thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác của nhà văn nam cao - Pdf 23

i

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM LƢƠNG MAI HIẾU THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG SÁNG TÁC
CỦA NHÀ VĂN NAM CAO

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGÔ THỊ THANH QUÝ

Thái Nguyên – 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Mục đích nghiên cứu 7
4. Đối tƣợng nghiên cứu 8
5. Tƣ liệu nghiên cứu 8
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 8
7. Đóng góp của luận văn 9
8. Bố cục của luận văn 10
NỘI DUNG 11
CHƢƠNG 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VÀ VĂN
CHƢƠNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 11
1.1. Nhận diện thành ngữ, tục ngữ 11
1.1.1. Khái niệm tục ngữ 11
1.1.2. Phân biệt thành ngữ, tục ngữ 12
1.1.3. Nội dung và hình thức của tục ngữ 15
1.2. Những nhân tố cơ bản tác động tới ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác
của Nam Cao 24
1.2.1. Sơ lƣợc về tiểu sử 24
1.2.2. Con ngƣời 25
1.2.3. Môi trƣờng sáng tác 27
1.2.4. Quan điểm nghệ thuật và cá tính sáng tạo: 29
Tiểu kết: 30
CHƢƠNG 2: CÁCH THỨC VẬN DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ
TRONG TÁC PHẨM CỦA NAM CAO 32


ngữ, tục ngữ ra đời từ bao giờ không ai xác định đƣợc, không ai biết có từ
thời kì nào trong lịch sử loài ngƣời, mà chỉ biết nó là “túi trí khôn” chứa đựng
những tri thức dân gian về mọi mặt của đời sống.
Mỗi ngƣời dân Việt Nam khi ý thức xây dựng, bồi đắp cho mình vốn
ngôn ngữ giàu có của tiếng mẹ đẻ thƣờng khi nói, khi viết thích dùng những
ý, những mẫu có sẵn. Những mẫu, những ý ấy đƣợc thế hệ trƣớc tạo ra, những
thế hệ sau sử dụng nhƣ một thói quen và nó trở thành thành ngữ. Trong kho
tàng ngôn ngữ dân tộc, thành ngữ không phải là một cách phát biểu duy nhất
đúng, cũng không phải là cách nói bắt buộc, mà là cách nói thƣờng đƣợc chọn
lựa. Trong khi sử dụng, chúng ta dùng thành ngữ là muốn lời phát ngôn có
chỗ dựa, mong ngƣời nghe hiểu tắt theo lối ƣớc lệ. Tục ngữ lại là những kho
kinh nghiệm của nhân dân về các hiện tƣợng tự nhiên, các quan hệ ứng xử xã
hội. Đó là nơi bộc lộ khá tập trung lối sống, những đặc điểm của tƣ duy, cách
cảm, lối nghĩ và lối nói của dân tộc. Tục ngữ phản ánh các hiện tƣợng tự
nhiên, xã hội, những kinh nghiệm sản xuất, các mối quan hệ xã hội bằng hình
thức nghệ thuật đặc thù. Hàng ngày, khi nghe đƣợc một câu nói hay, có ý
nghĩa nhờ vận dụng thành ngữ, tục ngữ một cách có hiệu quả thì chính ta cảm
thấy tâm đắc và nhƣ khám phá ra một điều gì mới lạ. Điều này khiến cho
thành ngữ, tục ngữ từ lâu đã trở nên quen thuộc, có sức sống lâu bền và khẳng
định đƣợc vị thế của mình trong đời sống tinh thần của nhân dân.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1.2. Trong thƣởng thức văn chƣơng, mỗi khi đọc đƣợc một câu văn, câu
thơ hay, giàu hình ảnh, vận dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt thành ngữ, tục ngữ
của dân tộc, ta cảm thấy nó có sức biểu cảm cao, cuốn hút ngƣời đọc và dễ đi
vào lòng ngƣời hơn. Thực tế, những nhà văn, nhà thơ lớn từ xƣa đến nay đều
là những ngƣời sử dụng vốn thành ngữ, tục ngữ một cách có hiệu quả trong
sáng tác của mình. Cùng với đó, vấn đề nghiên cứu về cách sử dụng thành
ngữ, tục ngữ trong văn chƣơng từ trƣớc đến nay đƣợc rất nhiều ngƣời quan

