Nghiên cứu quy hoạch sinh thái lưu vực sông Đa Dâng thuộc thượng nguồn sông Đồng Nai - bước đầu ứng dụng hệ hỗ trợ quyết định - Pdf 28


TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
*************
Nguyễn Thị Mai

NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH SINH THÁI LƢU VỰC
THƢỢNGNGUỒN SÔNG ĐỒNG NAI – BƢỚC ĐẦU
ỨNG DỤNG HỆ HỖ TRỢ QUYẾT ĐỊNH
DỰ THẢO LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH THÁI HỌC

1. PG. TS. Mai Đình Yên
2. PGS. TS. Nguyễn Kim Lợi



Hà Nội - 2012 NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH SINH THÁI LƢU VỰC
SÔNG ĐA DÂNG THUỘC THƢỢNG NGUỒN
SÔNG ĐỒNG NAI – BƢỚC ĐẦU ỨNG DỤNG HỆ
HỖ TRỢ QUYẾT ĐỊNH Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 62.42.60.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS. TS. Mai Đình Yên
2. PGS. TS. Nguyễn Kim Lợi Hà Nội - 2012

MỤC LỤC
Trang

1.1.1. Khái niệm về quy hoạch
7
1.1.2. Khái niệm về quy hoạch môi trƣờng
8
1.1.3. Khái niệm về quy hoạch sinh thái
11
1.1.4. Những nghiên cứu về quy hoạch sinh thái ở Việt Nam
15
1.2. Tổng quan về hệ hỗ trợ quyết định
17
1.2.1. Định nghĩa về hệ hỗ trợ quyết định
17
1.3.2. Lịch sử phát triển của DSS
17
1.3.3. Thành phần của DSS
20
1.3.4. Vai trò của DSS
22
1.3.5. Sử dụng DSS vào quá trình quản lý lƣu vực
23
1.3. Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến lƣu vực sông Đa
Dâng, tỉnh Lâm Đồng
26
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
29
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
29
2.2. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu
32
2.2.1.Quan điểm nghiên cứu

3.1.2. Đa dạng hệ sinh thái ở lƣu vực sông Đa Dâng
64
3.2. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến ĐDSH lƣu vực sông Đa Dâng,
tỉnh Lâm Đồng
79
3.2.1. Các nhân tố hình thành cảnh quan trong lƣu vực sông Đa Dâng
79
3.2.2. Cấu trúc cảnh quan lƣu vực sông Đa Dâng
98
3.3. Ứng dụng hệ hỗ trợ quyết định làm cơ sở khoa học trong nghiên cứu
quy hoạch sinh thái lƣu vực sông Đa Dâng, tỉnh Lâm Đồng
110
3.3.1. Những vấn đề cần quan tâm trong quy hoạch sinh thái lƣu vực
Đa Dâng
110
3.3.1.1. Đánh giá thực trạng về công tác quản lý và bảo tồn ĐDSH tại
các hệ sinh thái của lƣu vực sông Đa Dâng
110
3.3.1.2. Những vấn đề ƣu tiên trong quy hoạch sinh thái và các giải
pháp bảo tồn ĐDSH và đa dạng HST trong lƣu vực
113
3.3.2. Định hƣớng quy hoạch sinh thái lƣu vực sông Đa Dâng, tỉnh Lâm
Đồng
116
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
133
Kết luận
133
Kiến nghị
134
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTTN
Bảo tồn thiên nhiên
BTNMT
Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng
CQ
Cảnh quan
ĐD
Đa dạng
ĐDSH
Đa dạng sinh học
GIS

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1.
T
ƣơng quan với các hệ xử lý dữ liệu điện tử
theo 5 thuộc tính
ở DSS

19
Bảng 2.1.
Các dữ liệu gốc thành lập bản đồ sinh thái cảnh quan
39
Bảng 2.2
Dữ liệu đầu vào cho mô hình SWAT
49
Bảng 2.3.
Thông tin về các tập tin dữ liệu thời tiết
49
Bảng 2.4.
Các loại đất trong lƣu vực sông Đa Dâng
50
Bảng 2.5
Các loại hình sử dụng đất trong lƣu vực sông Đa Dâng
51

