Ảnh hưởng của phun chế phẩm kali aba2 lên lá đến một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất cây lạc (arachis hypogaea l ) - Pdf 28



TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
- -  - -
HOÀNG THỊ HOA
ẢNH HƯỞNG CỦA PHUN CHẾ PHẨM
KALI ABA2 LÊN LÁ ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU
SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CÂY LẠC
(Arachis hypogaea L.) KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lý học thực vật HÀ NỘI, 2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
- -  - -

hoàn thành khoá luận này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô trong tổ Sinh lý thực vật –
Hoá sinh, các thầy cô phụ trách phòng thí nghiệm, thư viện cùng sự đóng góp
của các bạn sinh viên Khoa Sinh - KTNN Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
đã động viên khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài này.
Trong quá trình nghiên cứu khoa học chắc chắn đề tài của tôi không
tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự đóng góp của các thầy cô giáo và
bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hoà, ngày 10 tháng 5 năm 2014
Sinh viên Hoàng Thị Hoa

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Văn Đính. Các số liệu, kết quả nghiên
cứu trong khoá luận là trung thực và chưa được ai công bố.
Xuân Hoà, ngày 10 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 17
2.1.2. Thời gian, địa điểm và phạm vi nghiên cứu 17
2.2. Phương pháp nghiên cứu 18 2.2.1. Cách bố trí thí nghiệm 18
2.2.2. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu 19
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm 20
CHƯƠNG 3. KẾT QỦA VÀ THẢO LUẬN 21
3.1. Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến các chỉ tiêu sinh trưởng 21
3.1.1. Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến chiều cao cây 21
3.1.2. Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến tổng số nhánh/cây 22
3.1.3. Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến khả năng tích lũy sinh khối
tươi, khô của thân và lá giống lạc L14 24
3.2. Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến năng suất 29
3.3. Đánh giá hiệu quả việc sử dụng chế phẩm Kali ABA2 31
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 33
1. Kết luận 33
2. Kiến nghị 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
PHỤ LỤC 38


DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1. Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến chiều cao cây của giống
lạc L14 22
Hình 3.2. Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến số nhánh của giống lạc
L14 23
Hình 3.3. Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến khả năng tích lũy sinh
khối tươi của thân của giống lạc L14 26
Hình 3.4. Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến khả năng tích lũy sinh
khối khô của thân của giống lạc L14 26
Hình 3.5. Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến khả năng tích lũy sinh
khối tươi của lá của giống của lạc L14 28
Hình 3.6. Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến khả năng tích lũy sinh
khối khô của lá của giống lạc L14 28
Hình 3.7. Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến năng suất tươi của giống
lạc L14 30
Hình 3.8. Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến năng suất khô của giống
lạc L14 30
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có điều kiện thuận lợi
cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây công nghiệp ngắn ngày. Sản
xuất cây công nghiệp ngắn ngày đã trở thành tập quán sản xuất của bà con
nông dân Việt Nam. Trong các cây công nghiệp ngắn ngày đang được sản
xuất ở Việt Nam, cây lạc có một vị trí rất quan trọng.
Cây lạc có nguồn gốc ở Nam Mỹ nhưng hiện tại được trồng trọt trên 80
nước từ 40 vĩ độ

