bài dự thi vận dụng kiến thức liên môn giải quyết tình huống thực tiễn tình huống chăn nuôi động vật ở gia đình nông thôn - Pdf 28

Tên tình huống
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT Ở GIA ĐÌNH NÔNG THÔN
I. Mục tiêu giải quyết tình huống
- Tìm hiểu cách chăn nuôi khoa học, hiệu quả ở các hộ gia đình nông thôn để có cách
chăn nuôi đúng, bảo đảm năng suất, chất lượng của vật nuôi.
II. Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình huống
1. Phương pháp tham khảo ý kiến của người có chuyên môn.
2. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa kết hợp phỏng vấn.
3. Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu.
4. Phương pháp xác định tình trạng vật nuôi và tính năng suất, chất lượng.
III. Giải quyết tình huống
- Tìm kiếm và chắt lọc thông tin có liên quan qua những nguồn tin cộng đồng.
- Tiến hành nghiên cứu thực tế.
- Tổng hợp những gì đã tìm hiểu được cùng những kết quả đánh giá, nghiên cứu để
thực hành chăm sóc vật nuôi.
IV. Thuyết minh tiến trình giải quyết tình huống
- Ngày nay, khi thế giới đang phát triển công nghiệp thì tại Việt Nam, chăn nuôi vẫn
là một trong những nghề chính của con người. Ở nông thôn có lợi thế về diện tích,
ruộng vườn hơn ở thành phố. Vì vậy, chăn nuôi ở đây phát triển hơn. Chăn nuôi là
một phần quan trọng trong nông nghiệp và rất cần thiết cho cuộc sống con người bởi
nó tạo ra nguồn thực phẩm ta ăn hàng ngày. Một số kĩ thuật chăn nuôi khá đơn giản,
trẻ em- những học sinh như chúng em hoàn toàn có thể làm để đỡ việc cho người lớn.
Vậy nên em đã tìm hiểu các thông tin và tiến hành các nghiên cứu về mặt lý thuyết.
1. Tiến hành các nghiên cứu về măt lý thuyết
1.1 Chuồng nuôi
- Chuồng nuôi là “nhà ở” của vật nuôi. Chuồng nuôi phù hợp sẽ bảo vệ sức khỏe vật
nuôi, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi. Chuồng nuôi giúp động vật tránh được
những thay đổi của thời tiết, tạo ra một tiểu khí hậu thích hợp cho vật nuôi đồng thời
hạn chế sự tiếp xúc giữa vật nuôi với mầm bệnh. Chuồng nuôi còn giúp ta quản lí tốt
đàn vật nuôi và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quy trình chăn nuôi khoa
học.

- Cần chăm sóc chu đáo, tiêm phòng đầy đủ vắc xin và cho vật nuôi ăn đầy đủ các
chất dinh dưỡng để phòng bệnh. Nên báo ngay cho cán bộ thú y đến khám và điều trị
khi có triệu chứng bệnh ở vật nuôi và cần cách li vật nuôi bệnh với vật nuôi khỏe.Bác sĩ thú y tiêm phòng, khám cho vật nuôi
1.3 Thức ăn cho vật nuôi
- Mỗi loại vật nuôi chỉ ăn được những loại thức ăn nào phù hợp với đặc điểm sinh lí
tiêu hóa của chúng.
- Thức ăn cho vật nuôi có nguồn gốc từ thực vật, động vật và chất khoáng. Thức ăn
cho vật nuôi gồm có nước, protein, gluxit, lipit, vitamin và chất khoáng. Tùy từng loại
thức ăn mà thành phần và tỉ lệ các chất dinh dưỡng khác nhau.Một số loại thức ăn cho vật nuôi
- Sau khi được tiêu hóa và hấp thụ, thức ăn cung cấp cho vật nuôi các nguyên liệu để
tạo ra các dạng sản phẩm chăn nuôi khác nhau. Cho ăn thức ăn tốt và đủ, vật nuôi sẽ
cho nhiều sản phẩm chăn nuôi và chống được bệnh tật.Một số hình ảnh về cho vật nuôi ăn
2. Thuyết minh các nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình huống
a. Phương pháp tham khảo ý kiến của người có chuyên môn
- Để tìm được những kinh nghiệm chăn nuôi dân gian của những người đã có kinh
nghiệm giúp có những mẹo vặt chăm sóc vật nuôi tốt.
b. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa kết hợp phỏng vấn:
- Trực tiếp khảo sát các chuồng, trại chăn nuôi để rút ra những lưu ý khi chăm sóc vật
nuôi
c. Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu:
- Tính số vật nuôi trên mỗi chuồng.