Bảng 3.10.
Hiện trạng các hệ sinh thái lƣu vực sông Đa Dâng (Kịch bản 1)
119
Bảng 3.11.
Hiện trạng các hệ sinh thái lƣu vực sông Đa Dâng (Kịch bản 2)
120
Bảng 3.12.
Hiện trạng các hệ sinh thái lƣu vực sông Đa Dâng (Kịch bản 3)
121
Bảng 3.13.
Diễn biến lƣợng mƣa và lƣu lƣợng nƣớc lƣu vực Đa Dâng
(kịch bản 1)
122
Bảng 3.14.
Diễn biến lƣu lƣợng nƣớc trung bình tháng trong năm theo 3
kịch bản
123
Bảng 3.15.
Giá trị lƣu lƣợng tháng giai đoạn 2005 – 2010 theo 3 kịch bản
124
Bảng 3.16.
Thay đổi giá trị lƣu lƣợng nƣớc lƣu vực sông Đa Dâng theo
tháng của kịch bản 2 so với kịch bản 1
126
Bảng 3.17.
Lƣu lƣợng nƣớc tháng so sánh kịch bản 3 với kịch bản 1
127
Bảng 3.18.
Diễn biến lƣu bồi lắng trung bình tháng trong năm theo 3 kịch
bản

Sơ đồ thành lập bản đồ phân bố các hệ sinh thái
46
Hình 2.5.
Quy trình nghiên cứu quy hoạch sinh thái lƣu vực sông Đa
Dâng
47
Hình 2.6.
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010
48
Hình 2.7
Kết quả phân chia các tiểu lƣu vực trong mô hình SWAT
53
Hình 3.1.
Hệ sinh thái rừng nguyên sinh
65
Hình 3.2.
Hệ sinh thái rừng thứ sinh
68
Hình 3.3.
Hệ sinh thái rừng trồng
68
Hình 3.4
Hệ sinh thái ruộng lúa
70
Hình 3.5.
Hệ sinh thái cây hoa màu và cây cảnh
70
Hình 3.6.
Hệ sinh thái cây trồng lâu năm
72

Đa Dâng
118
Hình 3.17.
Quy hoạch sinh thái lƣu vực sông sông Đa Dâng (Kịch bản 2)
119
Hình 3.18.
Quy hoạch sinh thái lƣu vực sông sông Đa Dâng (Kịch bản 3)
121
Hình 3.19.
Diễn biến lƣu lƣợng nƣớc lƣu vực sông Đa Dâng theo năm của
3 kịch bản
124
Hình 3.20.
Diễn biến lƣu lƣợng nƣớc theo tháng của lƣu vực sông Đa
Dâng theo 3 kịch bản
125
Hình 3.21.
Diễn biến lƣợng bồi lắng lƣu vực sông Đa Dâng giai đoạn
2005 – 2020
129
Hình 3.22.
Diễn biến lƣợng bồi lắng theo tháng giai đoạn 2005 và 2010
theo 3 kịch bản
129