Bắc đến 40

vĩ độ Nam thuộc vùng nhiệt đới và các vùng ấm
áp trên thế giới [10]. Lạc vừa là cây công nghiệp ngắn ngày vừa là cây thực
phẩm và cũng là cây có dầu có giá trị kinh tế cao. Trên thế giới, trong số các
loại cây có dầu ngắn ngày, cây lạc được xếp thứ 2 sau đậu tương về diện tích
và sản lượng, xếp thứ 13 trong các cây thực phẩm quan trọng, xếp thứ 4 về
nguồn dầu thực vật và xếp thứ 3 về nguồn protein cung cấp cho người.
Ở Nước ta cây lạc được đánh giá có hiệu quả kinh tế cao về nhiều mặt:
Thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi, nguyên liệu cho công
nghiệp, nông sản xuất khẩu, cây luân canh cải tạo đất… [25]. Cũng như các
cây họ đậu khác, lạc là cây có khả năng cố định nitơ sinh học rất quan trọng
cho cây trồng. Ước tính có khoảng 72 - 120 kgN/ha/năm cố định được sau khi
canh tác lạc. Bên cạnh đó, còn có một khối lượng sinh học lớn của thân, lá lạc
bị phân huỷ sau khi thu hoạch đã để lại một lượng mùn đáng kể có tác dụng
cải tạo đất, bồi dưỡng độ phì nhiêu cho đất, tạo điều kiện thuận lợi trong việc
luân xen canh, thâm canh tăng năng suất cây trồng, nhất là đối với những
vùng đất xám, đất bạc màu nghèo dinh dưỡng. Xét về dinh dưỡng thì lạc là
một trong những nguyên liệu quý đóng góp tỷ lệ đáng kể vào thành phần chất
béo, protein quan trọng cho khẩu phần ăn hằng ngày của con người. Dầu lạc

trưởng, năng suất của giống lạc L14 hiện đang được người nông dân trồng
phổ biến ở Vĩnh Phúc làm cơ sở khuyến cáo cho người sản xuất. 3. Nội dung nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi tiến hành đánh giá ảnh hưởng của phun chế
phẩm Kali ABA2 đến:
- Các chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển: Chiều cao cây, tổng số cành,
khả năng tích lũy sinh khối tươi, khô của thân và lá.
- Ảnh hưởng của phun chế phẩm Kali ABA2 đến năng suất (g/cây) và
yếu tố cần thiết.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế khi sử dụng chế phẩm Kali ABA2 phun lên
lá cho cây lạc.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung các tài liệu nghiên cứu ảnh
hưởng của chế phẩm phân bón lá Kali ABA2 đến sinh trưởng và năng suất đối
với cây lạc.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp cơ sở, bằng chứng khoa học cho việc sử dụng chế phẩm Kali
ABA2 nhằm tăng khả năng sinh trưởng và năng suất của cây lạc L14. Trên cơ
sở đó, hướng dẫn, khuyến cáo cho người nông dân sử dụng chế phẩm này một
cách hợp lý để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.


nhiều rễ của các cây họ đậu khác, rễ cây lạc có nhiều nốt sần, được tạo nên do
sự cộng sinh của vi khuẩn cố định đạm Rhizobium. Thân cây lạc lúc còn non có hình tròn, đến lúc già có cạnh và rỗng ruột. Trên thân có lông ngắn và
nhiều lông tơ. Theo Minkevic (1968) thân lạc có thể có chiều cao tới 2 m.
Những quan sát ở nước ta cho thấy những giống có dạng bụi thường có chiều
cao đạt 70 - 150 cm, dạng đứng có chiều cao 40 - 80 cm, dạng bò 15 -30 cm.
Tốc độ sinh trưởng chiều cao thân tăng dần trong thời kỳ sinh trưởng sinh
dưỡng (thời kỳ cây con) và đạt cao nhất trong thời kỳ hoa rộ (khoảng 10 - 15
ngày). Lá lạc thuộc loại lá kép hình lông chim gồm 2 đôi lá chét, cuống lá dài
từ 4 - 9 cm. Thường có những lá biến thái có 1, 2, 3, 5 hoặc 6 - 8 lá chét. Lá
chét không cuống mọc đối nhau, thường có hình bầu dục, bầu dục dài, hình
trứng lộn ngược, màu sắc xanh nhạt hay xanh đậm, vàng nhạt hay đậm tuỳ
theo giống. Màu sắc lá thay đổi tuỳ điều kiện trồng trọt. Hoa lạc màu vàng,
không có cuống, gồm 5 bộ phận: Lá bắc, đài hoa, tràng hoa, nhị đực và nhị
cái. Hoa lạc phát triển thành chùm gồm 2 - 7 hoa có khi tới 15 hoa. Chùm hoa
mọc từ cành dinh dưỡng ở nách một lá đã phát triển đầy đủ hoặc chưa đầy đủ.
Quả lạc gồm vỏ quả và có 1 - 4 hạt. Kích thước của quả phụ thuộc các điều
kiện bên ngoài như: Độ tơi xốp của đất, kĩ thuật chăm sóc, phân bón, các điều
kiện khí hậu lúc quả hình thành. Hạt lạc hay còn gọi là nhân lạc. Hạt lạc bao
gồm vỏ lụa bao bọc bên ngoài, bên trong hạt có phôi với hai lá mầm và một
trục thẳng. Kích thước và màu sắc hạt thay đổi tuỳ theo giống, thời vụ gieo
trồng và chế độ chăm sóc, [3], [4], [10], [27].
Căn cứ vào thời gian sinh trưởng, lạc được chia thành ba nhóm chính:
Nhóm chín sớm có thời gian sinh trưởng 120 ngày, nhóm chín trung bình có
thời gian sinh trưởng từ 130 - 140 ngày, nhóm chín muộn có thời gian sinh
trưởng >150 ngày. Các giống lạc được gieo trồng ở Việt Nam chủ yếu là
nhóm chín sớm, các giống lạc chín muộn thường được dùng để trồng xen
trong các vườn cây lâu năm để làm cây phủ đất [2] .

