Thành ngữ trong sáng tác của nam cao - Pdf 28


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ THU HIỀN

Xuân hoà, tháng 5 năm 2014
Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Hiền
\ LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp với đề tài: “Thành ngữ trong sáng tác
của Nam Cao” là công trình nghiên cứu của riêng tôi và kết quả không trùng với
kết quả nghiên cứu của tác giả khác.
Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Hiền

1.3.2.1 Thành ngữ Thuần Việt…………………………………………………… 8
1.3.2.2 Thành ngữ Hán Việt…… …………………………………………………9
1.3.3 Dựa vào cấu trúc……… 9
1.3.3.1 Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng…………………………………………… 9 1.3.3.2 Thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng…………………………………………9
1.4 Vài nét về tác giả Nam Cao. 9
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG THÀNH NGỮ TRONG SÁNG TÁC
CỦA NAM CAO. 15
2.1 Kết quả thống kê. 15
2.1.1 Phân loại kết quả thống kê 15
2.1.2 Nhận xét chung. 16
2.2 Đặc điểm sử dụng thành ngữ trong sáng tác của Nam Cao 16
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo. 16
2.2.1.1 Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng 16
2.2.1.2 Thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng 23
2.2.2 Giá trị ngữ nghĩa. 27
2.2.2.1 Thành ngữ với việc miêu tả ngoại hình nhân vật. 27
2.2.2.2 Thành ngữ với việc miêu tả tính cách nhân vật 30
2.2.2.3 Thành ngữ với việc miêu tả hoàn cảnh sống nhân vật 33
2.2.3 Sự sáng tạo của Nam Cao trong việc sử dụng thành ngữ 34
2.2.3.1 Đối với thành ngữ Hán Việt 35
2.2.3.2 Đối với thành ngữ Thuần Việt 36
KẾT LUẬN 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

1


ngữ, Tiêu biểu là các công trình: “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” của
Nguyễn Lân xuất bản năm 1989 và “ Kể chuyện về thành ngữ, tục ngữ” (1988-
1990) do Hoàng Văn Hoành chủ biên,“Góp ý kiến về phân biệt tục ngữ và thành
ngữ”(1973) của Cù Đình Tú, “Tục ngữ Việt Nam” (1975) của Chu Xuân Diên,
Lương Văn Đang, Phương Tri và gần đây nhất là “ Phân biệt thành ngữ và tục ngữ
bằng mô hình cấu trúc” (2006) của Triều Nguyên. Đây là những công trình quan
trọng đặt nền móng cho việc nghiên cứu các thành ngữ sau này. Bên cạnh những
thành tựu nghiên cứu về thành ngữ nói chung thì cũng đã có nhiều công trình
nghiên cứu về việc vận dụng thành ngữ vào trong các sáng tác cụ thể.
Cũng đã có khá nhiều công trình viết về tác giả Nam Cao, đặc biệt là việc sử
dụng ngôn ngữ trong sáng tác của mình. Các đề tài nghiên cứu về vấn đề này như:
“Các phương tiện từ ngữ biểu hiện tình thái chủ quan trong tác phẩm của Nam
Cao” tác giả Dương Thị Thuý Vinh [2], hay đề tài “Các lớp nghĩa trong sáng tác
của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám” của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền
[11], đề tài “Phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong truyện ngắn Nam Cao”
tác giả Nguyễn Thị Thu Thuỷ [12]. Các đề tài trên cùng bàn về vấn đề sử dụng
ngôn ngữ trong các sáng tác của Nam Cao. Song các công trình đó chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu về ngôn ngữ phần lớn dựa trên các biện pháp tu từ, các vấn đề lí
thuyết chung trong sáng tác của Nam Cao. Việc nghiên cứu về vấn đề sử dụng
thành ngữ, vốn văn hoá quý báu của dân tộc thì không nhiều.
Qua việc tra cứu, tìm hiểuchúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu thành ngữ trong
sáng tác của Nam Cao là một đề tài khá hấp dẫn và bổ ích. Chúng tôi đã quyết định
lựa chọn đề tài: “Thành ngữ trong sáng tác của Nam Cao”. Chúng tôi nghiên cứu
vấn đề này với mong muốn tìm ra sự linh hoạt, phong phú, đặc sắc, độc đáo trong
cách sử dụng thành ngữ của nhà văn Nam Cao, một đại diện tiêu biểu cho văn học
Việt Nam thế kỉ XX.