ứng dụng kết hợp các thành tựu về khoa học công nghệ nhƣ GIS và một số mô hình
có liên quan. Sự kết hợp này mang lại hiệu quả cao, vừa không mất quá nhiều thời
gian, vừa chính xác và dễ dàng cập nhật các số liệu. Theo hƣớng nhƣ vậy, với mục
tiêu quy hoạch sinh thái lƣu vực sông Đa Dâng nhằm sử dụng hợp lý các nguồn tài
nguyên và bảo tồn đƣợc đa dạng sinh học, trên cơ sở mô tả đƣợc điều kiện hiện tại
và dự báo đƣợc các điều kiện trong tƣơng lai có liên quan đến sinh thái cảnh quan
và đa dạng sinh học, luận án đã sử dụng kết hợp giữa GIS và mô hình SWAT, một
công cụ mạnh, đắc lực trong hệ hỗ trợ quyết định để mang lại hiệu quả cao nhất
trong việc lựa chọn các phƣơng án và lập kế hoạch phù hợp trong quản lý lƣu vực
sông. Bƣớc thử nghiệm đầu tiên của sự kết hợp này là nghiên cứu đánh giá lƣợng
bồi lắng và lƣu lƣợng nƣớc, hai yếu tố quan trọng của một lƣu vực sông.
Lƣu vực sông Đa Dâng thuộc thƣợng nguồn hệ thống sông Đồng Nai, một
lƣu vực đóng vai trò rất quan trọng bởi nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có giá
trị lớn về kinh tế và khoa học, nhất là về mặt sinh thái, môi trƣờng. Tuy nhiên, lƣu
vực sông Đa Dâng hiện đang chịu sức ép rất lớn do sự phát triển kinh tế và xã hội,
do chặt phá rừng đầu nguồn và chuyển đổi đất rừng thành đất trồng các loại cây
công nghiệp, Các hoạt động này đã ảnh hƣởng rất lớn đến các hệ sinh thái tự
nhiên trong lƣu vực sông và từ đó gây nên hiện tƣợng suy thoái đa dạng sinh học
trong toàn lƣu vực. Vì vậy, đề tài đã chọn lƣu vực sông Đa Dâng thuộc tỉnh Lâm
Đồng làm đối tƣợng nghiên cứu. Mặc dù tại khu vực này đã có một số nghiên cứu
trƣớc đây nhƣng những nghiên cứu này hoặc chỉ tập trung vào các vấn đề môi
trƣờng nƣớc hoặc chỉ đề cập đến một khía cạnh hay một vấn đề sinh thái, môi
trƣờng riêng biệt hay chỉ tập trung về các dạng tài nguyên chung của cả hệ thống
sông Đồng Nai, mà chƣa có công trình nào nghiên cứu cụ thể, đầy đủ về các khía
cạnh sinh thái trên toàn bộ lƣu vực sông Đa Dâng. Do đó, nhằm phục vụ cho công
tác quy hoạch sinh thái, quản lý và duy trì hiệu quả đa dạng sinh học cũng nhƣ bảo
vệ tốt các hệ sinh thái, góp phần vào sự phát triển bền vững cho mỗi địa phƣơng
trong lƣu vực sông, luận án đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống,
mang tính toàn diện những vấn đề về sinh thái, tài nguyên của toàn lƣu vực, đồng
thời kết hợp với các kết quả thu đƣợc từ việc áp dụng mô hình SWAT trong hệ hỗ

4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
 Tổng hợp và phân tích các quan điểm về quy hoạch sinh thái ở các lƣu vực
sông trên thế giới và tại Việt Nam.
 Phân tích, đánh giá hiện trạng các hệ sinh thái, đa dạng sinh học và những
vấn đề cấp bách trong công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học trên toàn
lƣu vực nghiên cứu.
 Đề xuất định hƣớng quy hoạch sinh thái lƣu vực sông Đa Dâng trên cơ sở
xác định ảnh hƣởng của một số yếu tố chính nhằm hỗ trợ các nhà quy hoạch,
hoạch định chính sách và ra quyết định trong quản lý lƣu vực.
 Trên cơ sở dữ liệu về môi trƣờng và đa dạng sinh học hiện có, áp dụng mô
hình SWAT trong hệ hỗ trợ quyết định kết hợp với hệ thống thông tin địa lý
để đề xuất các phƣơng án quy hoạch sinh thái cho lƣu vực sông Đa Dâng.
5. GIỚI HẠN KHÔNG GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
 Giới hạn không gian: khu vực nghiên cứu là lƣu vực sông Đa Dâng, tỉnh Lâm
Đồng thuộc thƣợng nguồn sông Đồng Nai.
 Phạm vi nghiên cứu: với mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, tác giả luận án chỉ giới
hạn phạm vi nghiên cứu ở các vấn đề sau:
 Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học (gồm đa dạng loài và đa
dạng hệ sinh thái) thuộc lƣu vực sông Đa Dâng.
 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến đa dạng sinh học lƣu vực sông Đa
Dâng, tỉnh Lâm Đồng (các nhân tố hình thành nên sinh thái cảnh quan và tác
động của con ngƣời).
 Áp dụng mô hình SWAT để đánh giá lƣu lƣợng nƣớc và lƣợng bồi lắng lƣu
vực sông nhằm tạo cơ sở khoa học có tính định lƣợng phục vụ cho định
hƣớng quy hoạch sinh thái lƣu vực sông Đa Dâng, tỉnh Lâm Đồng.
 Định hƣớng quy hoạch sinh thái lƣu vực sông Đa Dâng, tỉnh Lâm Đồng trên
cơ sở kết hợp hài hòa giữa bảo vệ các hệ sinh thái và đa dạng sinh học, đồng
thời đề xuất các phƣơng án sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên làm cơ sở
cho nhà ra quyết định lựa chọn phƣơng án tối ƣu.
6. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN

1.1. KHÁI NIỆM VỀ QUY HOẠCH SINH THÁI
1.1.1. Khái niệm về quy hoạch
Quy hoạch là việc làm cần thiết và quan trọng phải thực hiện trƣớc một bƣớc
trong bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống xã hội. Tuy nhiên, quy hoạch có bản chất
khó nắm bắt. Andrew Blower (1997), nhìn nhận quy hoạch nhƣ soạn thảo một tập
hợp các chƣơng trình liên quan đƣợc thiết kế để đạt đƣợc mục đích nhất định [53].
Nó bao gồm các việc định ra một vấn đề cần đƣợc giải quyết, thiết lập các mục tiêu
của quy hoạch, xác định các giả thiết mà quy hoạch cần dựa vào; tìm kiếm, đánh giá
các biện pháp hoặc hành động có thể thay thế và lựa chọn hành động cụ thể để thực
hiện [62].
Nói đến quy hoạch, ngƣời ta thƣờng hiểu đó là sự lựa chọn, hoạch định, quy
định, sắp xếp, bố trí theo không gian, theo cơ cấu của những đối tƣợng đƣợc quy
hoạch để thực hiện những định hƣớng, những mục tiêu của chiến lƣợc và của kế
hoạch theo những thời gian nhất định. Quy hoạch và kế hoạch là hai phạm trù độc
lập nhƣng thống nhất với nhau, cùng tồn tại và phụ thuộc lẫn nhau. Quy hoạch
mang tính không gian hoặc cơ cấu của sự triển khai, thực hiện kế hoạch. Kế hoạch
mang tính thời gian cùng với các định hƣớng, mục tiêu cho quy hoạch. Nói cách
khác, kế hoạch cụ thể thời gian cho quy hoạch còn quy hoạch cụ thể không gian cho
kế hoạch. Bởi vậy, quy hoạch có tính không gian nhƣng gắn với mục tiêu và thời
gian của kế hoạch; kế hoạch có tính thời gian gắn với không gian của quy hoạch. Ví
dụ, có các kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn và có các quy hoạch thực hiện các
mục tiêu của dài hạn, trung hạn, ngắn hạn đó. Quy hoạch là sự tích hợp giữa các
kiến thức khoa học và kỹ thuật, tạo nên những sự lựa chọn để có thể thực hiện các
quyết định về các phƣơng án cho tƣơng lai.
Có rất nhiều kiểu quy hoạch, đó là: quy hoạch chiến lƣợc và quy hoạch hành
động, quy hoạch tổng thể và quy hoạch chuyên ngành, quy hoạch chung và quy
hoạch chức năng, Trong công tác quản lý nhà nƣớc nhằm bảo vệ môi trƣờng, nhà
nƣớc thƣờng sử dụng phối hợp nhiều công cụ khác nhau: các công cụ luật pháp -
chính sách, công cụ kinh tế, kế hoạch hóa, đánh giá tác động môi trƣờng, giám sát
môi trƣờng.