ngữ, tục ngữ Việt Nam, cái sắc sảo mà bình dị của văn chƣơng Nam Cao và
mối quan hệ mật thiết giữa thành ngữ, tục ngữ - văn chƣơng trong tiến trình
phát triển của Văn học hiện đại Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
Thành ngữ, tục ngữ là những câu nói đúc rút kinh nghiệm của nhân dân
trong mọi lĩnh vực của cuộc sống vật chất và tinh thần. Nó chứa đựng quan
niệm của ngƣời bình dân về thế giới tự nhiên và xã hội. Thông qua ngôn từ
đƣợc chọn lọc gọt rũa, thành ngữ, tục ngữ phản ánh tri thức nhiều mặt của đời
sống xã hội. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, thành ngữ, tục ngữ vẫn
khẳng định đƣợc giá trị của mình và có sự vận động rất linh hoạt. Nó là một
trong những thể loại phản ánh tri thức dân gian thông qua tƣ duy của ngƣời
Việt hữu hiệu nhất.
Thành ngữ, tục ngữ là lời hay ý đẹp của nhân dân trƣờng tồn với thời
gian. Nó đƣợc hiện diện trong chuỗi lời nói và trong văn bản. Tuy nhiên,
trong thời đại ngày nay, hình thức tồn tại trong chuỗi lời nói của tục ngữ bị
thu hẹp dần, và việc sử dụng cũng dựa theo hoàn cảnh, môi trƣờng nhất định.
Cụ thể, tri thức thành ngữ, tục ngữ về văn hóa nông nghiệp chỉ còn đƣợc vận
dụng ở môi trƣờng nông thôn, giữa những ngƣời nông dân với nhau. Tuy
nhiên, hình thức tồn tại bằng văn bản của thành ngữ, tục ngữ lại đƣợc phát

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

triển rộng rãi, nhƣ: thành ngữ, tục ngữ với báo chí; thành ngữ, tục ngữ với văn
chƣơng; và thành ngữ, tục ngữ xuất hiện khá phổ biến trên trò chơi truyền
hình trong những chƣơng trình gần đây.
Lâu nay, nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ luôn là vấn đề thu hút sự
quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, và đã thu đƣợc nhiều kết quả đáng ghi
nhận. Song, tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác văn
chƣơng vẫn là những khía cạnh mới rất đáng đƣợc khám phá. Việc sử dụng
thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm văn chƣơng góp phần tạo nên những