3

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nam Cao, chúng ta thấy được những giá trị nghệ thuật của thành ngữ, khẳng định
những giá trị văn hoá dân tộc được thể hiện trong thành ngữ. Qua đó khẳng định tài
năng, phong cách nghệ thuật độc đáo của Nam Cao trong việc sử dụng ngôn ngữ,
gợi mở những tiếp cận mới khi tìm hiểu về tác giả này.
Ý nghĩa thực tiễn: Phân tích giá trị nghệ thuật của các thành ngữ trong tác phẩm
của Nam Cao giúp chúng ta thấy được sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo thành ngữ
trong hoạt động giao tiếp. Qua đó nâng cao kĩ năng sử dụng thành ngữ đúng và hay
trong giao tiếp, góp phần giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu,
khảo sát của khoá luận cũng góp phần hữu ích khi giảng dạy Tiếng Việt cũng như
giảng dạy những truyện ngắn của Nam Cao trong chương trình bậc phổ thông.
7. Bố cục của khoá luận
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí thuyết.
Chương 2: Đặc điểm sử dụng thành ngữ trong sáng tác của Nam Cao.
Phần 3: Kết luận.
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

5

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1 Khái niệm về thành ngữ
Các nhà nghiên cứu đưa ra rất nhiều khái niệm khác nhau về thành ngữ, nhưng
nhìn chung họ đều thống nhất khi đưa ra định nghĩa về thành ngữ.Theo cách hiểu
thông thường thì: Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái,
cấu trúc hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp
hàng ngày.

Chẳng hạn :“ Trời sinh voi sinh cỏ” không thể thay thế thành“ Trời đẻ voi đẻ cỏ”
được, thành ngữ “ Khóc như cha chết” không thể thay bằng thành ngữ“ Khóc như
bố chết” được.
Thành ngữ có tính chất cố định, ổn định về thành phần từ vựng về cấu trúc là
do thói quen của người bản ngữ. Để có được đặc điểm này trước khi được hình
thành, thành ngữ cũng chỉ là những tổ hợp từ tự do. Những tổ hợp này được sử
dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong lời nói, cùng với sự di chuyển nghĩa nhất định
như ẩn dụ, hoán dụ… đã tạo nên dạng ổn định của thành ngữ như ngày nay.
Tuy nhiên, tính cố định, bền vững của hình thái cấu trúc của thành ngữ không
phải là bất biến. Nghĩa là trong giao tiếp, người ta chấp nhận sự thay đổi nhất định
trong việc sử dụng thành ngữ một cách sáng tạo, linh hoạt. Ví dụ, Nam Cao đã sử
dụng thành ngữ “ Rẻ như bèo” với sự sáng tạo của mình ông đã viết: “Bèo
cũngkhông rẻ thế”( Trẻ con không biết đói), qua đó ông đã cho ta thấy được phần
nào cuộc sống nghèo khổ, khó khăn của người nông dân.
Tính cố định, bền vững và tính uyển chuyển của thành ngữ trong sử dụng là hai
mặt không hề mâu thuẫn, loại trừ nhau mà có tính chất bổ sung cho nhau. Chính
điều này khiến cho kho tàng thành ngữ ngày càng được mở rộng, phong phú hơn do
7

sự xuất hiện của nhiều biến thể ở một số thành ngữ. Ví dụ: “Nhà tan cửa nát” và
“Tan cửa nát nhà”.
1.2.2 Đặc điểm ý nghĩa
Thành ngữ có đặc trưng nổi bật về ý nghĩa là có tính hoàn chỉnh, bóng bẩy và
tính gợi cảm cao. Nghĩa của thành ngữ không chỉ là nghĩa đen của các yếu tố cấu
thành cộng lại mà là nghĩa bóng, nghĩa toàn khối. Nghĩa này được suy ra trên cơ sở
nghĩa của các yếu tố cấu thành. Chẳng hạn, thành ngữ “ Vò đầu rứt tóc” không đơn
thuần chỉ hành động vò đầu rứt tóc mà còn thể hiện ý nghĩa khác, thể hiện vẻ bối
rối, lúng túng vì chưa tìm ra cách giải quyết hoặc vì thấy ân hận, tự trách mình đã
làm điều không phải.
Quá trình biểu trưng được thể hiện theo con đường liên tưởng tương đồng và