chúng liên quan đến phát triển các thành phần vật lý trên một khu vực cụ thể nào đó
[86].
Theo Anne Beer (1990) [39], “QHMT phải là cơ sở cho tất cả các quyết định
về phát triển có tính khu vực nếu nhƣ môi trƣờng thiên nhiên cần đƣợc bảo vệ và môi
trƣờng sống của con ngƣời cần đạt đƣợc”. Khái niệm này giới hạn trong phạm vi
tƣơng đối hẹp của khu vực phát triển, chú ý đến việc lựa chọn các điều kiện thích
hợp, tối ƣu cho các dự án phát triển. John Edington (1979) [65] cho rằng “QHMT là
sự cố gắng làm cân bằng và hài hoà các hoạt động phát triển mà con ngƣời vì quyền
lợi của mình sẽ áp đặt quá mức lên môi trƣờng tự nhiên”. Tác giả cũng cho biết các
nguyên lý của QHMT là: (1) mỗi loại hình công trình đòi hỏi một điều kiện khu vực
nhất định liên quan đến các đặc tính tự nhiên của cảnh quan; (2) và khi chúng đƣợc
đặt cạnh nhau thì cần có sự tƣơng thích nhất định.
QHMT có thể đƣợc thực hiện bằng cách gắn kết vấn đề môi trƣờng vào quy
hoạch phát triển hay thực hiện một cách độc lập. Nếu QHMT gắn kết với quy hoạch
phát triển thì thực chất QHMT là một dạng quy hoạch chuyên ngành hay một vấn
đề quan trọng cần đƣợc xem xét một cách kỹ lƣỡng trong quá trình xây dựng quy
hoạch phát triển. Malone – Lee Lai Choo (1997) [52] cho rằng, để giải quyết những
“xung đột” về môi trƣờng và phát triển, cần thiết phải xây dựng hệ thống quy hoạch
trên cơ sở những vấn đề về môi trƣờng. ADB (1991) và Emmanuel K.Boon (1998)
[52] cho rằng, các vấn đề môi trƣờng phải đƣợc gắn kết vào mọi cấp độ quy hoạch
phát triển khác nhau. Theo các cấp độ quy hoạch ta có: Chiến lƣợc  Quy hoạch 
Kế hoạch. Xu hƣớng này phát triển rất mạnh ở rất nhiều nƣớc nhƣ Anh, Canada,
Mỹ Từ năm 1998, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trƣờng phối hợp với các cơ
quan nghiên cứu về tài nguyên môi trƣờng trong nƣớc tiến hành soạn thảo phƣơng
pháp luận, phƣơng pháp nghiên cứu QHMT và xây dựng nghiên cứu mẫu QHMT ở
đồng bằng sông Hồng. Sau năm 1990, ở nƣớc ta, hầu hết các quy hoạch phát triển
kinh tế – xã hội đều có xem xét các yếu tố môi trƣờng. Điển hình là quy hoạch tổng
thể đồng bằng sông Hồng (1994), quy hoạch thành phố Hà Nội đến năm 2020, quy
hoạch đồng bằng sông Cửu Long, quy hoạch chuỗi đô thị Miếu Môn – Hoà Lạc –
Xuân Mai [29].