Bác Hồ với nguồn tục ngữ của dân tộc [6], Tìm hiểu cách dùng tục ngữ trong
những bài viết và bài nói của Hồ Chủ Tịch [18], các tác giả đều nghiên cứu và
đƣa ra nhận xét: Hồ Chủ Tịch vận dụng tục ngữ trong hành văn của mình rất
linh hoạt và hiệu quả. Ngay cả trong văn chính luận – thể loại có thể xem là
khô khan, mực thƣớc, mà Ngƣời vẫn khéo léo vận dụng thành ngữ, tục ngữ để
chuyển tải tƣ tƣởng, nội dung chính trị, làm cho sự việc thành dễ hiểu, dễ tiếp
thu, và trở nên sâu sắc hơn. Chẳng hạn, nói về việc xây dựng chủ nghĩa xã
hội, Bác viết:
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như làm ruộng. Trước phải khó nhọc
cày bừa, chân bùn tay lấm, làm cho lúa tốt thì mới có gạo ăn.
Tác giả Cù Đình Tú, trong bài viết Hồ Chủ Tịch dùng thành ngữ, tục ngữ
[52] đã nhận định: trong cách viết, cách nói, Hồ Chủ Tịch vừa dùng nguyên
vẹn các thành ngữ, tục ngữ vốn có của dân gian nhƣ: yêu nước thương nòi,
gan vàng dạ sắt, một lòng một dạ , Ngƣời thƣờng sáng tạo đƣa vào một số
yếu tố để nhấn mạnh vào một phƣơng diện nào đó của sự vật, của tình thế,
của quan hệ. Hồ Chủ Tịch đã có những cách “sửa” thành ngữ, tục ngữ, “lẩy”
thành ngữ, tục ngữ rất tài tình:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Sản xuất mà không tiết kiệm khác nào nhƣ gió vào nhà trống.
Việc nghiên cứu cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác của
Nguyễn Trãi (Bùi Văn Nguyên - 1980) [38], Phan Châu Trinh (Trần Hải
Yến - 1998) [56], Hồ Xuân Hƣơng (Trƣơng Xuân Tiếu - 1999) [47] cũng
đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm. Qua đó, các tác giả bài viết khẳng định,
việc vận dụng nhuần nhuyễn thành ngữ, tục ngữ của các nhà văn, nhà thơ đều
nhằm mục đích để lời văn, câu thơ thêm biểu cảm, giàu hình tƣợng, cảm xúc;
kế thừa, phát triển và lƣu giữ bản sắc dân tộc.
Thành ngữ, tục ngữ là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngƣời quan tâm.
Thành quả của nó đã và đang đƣợc công nhận một cách xác đáng. Trong thực

độc đáo cho ngôn ngữ văn chƣơng trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng.
Nhƣ vậy, việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác văn chƣơng,
báo chí hiện đại đã đƣợc quan tâm, song chƣa đƣợc đề cập đến một cách đầy
đủ, cụ thể và toàn diện ở mọi khía cạnh nội dung của nó. Việc nghiên cứu
cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác của Nam Cao cũng là một đề
tài hấp dẫn, hứa hẹn những điều mới mẻ. Vì vậy, với những thông tin có tính
chất gợi mở ở thành quả của những công trình nêu trên, hi vọng đề tài này
mang đến một cái nhìn cụ thể về “Thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác của
nhà văn Nam Cao”.
3. Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu đề tài “Thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác của nhà
văn Nam Cao ”, chúng tôi hƣớng tới mục đích:
- Khảo sát và rút ra nhận xét về việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong
các sáng tác của nhà văn Nam Cao. Qua đó góp phần khẳng định sức sống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

của những câu thành ngữ, tục ngữ, và sự đóng góp to lớn của Nam Cao làm
cho những câu tục ngữ ấy sống mãi.
- Nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ theo hƣớng của đề tài nhằm lƣu giữ,
bảo tồn thành ngữ, tục ngữ trong thời đại ngày nay; đặc biệt là tục ngữ với vai
trò là chất liệu của văn học.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những câu thành ngữ, tục ngữ
trong các tác phẩm văn xuôi của Nam Cao.
5. Tƣ liệu nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng nguồn tƣ liệu là bộ
sách: “Nam Cao toàn tập”. Đây là bộ sách đã thống kê đƣợc khá đầy đủ các
tác phẩm của Nam Cao.
Tập I và II gồm những truyện ngắn Nam Cao viết trƣớc Cách mạng

7. Đóng góp của luận văn
Đề tài của chúng tôi mong muốn định lƣợng đƣợc cụ thể số lƣợng thành
ngữ, tục ngữ đƣợc Nam Cao vận dụng trong sáng tác của mình, để nhằm bổ
sung hƣớng khai thác, nghiên cứu về hiệu quả của cách sử dụng này. Qua đó,
chúng tôi muốn khẳng định mối quan hệ khăng khít giữa thành ngữ, tục ngữ
và văn chƣơng, bởi thành ngữ, tục ngữ đã và đang là chất liệu dân gian dồi
dào cho văn học hiện đại. Nghiên cứu, vận dụng thành ngữ, tục ngữ theo
hƣớng này cũng là cách bảo tồn tài nguyên thành ngữ, tục ngữ một cách hiệu
quả nhất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8. Bố cục của luận văn
Phần một: Mở đầu
Phần hai: Nội dung
Chương 1: Mối quan hệ giữa thành ngữ, tục ngữ và văn chƣơng – Một số
vấn đề lý luận chung
Chương 2: Cách thức vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác của
Nam Cao
Chương 3: Giá trị của việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác
của Nam Cao
Phần ba: Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