2,0 - 4,3
6,0 - 22,0
1,8 - 4,6
Vừng
46,2 - 61,0
17,6 - 27,0
2,7 - 7,5
6,7 - 19,6
3,7 - 7,0
Thầu dầu
50,7 - 74,0
21,0 - 29,0
0,9 - 1,6
-
2,3 - 3,1
Đậu tương
10,0 - 25,0
35,0 - 52,0
5,0 - 6,1
-
4,4 - 6,0
Hướng
dương
40,0 - 67,8
21,0 - 30,4
6,0
2,0 - 6,5
3,2 - 5,4

Hàm lượng chất béo trong lạc trung bình 50%, hàm lượng chất đạm

Lạc là một trong số những cây lấy dầu quan trọng trên thế giới, có hơn
100 nước trồng lạc. Lạc là cây đứng thứ hai sau đậu tương về diện tích trồng
cũng như sản lượng. Năm 2010, diện tích trồng lạc của thế giới đạt 25,48 triệu
hecta, năng suất bình quân đạt 16,54 tạ/ha và sản lượng đạt 42,14 triệu tấn
(bảng 1.2). So với năm 1992, diện tích lạc tăng 23,63%, năng suất tăng
37,32% và sản lượng tăng 64,06%. Châu Á đứng đầu về diện tích và sản
lượng (chiếm 60% diện tích trồng và 70% sản lượng lạc trên thế giới).

Bảng 1.2. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới (2007 - 2012)
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(Triệu tấn)
2007
22,6589
16,386
37,1286
2008
24,2167
15,659
37,9209
2009
23,9709


Bảng 1.3. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc một số nước trên
thế giới (2010 - 2012)
Nước
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
2010
2011
2012
2010
2011
2012
2010
2011
2012
Thế giới
25,478
24,6223
24,7094
16,54
16,299
16,668
42,1416
40,1309
41,1859
Trung
Quốc
4,5479
4,604