tổ chức bố trí khu dân cƣ, hạ tầng cơ sở, khu du lịch vui chơi giải trí.
Trong quy hoạch môi trƣờng, quá trình thực hiện có thể trên quy mô lớn nhỏ
khác nhau, nhƣ: có thể quy hoạch bảo vệ một thành phần của môi trƣờng (đất, nƣớc,
không khí, đa dạng sinh học,…) hay quy hoạch môi trƣờng tổng thể theo vùng hoặc
theo khu vực (lƣu vực, vùng ven biển, hệ thống đô thị, các vùng sinh thái hay vùng
địa lý sinh vật). Khi quy hoạch vùng phải quan tâm và chú ý đến tất cả các yếu tố tài
nguyên, chất lƣợng các thành phần môi trƣờng, các hệ sinh thái nhạy cảm, đa dạng
sinh học và các hoạt động kinh tế và phát triển trong khu vực nghiên cứu.
1.1.3. Khái niệm về quy hoạch sinh thái
Ngày nay, mọi ngƣời đều hiểu sâu sắc tầm quan trọng của sinh thái học đối
với sự nghiệp duy trì và nâng cao trình độ của nền văn minh hiện đại. Tuy vậy, dƣới
áp lực dân số gia tăng, nhu cầu đời sống và trình độ khoa học công nghệ ngày một
cao, con ngƣời ngày càng can thiệp sâu vào quá trình tự nhiên thì sinh thái học đang
phải tập trung mọi cố gắng của mình vào việc nghiên cứu và giải quyết những hậu
quả do con ngƣời gây ra, nhằm thiết lập lại mối quan hệ hài hòa giữa con ngƣời với
thiên nhiên. Do đó, sinh thái học không chỉ là nhu cầu của nhận thức mà trở thành
những nguyên tắc, nền tảng khoa học cho chiến lƣợc phát triển bền vững của xã hội
loài ngƣời. Sinh thái học luôn là cơ sở cho các quy hoạch đƣơng đại nhƣ: quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế xã hội theo hƣớng phát triển bền vững, quy hoạch môi
trƣờng theo hƣớng bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, quy hoạch
môi trƣờng chiến lƣợc theo hƣớng nền nông nghiệp sinh thái,…Nhƣ vậy, quy hoạch
sinh thái là một quá trình hiểu, đánh giá, đƣa ra những lựa chọn để sử dụng cảnh
quan bảo đảm sự thích hợp hơn đối với nơi cƣ trú của con ngƣời và sinh vật.
“Về thực chất thì quy hoạch sinh thái hay quy hoạch tổng thể trên cơ sở sinh thái
– tài nguyên – môi trƣờng là kiểu quy hoạch môi trƣờng gắn liền với quy hoạch
phát triển”. Sự bền vững trong phát triển phụ thuộc mạnh mẽ vào sự bền vững của
các HST. Tính bền vững của các HST là trạng thái mà ở đó, HST Trái Đất có khả
năng hấp thụ các tác động do con ngƣời mà không bị suy thoái [39].
Theo Edington John M., (1979) [65], khi quy hoạch sinh thái, ngoài các dẫn
liệu về kinh tế xã hội, chúng ta cần quan tâm đến môi trƣờng tự nhiên và quá trình