Ví dụ:
Chạy ngược chạy xuôi
Tím ruột tím gan
Tận tâm tận lực
1.3.2 Dựa vào nguồn gốc của thành ngữ
Ta có 2 loại:
1.3.2.1 Thành ngữ Thuần Việt.
Thành ngữ Thuần Việt là những thành ngữ do người Việt tự sáng tạo dựa trên
những chất liệu ngữ âm Thuần Việt, phản ánh đời sống văn hóa, tinh thần, phong
tục tập quán, thói quen, nếp cảm, nếp nghĩ của con người Việt. Dấu ấn Thuần Việt
của thành ngữ thể hiện ở các phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa, màu sắc phong cách
và cấu trúc.
Ví dụ: Cơm bưng nước rót
Như mèo thấy mỡ
Nóng như lửa đốt
Chạy ngược chạy xuôi

9

1.3.2.2 Thành ngữ Hán Việt
Thành ngữ Hán Việt là những thành ngữ được cấu tạo bằng các yếu tố Hán Việt,
chứa đựng những nội dung cao siêu, trọng đại mang ý nghĩa răn dạy… mang phong
cách trang trọng, cổ kính, tĩnh tại… được sử dụng nhiều trong phong cách viết.
Ví dụ: Quần ngư tranh thực
Bền đến thiên niên vạn đại
Thập tử nhất sinh
Tha phương cầu thực.
1.3.3 Dựa vào cấu trúc
Theo Nguyễn Thiện Giáp trong “ Từ vựng học Tiếng Việt”, thành ngữ có hai
loại lớn là thành ngữ hợp kết và thành ngữ hoà kết. Về mặt cấu trúc của thành ngữ

hiện thực sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện, độc
đáo.
Nam Cao là một nhà văn hiện thực. Các tác phẩm của ông đã phản ánh hiện
thực bộ mặt xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, một xã hội mà ở đó số
phận của những người nông dân chất phác hồn hậu đã bị bần cùng trong đói khổ,
quằn quại trong sự chèn ép của bọn phong kiến thực dân. Tư tưởng chủ đạo trong
sáng tác của Nam Cao là tinh thần nhân đạo sâu sắc mà ông thể hiện trong mỗi tác
phẩm của mình. Nam Cao tỏ thái độ trân trọng, xót thương đối với những người
nông dân nghèo, những người trí thức trong xã hội. Gấp những trang sách của
Nam Cao lại người đọc dường như vẫn thấy ngột ngạt và ám ảnh không nguôi với
những số phận của những con người khốn khổ. Đặt ra vấn đề nông dân và viết về
họ với tấm lòng yêu thương nhân đạo là một đóng góp đáng ghi nhận của Nam
Cao. Ông là nhà văn đồng tình với khát vọng sống lương thiện và khát vọng được
phát huy đến tận độ tài năng của con người. Tư tưởng nhân đạo mới mẻ, phong
phú và sâu sắc đó cho thấy nhà văn không chỉ dừng lại ở chỗ tố cáo những thế lực
tàn bạo chà đạp quyền sống của con người mà còn đòi hỏi xã hội tạo những điều
kiện để con người được sống một cuộc sống thực sự có ý nghĩa.
Có thể nói rằng sẽ có một khoảng trống không nhỏ nếu vì một lý do nào đấy
dòng văn học của Việt Nam không có Nam Cao. Không chủ quan khi chúng ta
hoàn toàn có quyền tự hào xếp Nam Cao của chúng ta bên cạnh những Môpatxăng
(Pháp), Đôttôiepxki, Bunhin, (Nga) Tác phẩm của Nam Cao không có những
xung đột căng thẳng, không đao to búa lớn mà cứ đời thường giản dị, thông qua các
tình huống, các cuộc đời nhân vật để nêu bật nên những giằng xé trong nội tâm,
những ước mơ về một tương lai tốt đẹp. Văn Nam Cao viết về những kiếp người
mà cuộc đời họ là những chuyển tiếp khác nhau của nỗi buồn, nỗi khổ, của những
tâm hồn đẹp đẽ, đáng trân trọng dù là người đàn bà quanh năm bị áp lực của thiếu
thốn, lo toan đè nặng, lúc nào cũng nặng mặt, bẳn gắt chì chiết chồng con hay
11