NỘI DUNG


định nghĩa về tục ngữ nhƣ sau: “Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian có
chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét
dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh, dễ
nhớ, dễ truyền” [53, tr.129].
Những định nghĩa về tục ngữ càng về sau càng đầy đủ, nêu lên đƣợc tính
chất vốn có của thể loại. Điều đó cho thấy, các nhà nghiên cứu văn học dân
gian đã khám phá ra nhiều đặc trƣng mang tính khu biệt, từ đó cho thấy cái
nhìn đúng đắn về tục ngữ. Ta có thể hiểu: tục ngữ như là một cuốn sách mà
thế hệ đi trước để lại cho ngày hôm nay và mai sau. Trong đó kết đọng những
tinh hoa về cách ứng xử, kinh nghiệm đời sống lao động sản xuất của
nhân dân.
1.1.2. Phân biệt thành ngữ, tục ngữ
Thành ngữ và tục ngữ có quan hệ với nhau rất chặt chẽ, vì vậy trong hoạt
động nghiên cứu, sƣu tập trƣớc đây có xu hƣớng gộp chung, không có sự
phân biệt giữa chúng. Tuy nhiên, cách đây gần bảy thập kỷ, vấn đề phân biệt
thành ngữ và tục ngữ đã đƣợc các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, nhất là các
nhà nghiên cứu văn học dân gian quan tâm trên nhiều tiêu chí, nhiều bình diện
khác nhau.
Đầu tiên, trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” (1943), GS Dƣơng
Quảng Hàm nhận định: “Một câu tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa đầy đủ, hoặc
khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì. Còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta
tiện dùng mà diễn tả một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho màu mè” [15,
tr.15]. Nhƣ vậy, theo ông, thành ngữ chỉ là một phƣơng tiện để diễn đạt ý
tƣởng của ngƣời nói chứ không mang đầy đủ ý nghĩa nội dung nhƣ tục ngữ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Đồng tình với nhận định trên, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan cũng quan
niệm: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, kinh
nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán. Còn thành ngữ

khuyên răn về đối nhân xử thế, là những bài học kinh nghiệm về lao động sản
xuất, về nhận thức giới tự nhiên và xã hội, về đạo đức thực tiễn của nhân dân
bằng những câu súc tích ngắn gọn. Tục ngữ là những phán đoán. Thành ngữ
là sự miêu tả những hiện tƣợng tự nhiên và xã hội, là những khái niệm, những
đơn vị nghĩa có sẵn, đƣợc cô đúc chặt chẽ. Nghĩa của thành ngữ thƣờng
không thể giải thích đƣợc một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên
nó. Nó thể hiện một lối nói mang tính biểu trƣng, thƣờng là từ những từ ngữ
cụ thể kết hợp với nhau để mang một nghĩa ẩn dụ mới. Thành ngữ có nghĩa
bóng bẩy.
Thứ hai, về mặt kết cấu và chức năng ngữ pháp: Thành ngữ là cụm từ, tổ
hợp từ cố định đã quen dùng, là mệnh đề nằm trong câu. Kết cấu của thành
ngữ nằm ở bậc trên từ và dƣới câu. Vì vậy, mỗi thành ngữ ít nhất phải có ba
âm tiết trở lên. Trong tục ngữ có cả thành ngữ. Có khi thành ngữ đƣợc dùng
tƣơng đƣơng nhƣ một từ. Thành ngữ có chức năng định danh. Tục ngữ là một
câu có ý trọn vẹn và hoàn chỉnh, có chức năng thông báo, và là những phát
ngôn nhằm đƣa ra một nhận định, một tổng kết mang tính kinh nghiệm có từ
hiện thực.
Thành ngữ và tục ngữ có phần giống nhau về hình thức cấu tạo. Chúng
đều là những tổ hợp từ cố định, kết hợp với nhau theo một cấu trúc chặt chẽ,
có vần điệu hoặc đối ứng (về số lƣợng âm tiết). Nhƣng thành ngữ và tục ngữ
hoàn toàn khác nhau về nội dung ngữ nghĩa và chức năng sử dụng nhƣ đã
trình bày ở trên.
Về cơ bản, thành ngữ là hiện tƣợng ngôn ngữ, là công cụ giao tế chung
của cộng đồng dân tộc; thuộc phạm trù ngôn ngữ học. Còn tục ngữ là một