(nền láng xi măng) để phân gà rơi xuống dưới, tránh bẩn, ẩm ướt và dễ dàng hót phân.
Làm chuồng nơi cao ráo, hướng Đông Nam, tận dụng càng nhiều ánh sáng tự nhiên
càng tốt. Phải khử trùng chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn,
máng uống trước khi sử dụng 5 - 7 ngày. Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban
đêm. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng.
- Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt. Tránh chọn những con gà khô
chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.
Nên vận chuyển gà con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão.
- Khi bắt gà về cho gà nghỉ 10- 15 phút rồi cho uống nước có pha 50gr đường glucoza
với 1gr Vitamin C/31ít nước để chống stress cho gà; chỉ cho gà ăn sau khi đã được
uống nước.Nước uống phải sạch và ấm ở nhiệt độ 16
0
C. Sử dụng máng uống bằng hộp
nhựa, chai đựng đầy nước úp ngược (phía dưới là đĩa có gờ để nước rỉ dần ra đĩa cho
gà uống) hoặc các chụp ống bằng nhựa hoặc ống bương các chụp ống bằng nhựa 3, 5-
4 1ít cho 100 gà.
- Để đề phòng bệnh viêm rốn và bạch lỵ có thể cho uống kháng sinh trong 4 ngày đầu
tiên: Ampiseptin gói 5g, hoặc Ampicoli gói 5g; một gói hòa một lít nước.
+ 5 ngày: Dùng vacxin Lasota nhỏ mắt mũi.
+ 10 – 12 ngày: Chủng đậu và gumboro nhỏ mắt mũi
+ 21 ngày: Dùng Laxota lần 2.
+ 35 ngày: Chích Imopest: 0,3cc/con. Lặp lại sau mỗi 3 tháng đối với gà nuôi đẻ và gà
trống giống. Chích vacxin tụ huyết trùng 1cc/con cùng một lúc. Lặp lại sau mỗi 6
tháng đối với gà giống.
Tiêm thuốc phòng bệnh cho gà
- Có thể bổ sung thường xuyên trong nước uống, vitamin, vitasol liều 2g/lít nước.
- Mỗi tháng xổ giun một lần với Levamisol liều một gói 5g/3kg gà nhỏ hoặc 5kg gà
lớn.
- Lồng úm gà con: Sưởi ấm cho gà bằng đèn (bóng 75W). Khi gà còn nhỏ (1 - 3 ngày
tuổi) rải thức ăn trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn. Trên 15 ngày cho gà ăn máng

Không thả rèm (chỉ thả khi trời mưa bão lạnh).
- Lượng thức ăn một ngày đêm: 1-10 ngày tuổi cho ăn 6-10g/1 con; 11-30 ngày tuổi
cho ăn 15-20g; 31-60 ngày tuổi cho ăn 30-40g. Gà giò 61-150 ngày cho ăn 45-
80g/con. Gà sinh sản: gà mái 100g/con, gà trống 110g. Số bữa ăn đối với gà con là 6
bữa/ngày đêm, gà giò và gà mái sinh sản 2-3 bữa/ngày đêm.
- Gà mới nở không nên cho ăn ngay, để khoảng 48 giờ mới tập ăn vì trong bụng còn
túi noãn hoàn có thể nuôi sống gà trong vòng ba ngày đầu, nếu cho gà ăn sớm sẽ khó
tiêu hóa hết túi noãn hoàn.
+ Ngày 1-2: không cho ăn, chỉ cho uống nước tự do.
+ Ngày thứ 3: cho ăn tấm, gạo ngâm mềm hoặc hợp chất thức ăn tự pha trộn theo lứa
tuổi, cứ 1 giờ ăn 1 lần, mỗi lần ăn khoảng 10 phút.
+ Ngày thứ 4: Cho gà ăn 6 lần/ngày. Mỗi lần ăn 15 phút.
+ Ngày thứ 5 đến 60 ngày tuổi: để thức ăn hỗn hợp cho gà ăn ngày lẫn đêm, khoảng
11 giờ và 15 giờ cho gà ăn rau thái nhuyễn.
- Cho thức ăn vào mẹt, khay tôn, khay nhựa cao 3-5 cm hoặc máng bằng tre luồng để
cho gà ăn.

Cho gà ăn
- Nếu vườn thả rộng, dồi dào thức ăn (rau, cỏ, giun, dế, cào cào, ) thì nên bớt lượng
thức ăn tinh. Quan sát diều gà buổi chiều trước lúc vào chuồng để biết gà no hay đói,
cần cho ăn thêm nhiều hay ít và chú ý phòng bệnh cho gà.
- Sau 4 tuần tuổi bắt đầu thả gà ra vườn, thả khi mặt trời đã mọc từ 1 -2 giờ. Ngày đầu
thả gà ra khoảnh 2 tiếng và tăng dần vào những ngày sau để gà quen dần trong vòng
một tuần.
- Đảm bảo dinh dưỡng cho gà với tỷ lệ protein thô 15-16%, năng lượng 2.800 kcal.
Cần bổ sung thêm thức ăn cho gà vào buổi chiều trước khi gà lên chuồng bằng lúa,
tấm, cám, giun đất
- Từ 1-6 tuần tuổi: Nuôi như gà thịt thương phẩm.
- Từ 7-20 tuần tuổi: Cho gà ăn hạn chế với lượng thức ăn ít hoặc thức ăn có năng
lượng thấp dưới 2.750kcal để tránh gà quá béo (vì gà béo quá sẽ đẻ muộn, đẻ thưa,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status