những anh chàng trí thức tiểu tư sản ăn nói độc địa, hằn học Bởi trên tất cả những

(truyện ngắn “Mua nhà” – năm 1943). Hiện thực cuộc sống luôn là chất liệu để nhà
văn phản ánh hay nói như Bandăc “Nhà văn là thư ký trung thành của thời đại”.
Làng Vũ Đại của Nam Cao chỉ là một làng quê như bao làng quê khác, ta thấy có
dòng sông hiền hoà hai bên bờ là những vườn chuối thấm đẫm ánh trăng, thấy tiếng
dệt cửi và tiếng lao xao của các bà, các chị đi chợ sớm, thấy những vườn trầu
không, những vườn mía tả tơi sau bão và trên mảnh đất ấy là những người nông
dân chất phác, nhân hậu. Họ bần cùng mỗi người một kiểu. Người mẹ và bầy con
nhỏ lê la trên nền nhà vũng nước trộn lẫn bùn; bát cháo cám đắng nghét không thể
nuốt nổi; người đàn ông đi lĩnh những đồng tiền ít ỏi về mua thuốc cho đứa con
nhỏ ốm đau mà không nỡ trách cứ viên thư ký ở nhà dây thép tỉnh bẳn gắt lại làm
thiệt mất của gã một đồng bạc bởi lẽ “Điền thấy thương ông ấy quá. Điền tưởng ra
cho ông ấy một gia đình đông con túng thiếu tựa nhà Điền. Số lương chẳng đủ tiêu.
Sau mỗi ngày công việc rối tít mù, loạn óc lên vì những con số, vì những cái bưu
phiếu, ông mỏi mệt giở về nhà, lại phải nghe mấy đứa con lớn chí choé đánh nhau,
đứa con nhỏ khóc, chủ nợ réo đòi và vợ thì sưng sỉa hoặc gào thét như con mẹ
dại… để sáng hôm sau lại mải mốt đến sở, nhăn mặt lại khi thấy những người gửi
tiền, người lĩnh tiền vòng trong, vòng ngoài và người nào cũng muốn ông làm
trước cho” và “Chỉ vì người nào cũng khổ cả, và người nọ cứ tưởng vì người kia
mà khổ” – tấm lòng nhân ái, cảm thông và độ lượng của con người Nam Cao, nhân
cách Nam Cao thể hiện rõ nét trong hầu hết tất cả các tác phẩm của ông mà những
dẫn chứng trên chỉ là một đôi nét phác hoạ.
Giá trị nhân đạo của các tác phẩm của Nam Cao thể hiện sâu sắc ở tấm lòng
yêu thương trân trọng của tác giả với những người nghèo khổ. Nói như văn hào
Nga Eptusenco: “Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời/ Mỗi số phận chứa một điều cao
cả”. Nam Cao đã tìm thấy những hạt trân châu lóng lánh trong sâu thẳm những thân
phận con người - Nam Cao tỏ ra rất nhạy bén trong việc miêu tả tâm lý nhân vật,
ông đi vào từng ngóc ngách tâm hồn của con người để tìm ra được những cái hay,
13

cái dở trong mỗi nhân vật và bao trùm lên tất cả là một tấm lòng nhân ái, tình người

hoạt và thành công như tác giả Nam Cao. Ông đã mang đến cho nền văn học Việt
Nam những kiệt tác đi mãi theo thời gian, bởi ở trong những sáng tác của ông
không chỉ đơn giản là những vấn đề thời sự mà ở đó ta còn thấy cả sự tài năng của
một nhà văn bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ. 15