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

hiện tƣợng ý thức xã hội, phản ánh lối sống của thời đại, lối nghĩ của nhân
dân, lối nói của dân tộc. Tục ngữ là một thể loại của văn học dân gian. Do đó,
điều dễ nhận thấy là ngƣời ta quen gọi thành ngữ tiếng Việt, gọi tục ngữ Việt

ngữ phản ánh và trở thành những kinh nghiệm quý báu cho khoa học nông
nghiệp sau này.
Tục ngữ phản ánh tri thức ứng xử xã hội đƣợc hình thành trong quá trình
sinh sống, giao tiếp và ứng xử giữa con ngƣời với nhau; nhân dân đã đúc kết
rất nhiều câu tục ngữ nói về kinh nghiệm ứng xử trong gia đình và ngoài xã
hội. Trong gia đình có thể kể đến các mối quan hệ ứng xử giữa: cha mẹ - con
cái; vợ - chồng; anh chị em ruột Tục ngữ không chỉ đƣa ra những hiện
tƣợng mà còn đƣa ra những kinh nghiệm ứng xử khéo léo, tinh tế để tạo mối
hòa hảo tốt đẹp giữa các đối tƣợng trong mối quan hệ này. Cũng nhƣ vậy,
hàng loạt các câu tục ngữ xuất hiện đề cập tới mối quan hệ ứng xử giữa hàng
xóm láng giềng với nhau; bạn bè đồng nghiệp; tập thể - cá nhân ; giữa ngƣời
làm ơn - kẻ chịu ơn; ngƣời nói - ngƣời nghe; và đề cập tới các kinh nghiệm
trong giao tiếp, thái độ khen - chê
Tục ngữ còn ghi nhận các hiện tƣợng lịch sử xã hội, phản ánh truyền
thống tƣ tƣởng và đạo đức của nhân dân lao động.
Tục ngữ ghi nhận các hiện tƣợng lịch sử xã hội ghi lại một vài kí ức về
thời kỳ lịch sử xa xƣa của dân tộc: “Ăn lông ở lỗ”, “Chồng chung vợ chạ”,
“Con dại cái mang” ; ghi lại một số hiện tƣợng và nhân vật lịch sử cá biệt,
một số biến đổi về kinh tế, chính trị ảnh hƣởng đến đời sống của nhân dân:
“Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”, “Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong”
Đại bộ phận các câu tục ngữ ghi nhận các hiện tƣợng lịch sử xã hội ở thời kỳ
phong kiến. Đó là những tập tục sinh hoạt hàng ngày về mọi mặt nhƣ ăn, ở,
mặc, cƣới xin, ma chay, hội hè đình đám: “Tương cà Gia Bản”, “Dưa La, cà
Láng, nem Bảng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”, “Đói cho