4,900
14,104
13,115
11,794
8,265
6,964
5,779
(Nguồn: Số liệu thống kê FAOSTAT. 2012) [31]
Về diện tích, Ấn Độ là nước có diện tích lớn nhất thế giới 5,860 triệu
ha (năm 2010), tuy nhiên năng suất tương đối thấp 14,104 tạ/ha, do vậy sản
lượng thấp 8,265 triệu tấn (năm 2010). Trung Quốc là nước có năng suất cao
nhất thế giới đạt từ 34,541 - 35,686 tạ/ha, Argentina năng suất đạt 22 - 27
tạ/ha, Braxin năng suất đạt từ 27,717 - 30,283 tạ/ha.
1.1.3. Tình hình sản xuất lạc tại Việt Nam
Lạc được trồng ở hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam.
Diện tích trồng lạc chiếm 28% tổng diện tích cây công nghiệp hằng năm (đay,
cói, mía, lạc, đậu tương, thuốc lá) [2].
Lạc được trồng rộng rãi khắp trong nước, trên nhiều loại đất và địa hình
khác nhau. Diện tích trồng lạc ở nước ta đặc biệt trong những năm gần đây có
xu hướng giảm. Năm 2003 diện tích là 243,8 nghìn ha, năm 2012 giảm xuống
còn 220,5 nghìn ha. Trong 10 năm trở lại đây (2003 - 2012) năng suất cao
nhất là 21,3 tạ/ha (năm 2012), thấp nhất là 16,7 tạ/ha (năm 2003) (bảng 1.4).
Như vậy, có thể nhận thấy rằng diện tích giảm, năng suất tăng.
Bảng 1.4. Diễn biến sản xuất lạc ở nước ta
Năm
Diện tích
(nghìn ha)

20,9
510,9
2010
231,4
21,1
487,2
2011
223,8
20,9
468,7
2012
220,5
21,3
470,6
(Nguồn: Niên giám thống kê 2012) [22]
Theo số liệu thống kê năm 2008 của cục thống kê, Việt Nam hiện nay
có 8 vùng trồng chính (bảng 1.5).
Bảng 1.5. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của các vùng trọng
điểm ở Việt Nam năm 2008
Chỉ tiêu
Vùng
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản Lượng
(nghìn tấn)

20,4
88,00
Đồng Bằng sông Cửu Long
12,50
21,2
35,90
(Nguồn: Số liệu thống kê năm 2008) [21]
Vùng Bắc trung Bộ, có diện tích lớn nhất (72 nghìn ha), năng suất đạt
20,4 tạ/ha cao hơn năng suất trung bình của cả nước, sản lượng lớn nhất so
với cả nước đạt 147,6 nghìn tấn. Vùng Đông Bắc, có diện tích đứng thứ 2 sau
Bắc trung Bộ, năng suất đạt 17 tạ/ha. Vùng Đông Nam Bộ, diện tích đứng thứ
3 và năng suất đạt 20,4 tạ/ha, sản lượng 88 nghìn tấn. Vùng đồng Bằng sông
Hồng có năng suất cao đạt 20,3 tạ/ha diện tích gieo trồng 31,10 ha. Vùng
Đồng Bằng sông Cửu Long, diện tích chỉ có 12,5 ha năng suất đạt 21,2 tạ/ha
cao nhất so với cả nước. Nhưng sản lượng thấp do diện tích ít. Vùng Tây Bắc
năng suất thấp nhất so với cả nước. 1.2. Khái quát về chế phẩm phân bón lá
Chi phí về phân khoáng chỉ chiếm một phần tương đối nhỏ trong tổng
số chi phí của nhà nông, song nó lại có ảnh hưởng quyết định đến năng suất.
Tuy nhiên không phải cứ bón phân nhiều là thu được năng suất cao. Phân bón
chỉ có lợi khi được bón đúng cách. Các nghiên cứu cho thấy cây không phải
chỉ hút các chất khoáng từ rễ mà lá và các cơ quan trên mặt đất khác kể cả vỏ
thân cũng có thể hút thức ăn một cách trực tiếp qua các mô bề mặt. Có thể coi
việc bón phân qua lá là một biện pháp bổ sung, cung cấp tương đương như
một mũi tiêm trong y học, cho phép ảnh hưởng đến dinh dưỡng của cây.