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG THÀNH NGỮ TRONG SÁNG
TÁC CỦA NAM CAO
2.1 Kết quả thống kê
2.1.1 Phân loại kết quả thống kê
Dựa vào cấu trúc cú pháp của thành ngữ, qua việc khảo sát 52 truyện trong “Nam
Cao toàn tập”, chúng tôi đã thống kê được 280 thành ngữ. Chúng tôi đề xuất bảng
phân loại như sau:
Thành ng



n d


hoá đ

i x

ng

(110)(39,3%)
Thành ng


miêu tả
(72)(42,7%)
M

i v
ế

là một
thành tốM

i v
ế

là một
kết cấu
C-P
M

i v
ế

là một
kết cấu
C-V
M


cả so với thành ngữ 6, 8 yếu tố, chỉ có 8 thành ngữ (7,2%). Như vậy có thể thấy
16

thành ngữ 4 yếu tố là loại thành ngữ phổ biến, có số lượng nhiều và độc đáo, chiếm
vị trí quan trọng trong hệ thống thành ngữ được Nam cao sử dụng trong tác phẩm
của mình.
Bên cạnh thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng, thì thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng lại
được Nam Cao sử dụng nhiều hơn trong sáng tác của mình, cụ thể là 170 thành ngữ
( 60,4%). Trong đó thành ngữ dạng so sánh có 98 thành ngữ ( 57,3 %) và thành ngữ
có cấu trúc vị ngữ gồm 72 thành ngữ (42,7%)
2.2 Đặc điểm sử dụng thành ngữ trong sáng tác của Nam Cao
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo
2.2.1.1 Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng
Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng là loại thành ngữ phổ biến trong Tiếng Việt.
Theo thống kê của chúng tôi trong các truyện ngắn của Nam Cao giai đoạn 1930-
1945 có 110 thành ngữ, chiếm tỉ lệ 39,6%. Loại thành ngữ này có đặc điểm nổi bật
về mặt cấu trúc là có tính chất đối xứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên
thành ngữ. Chẳng hạn trong thành ngữ “Đầu trộm đuôi cướp” thì “Đầu trộm” đối
xứng với “Đuôi cướp” Đa số các thành ngữ đối xứng đều gồm 4 yếu tố, lập thành
hai vế cân xứng với nhau. Quan hệ đối xứng giữa hai vế của thành ngữ được thiết
lập nhờ vào những thuộc tính nhất định về ngữ pháp, ngữ nghĩa giữa các yếu tố
được đưa vào trong hai vế đó. Khảo sát 110 đơn vị thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng
mà chúng tôi thu được thì thành ngữ 4 yếu tố có tới 102/110, số còn lại là các thành
ngữ đối xứng có 6, 8 yếu tố. Như vậy có thể nói thành ngữ 4 yếu tố đối ngẫu cặp
đôi là hiện tượng phổ biến, có số lượng nhiều và độc đáo, chiếm vị trí quan trọng
trong hệ thống thành ngữ mà Nam Cao sử dụng trong tác phẩm của mình. Vì lí do
đó chúng tôi chia thành ngữ 4 yếu tố này riêng và loại thành ngữ 6,8 yếu tố riêng.
a. Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng 4 yếu tố
Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng 4 yếu tố là loại thành ngữ có đặc điểm nổi bật và
quan trọng nhất là tính cặp đôi và ngẫu hứng trong cấu trúc từ vựng ngữ pháp, ngữ