đổ thải". Nói một cách khác, mỗi vùng hay khu vực sẽ là một tập hợp của nhiều
kiểu hệ sinh thái có tuổi khác nhau.
Quy hoạch sinh thái đòi hỏi việc tuân thủ các nguyên tắc về mức độ phù hợp cao
nhất và việc sắp xếp các lô đất cận kề phải là tƣơng thích. Các mục tiêu môi trƣờng
nhƣ bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn các hệ sinh thái quan trọng, quản lý tốt các
vùng nhạy cảm môi trƣờng, phòng chống tai biến và ô nhiễm môi trƣờng sẽ là
những mục tiêu hàng đầu phải đƣợc chú trọng trong quá trình hoạch định cụ thể.
Trong quy hoạch sinh thái cũng cần quan tâm và chú trọng đến các mối quan hệ
giữa các thành phần cấu tạo nên môi trƣờng nhƣ đất nƣớc, không khí, bởi vì đất,
nƣớc và không khí luôn luôn tƣơng tác và ảnh hƣởng đến sinh giới tạo nên một hệ
thống nhất, ổn định và cũng vô cùng phức tạp. Hệ sinh thái luôn nhấn mạnh các mối
quan hệ bắt buộc, độc lập và nhân quả (quan hệ tƣơng hỗ). Bất kỳ thay đổi nào
trong môi trƣờng cũng sẽ ảnh hƣởng đến hệ sinh thái. Mặc dù tất cả các hệ sinh thái
tồn tại trong tự nhiên đều có hai đặc tính là năng lực tự cân bằng và năng lực chịu
tải trƣớc các tác động của thiên nhiên và con ngƣời, tuy nhiên nếu các tác động này
quá mạnh và không đƣợc kìm chế thì hệ sinh thái có thể vị phá vỡ hoàn toàn.
Quy hoạch sinh thái còn đƣợc hiểu là quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch
tổng hợp tài nguyên nƣớc trên cơ sở điều kiện sinh thái hay tính phù hợp của đất
hoặc nƣớc trên cơ sở sinh thái.
Trong hầu hết các dạng quy hoạch sử dụng đất hay có liên quan đến phân chia tổ
chức lãnh thổ, quá trình phân tích không gian thƣờng bắt đầu với việc nhận dạng
các vùng sinh thái. Một ví dụ về hệ thống đánh giá và nhận dạng này đƣợc xây dựng
tại Trung tâm Đông Tây ở Ha Oai. Trong hệ thống này, không những các yếu tố thổ
nhƣỡng và địa hình đƣợc điều tra mà phải biết đƣợc toàn bộ hệ sinh thái hay các
đơn vị cảnh quan. Các thành phần chính của một hệ sinh thái bao gồm: khí hậu,
thành phần địa chất, thủy văn, địa vật lý, địa mạo, địa hình, thổ nhƣỡng, hiện trạng
sử dụng đất và lớp phủ thực vật [91].
Một ví dụ khác về ứng dụng các nguyên tắc của sinh thái cảnh quan và các công
nghệ GIS vào quy hoạch sinh thái cảnh quan đƣợc thực hiện ở thành phố Jiaozuo
[96]. Cảnh quan của thành phố Jiaozuo đã đƣợc phân ra làm 6 dạng: đất nông

pháp luận nghiên cứu là vận dụng nhuần nhuyễn hai luận điểm về tính động lực và
tính liên kết của các đơn vị sinh thái cảnh quan.
Ngay từ năm 1976, tác giả Mai Đình Yên đã có bài viết về quy hoạch sinh
thái trong đó tác giả quan niệm rằng: “Dự án phát triển kinh tế đƣợc xây dựng dựa
trên các thông số về sinh thái học ngoài các thông số về kinh tế cho chính dự án
đƣợc gọi là quy hoạch sinh thái”, “Quy hoạch sinh thái có yêu cầu cao hơn; nó có
giá trị bổ sung, hoàn thiện các quy hoạch kinh tế”. Các nguyên tắc cơ bản của quy
hoạch sinh thái là:
(1) bảo đảm tính hệ thống;
(2) tôn trọng tính mảnh dẻ và dễ bị phá hủy của các hệ sinh thái ở vùng nhiệt
đới và
(3) làm tốt quy hoạch sinh thái ngay từ đầu. [49]
Tiếp theo nghiên cứu này, ở Việt Nam xuất hiện những quy hoạch mang tính
lẻ tẻ phục vụ cho sự phát triển của ngành cụ thể nhƣ nông nghiệp, lâm nghiệp, xây
dựng, vệ sinh… [Phạm Trí Minh, 1979; Hoàng Nhƣ Tiếp, 1978; Đào Ngọc Phong,
1978…và nhiều tác giả]. Đến năm 1994, chính tác giả Mai Đình Yên (1994) [51] đã
ứng dụng khái niệm nêu trên vào quy hoạch sinh thái xã Khải Xuân, một xã ở trung
du miền núi thuộc tỉnh Vĩnh Phú và trong báo cáo của mình, tác giả đã đề cập
những mục tiêu chính của quy hoạch sinh thái bao gồm:
- Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên (một phần của quy hoạch sử dụng đất,
quy hoạch sản xuất nông lâm ngƣ nghiệp);
- Thiết kế tự nhiên (một phần của quy hoạch xây dựng, quy hoạch du lịch, quy
hoạch cảnh quan);
- Bảo vệ môi sinh (một phần của vệ sinh công cộng).
Tác giả còn cho rằng, quy hoạch sinh thái nên đƣợc thực hiện ở 3 cấp: cả nƣớc,
lãnh thổ (vùng, miền, tỉnh) và địa phƣơng (xã, huyện) theo yêu cầu của phát triển
kinh tế nâng cao mức sống [51].
Nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống ở Việt Nam có liên quan trực tiếp đến quy
hoạch sinh thái là công trình nghiên cứu của Vũ Quyết Thắng (2000) [40]. Trong
nghiên cứu này, Vũ Quyết Thắng đã đề xuất quy hoạch môi trƣờng trên cơ sở tiếp


