nát...
- Trường hợp nạn nhân của vụ xâm phạm sở hữu bị thương hoặc bị giết mà
trước đó có sự vật lộn, giằng co, chống cự lại thủ phạm thì trên cơ thể của nạn
nhân và thủ phạm có thể để lại các dấu vết bầm tím, cào cắn, bông, vải, sợi,
máu, lông, tóc...
- Ngoài ra, trên đường đến hoặc rút chạy khỏi hiện trường của vụ án còn
có thể có các loại vũ khí như súng, dao, lựu đạn, dây trói; những đồ vật, phương
tiện... do thủ phạm vứt lại hoặc đánh rơi.
1.2.1.5. Những công cụ, phương tiện và vũ khí mà bọn tội phạm xâm phạm
sở hữu thường sử dụng khi gây án:
Súng, lựu đạn, dao găm, lưỡi lê, kiếm, mã tấu, búa, rìu, gậy gỗ, thanh sắt,
côn gỗ, hộp xịt hơi cay, thuốc ngủ, thuốc mê, kìm cộng lực, chìa khoá vạn năng,
dây trói, mũ che mặt, găng tay cao su, các loại phương tiện giao thông như xe
máy, xe đạp, ô tô và các phương tiện thông tin liên lạc như điện thoại di động
9
Việc quyết định sử dụng loại công cụ, vũ khí gây án nào phụ thuộc vào thói
quen, sở trường của đối tượng gây án hoặc nhóm đối tượng gây án cũng như mục
người bị hại, người làm chứng, hỏi cung bị can.
Ba là: Thủ đoạn gây án.
Những tài liệu về thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm có thể thu thập
được trong quá trình khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người bị hại, hỏi
cung bị can...
Bốn là: Công cụ, phương tiện thủ phạm sử dụng để thực hiện tội phạm.
Trong quá trình điều tra cần làm rõ được đặc điểm, chủng loại, nguồn gốc
của những công cụ, phương tiện và vũ khí mà thủ phạm sử dụng khi gây án. Để
thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh làm rõ vấn đề này và phát hiện thu giữ
cần tiến hành các biện pháp khám nghiệm hiện trường, khám xét, hỏi cung bị
can, trưng cầu giám định...
Năm là: Những tài sản bị chiếm đoạt.
10