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

chết, ngày tết cũng lo”, “Ép dầu, ép mỡ, ai nỡ ép duyên”, “Cha mẹ đặt đâu
con ngồi đấy”, “Gái hơn hai, trai hơn một” Đó còn là những câu tục ngữ
ghi lại những đặc điểm trong tổ chức và tập tục của xã thôn: “Phép vua thua

ra một cách tự phát trong nhân dân lao động Việt Nam những yếu tố của tƣ
tƣởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa: “Ăn cho đều, kêu cho sòng”, “Hơn nhau
tấm áo manh quần, thả ra mình trần ai cũng như ai”
Khi nói tục ngữ, dùng tục ngữ thƣờng ngƣời ta muốn nhấn mạnh đến
phần nghĩa bóng núp dƣới vỏ bọc ngôn từ của nó. Đó là cái chiều sâu hàm ẩn
trí tuệ của tục ngữ. Tục ngữ vì thế mà diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh
nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử - xã hội của nhân dân.
Nội dung của tục ngữ muốn đƣợc thể hiện để tạo đƣợc ấn tƣợng và hiệu
quả, điều đó phụ thuộc rất lớn vào phƣơng diện hình thức. Điều đặc biệt làm
nên thể loại tục ngữ chính là sự hài hòa giữa nội dung và hình thức
1.1.3.2. Hình thức của tục ngữ
* Hình tượng
Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành
những phƣơng châm, chân lý. Nó thể hiện bằng ngôn từ qua lối tƣ duy và lối
nói hình tƣợng. Đặc điểm này khiến cho tục ngữ ngắn gọn, cô đọng mà không
trừu tƣợng, khô khan, khó hiểu. Phần lớn tục ngữ đều có hình tƣợng và sự
việc cụ thể, sinh động.
Hình tƣợng trong tục ngữ là hình tƣợng ngôn ngữ, đƣợc xây dựng từ
nhiều biện pháp nghệ thuật cụ thể khác nhau, nhƣ: miêu tả trực tiếp so sánh,
nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nhân cách hóa, tỉ dụ
Ví dụ:
So sánh: Một mẹ già bằng ba then cửa
Tỉ dụ: Gái có chồng như gông đeo cổ
Miêu tả trực tiếp: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Ẩn dụ: Chó chê mèo lắm lông ; Thả con săn sắt, bắt con cá rô
Nhân cách hóa: Cá mè đè cá chép
Ngoa dụ: Một nghề thì sống, đống nghề thì chết ; Tấc đất tấc vàng

trong mỗi câu tục ngữ. Ngắt nhịp trong tục ngữ không chỉ có tác dụng ngừng,
nghỉ để lấy hơi, lấy giọng, mà còn có tác dụng nhấn mạnh nội dung, ý nghĩa
Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho
tục ngữ. Hình thức đối trong tục ngữ Việt là: đối lời, đối ý, đối cân, đối lệch
- Được làm vua - thua làm giặc (đối cân)
- Chó treo - mèo đậy (đối cân cả lời và ý)
- Đẹp như tiên - không tiền cũng ế (đối lệch)
Tục ngữ là một lối nói cách điệu (nằm ở khu vực trung gian, quá độ giữa
lời nói thƣờng và thơ ca). Hầu hết các kiểu gieo vần, ngắt nhịp của các thể thơ
dân tộc truyền thống đều có thể tìm thấy trong tục ngữ. Các kiểu ngắt nhịp
thƣờng gặp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn
ngữ thơ ca
Cách ngắt nhịp 2 tiếng:
- Mèo mả/ gà đồng
- Nồi da/ nấu thịt
Cách ngắt nhịp 3 tiếng:
- Mềm thì nắn/ rắn thì buông
Cách ngắt nhịp 4 tiếng:
- Trai ba mươi tuổi/ đang xoan
- Gái ba mươi tuổi/ đã toan về già

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

* Hình thức ngữ pháp
Đơn vị “tác phẩm” của thể loại tục ngữ, theo thói quen thƣờng đƣợc gọi
là “câu”, vì nó ngắn. Thực ra, xét về nội dung phán đoán cũng nhƣ hình thức
diễn đạt thì “câu” của tục ngữ không giống nhau.
Có thể chia tục ngữ thành ba loại câu khác nhau: Tục ngữ có thể có một
vế, chứa một phán đoán, nhƣng thƣờng có hai vế, chứa hai phán đoán. Cũng
có thể có tục ngữ gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status