18

Thắt lưng // buộcbụng
Giận cá // chém thớt.
Cãi chày // cãi cối
A B A C
Trong thành ngữ “ thắt lưng buộc bụng” những yếu tố thắt và buộc là động từ,
lưng và bụng đều là danh từ. Thành ngữ “ giận cá chém thớt”những yếu tố giận và
chém đều là động từ, cá và thớt đều là danh từ. Đa số các yếu tố trong mô hình này
là thực từ, chúng có khả năng hoạt động độc lập. Điều đáng chú ý ở đây là các cặp
yếu tố 1 và 3, 2 và 4 đều là những từ cấu tạo nên từ ghép đẳng lập. Chẳng hạn như
thành ngữ “ van ông lạy bà”. Thành ngữ này được cấu tạo trên cơ sở hai từ ghép
đẳng lập “van ông” và “lạy bà”.
Một đặc điểm khác nữa trong mô hình loại này chúng tôi thu được là yếu tố 1 và
3 giống nhau, còn yếu tố 2 và 4 là danh từ thuộc cùng một trường nghĩa. Loại thành
ngữ này chúng tôi gặp khá nhiều trong quá trình khảo sát.
Ví dụ : Bóp mồm // bóp miệng
Đổ đình // đổ chùa
Cắn rơm // cắn cỏ
- Mô hình 2: Danh từ-tính từ+ danh từ- tính từ
Trong Tiếng Việt cụm “danh từ- tính từ” là cụm từ rất phổ biến (hoa thơm,
người đẹp, mây trắng,…). Tuy nhiên, trong số các thành ngữ đối xứng bốn yếu tố
mỗi vế là một kết cấu chính phụ, thành ngữ loại này rất ít.
Ví dụ: Lời hay // ý đẹp.
Chân yếu //tay mềm
Cũng như ở mô hình thứ nhất, trong số thành ngữ thuộc mô hình này có
những thành ngữ mang yếu tố lặp. Yếu tố lặp thường là những yếu tố thứ nhất. Ví
dụ “ống thấp ống cao”.
Từ ghép có vai trò quan trọng trong việc tạo nên loại thành ngữ thuộc dạng
này. Chẳng hạn như: Thành ngữ “Nay ốm mai đau” được tạo nên bởi từ ghép “đầu

20

Ví dụ:
Đầu bò // đầu bướu
Một nắng // hai sương
Tất cả bốn yếu tố trong số thành ngữ ví dụ nêu trên đều là danh từ đơn âm tiết.
Các yếu tố 1, 3 và 2, 4 có quan hệ với nhau về mặt từ vựng- ngữ pháp và cả về mặt
ngữ nghĩa, chúng cùng thuộc một trường nghĩa: “năm, bẩy”, “một, hai”, “nắng,
sương”… Các yếu tố thuộc thành ngữ loại này đều thuộc về một loại từ loại.Danh
từ có vai trò rất quan trọng trong cấu trúc thành ngữ bốn yếu tố đối xứng.
Nghĩa của các yếu tố danh từ trong thành ngữ loại này rất đa dạng: liên quan
đến thiên nhiên, con người và hoạt động của con người, động vật, sự vật… tức là
nó liên quan đến nhiều hiện tượng khách quan của thế giới bên ngoài. Số lượng
những thành ngữ có yếu tố 1, 3 là số từ chiếm khá lớn.
Ví dụ :
Năm bè // bảy bối
Một nắng // hai sương
Có trường hợp yếu tố 2, 4 là số từ như: “mồm năm miệng mười”
Loại thành ngữ này có thể có yếu tố lặp.Danh từ ở vị trí 1 và 3 có sự lặp lại.
Ví dụ: “đầu bò đầu bướu”. Trong số liệu của chúng tôi không có trường hợp yếu tố
ở vị trí 2 lặp lại ở vị trí 4.
- Mô hình 6: Tính từ-danh từ + tính từ-danh từ.
Loại thành ngữ này có số lượng không lớn, chỉthu được 4 đơn vị trong tổng
số thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốn yếu tố:
Ví dụ:
Tím ruột // tím gan
Mát lòng // mát dạ
Trong các loại thành ngữ này chúng tôi nhận thấy có hai đặc điểm nổi bật
nhất đó là cấu trúc lặp yếu tố 1, 3 và cách đảo ngược trật tự từ. Cũng như nhiều mô
hình đã nói ở trên thành ngữ có thể có yếu tố lặp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status