1.2.2. Lịch sử phát triển của DSS
Hệ hỗ trợ ra quyết định đƣợc bắt đầu nghiên cứu vào cuối những năm 1950
và đầu thập niên 1960 trong các nghiên cứu lý thuyết về quyết định tổ chức thực
hiện của Viện Công nghệ Carnegie và tiếp sau đó DSS lại xuất hiện trong nghiên
cứu “Kỹ thuật công trình trên các hệ thống máy tính tƣơng tác” bởi Viện Công nghệ
Massachusetts vào những năm 1960. Tuy nhiên, đến giữa những năm 1970, DSS
mới đƣợc coi là một khái niệm cụ thể và trở thành một lĩnh vực nghiên cứu riêng.
Những năm tiếp theo của thập niên 1970, lý thuyết về DSS mới phát triển và ứng
dụng vào việc lập kế hoạch cho ngành tài chính. Cụm từ DSS bắt đầu xuất hiện phổ
biến vào đầu thập niên 1980 và trong những năm giữa và cuối của thập niên 1980,
DSS tiếp tục đƣợc nghiên cứu mạnh mẽ và sâu rộng hơn cùng với các mô hình khác
nhƣ hệ thống thông tin quản lý (EIS), Hệ hỗ trợ ra quyết định nhóm (GDSS) và hệ
hỗ trợ quyết định tổ chức (ODSS). Đầu tiên DSS đƣợc xây dựng chạy trên máy tính
cá nhân (PC), sau đó đƣợc phát triển trên hệ thống mạng internet (Web-base DSS)
vào giữa thập niên 1990 [92].
Cuối thập niên 1970, một số nhà nghiên cứu và các công ty đã phát hiện các
giao diện hệ thống thông tin, trong đó có sử dụng dữ liệu và các mô hình phân tích
dữ liệu để hỗ trợ các nhà quản lý phân tích các vấn đề bán cấu trúc (semi-structure).
Những hệ thống này gọi chung là DSS và nó đƣợc thiết kế để hỗ trợ cho ngƣời ra
quyết định ở các cấp khác nhau. Trong thời gian này, DSS đƣợc coi là một mô hình
dựa trên phân tích số liệu nhằm hỗ trợ các nhà quản lý trong việc ra quyết định. Một
hệ thống DSS đƣợc xem là thành công khi hệ thống đó đơn giản, dễ điều khiển, dễ
sử dụng [58]. DSS có thể sử dụng dữ liệu không gian để phân tích và hiển thị cấu
trúc dữ liệu đa chiều và dữ liệu phi cấu trúc [74]. Các mô hình khác đƣợc sử dụng
trong DSS bao gồm: mô hình tối ƣu hóa, mô hình mô phỏng, mô hình phân tích
thống kê, Một tiện ích quan trọng là ngôn ngữ đƣợc lập trên bảng tính
(spreadsheet), trong mô hình có thể phân biệt đƣợc giữa ngôn ngữ và dữ liệu để xử
lý và cho kết quả.
Đầu thập niên 1980, các nhà nghiên cứu đã phát triển một loại phần mềm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status