Can xi
10 - 24 h
Magiê
10 - 24 h
Lưu huỳnh
5 - 10 ngày
Clo
1 - 4 ngày
Sắt
10 - 20 ngày
Kẽm
1- 2 ngày
Molibden
10 - 20 ngày
Nguồn: Trường Đại học Michigan, Mỹ [35]
Theo số liệu đã được công bố, hiệu suất sử dụng chất dinh dưỡng qua lá
đạt tới 95%. Ở Philippin dùng phân bón lá cho tăng năng suất lúa 1,5 lần so
với dùng phân bón gốc qua rễ và gấp 3,3 lần khi không bón phân. Khi dùng
phân bón lá cây lúa khoẻ hơn, cứng cáp hơn, chịu được sâu bệnh, không làm
chua đất như khi bón nhiều và liên tục phân bón hoá học vào đất. Hạt thóc
cũng nặng thêm và chắc hơn, tỷ lệ gạo gãy không đáng kể, làm cho gạo của
Philippin phù hợp với thị trường quốc tế. Dùng phân bón lá, lượng bón chỉ
tốn bằng 1/4 so với phân bón qua đất.
Trong thành phần chất dinh dưỡng của phân bón lá ngoài các nguyên tố
đa lượng như đạm, lân, kali còn có các nguyên tố trung lượng và vi lượng như
Fe, Zn, Cu, Mg, các nguyên tố này tuy có hàm lượng ít nhưng lại giữ vai trò
rất quan trọng vì trong môi trường đất thường thiếu hoặc không có. Do đó,
khi bổ sung các chất này trực tiếp qua lá sẽ giúp đáp ứng đủ nhu cầu và cân
đối dinh dưỡng cho cây nên tạo điều kiện cho cây phát triển đầy đủ trong từng
giai đoạn sinh trưởng. Phân bón lá có tác dụng đặc biệt trong những trường

hoặc riêng rẽ.
2. Nhóm có thêm các chất kích thích sinh trưởng nhằm thúc đẩy sinh
trưởng hoặc thúc đẩy ra hoa kết trái, giảm tỷ lệ rụng quả, thúc đẩy quá trình
chín hoặc làm mau ra rễ.
3. Nhóm các loại thuốc hoá học phòng trừ sâu bệnh được phối trộn theo
tỷ lệ thích hợp. Chế phẩm Kali ABA2 thuộc nhóm thứ 2 ở trên. Chế phẩm này là sự kết
hợp giữa các yếu tố đa lượng, vi lượng và các chất kích thích sinh trưởng ở
một tỷ lệ nhất định có tác dụng: Giúp cây tăng năng suất, rút ngắn thời gian
thu hoạch, nâng cao chất lượng nông phẩm.
1.3. Các nghiên cứu về sử dụng phân bón và các chế phẩm bón lá cho cây
Hiện nay, các chế phẩm phân bón lá đang được nghiên cứu ngày càng
sâu, rộng trên nhiều đối tượng khác nhau để giúp cho cây sinh trưởng tốt, cho
năng suất cao, cải thiện chất lượng nông sản.
Theo JemesL. và cộng sự (1990) cho thấy nguyên tố Kali và các yếu tố
dinh dưỡng phụ có ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất củ khoai tây. Nếu
thiếu Kali thì lá có sự biến đổi mầu sắc và hình dạng rất rõ rệt có thể nhìn
thấy bằng mắt thường giữa công thức thí nghiệm (bổ sung Kali phun lên lá)
với đối chứng. Do vậy, năng suất củ của công thức thí nghiệm cao hơn được
rõ rệt (theo Nguyễn Văn Đính) [8]. Từ năm 1997 - 1999, các nhà khoa học
Washingtơn tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón KCl và K
2
SO
4
lên
lá cây khoai tây trên bình nguyên Colombia cho thấy phun KCl và K
2
SO

4
) với các nồng độ:
0,03%; 0,04%; 0,05% bằng cách ngâm hạt trong 5h và phun lên lá đã khẳng
định Mn và Zn làm tăng hàm lượng diệp lục, diện tích lá tốt nhất là xử lý Zn,
Mn ở nồng độ 0,05% [9].
Võ Minh Thứ, Nguyễn Như Khanh và CS, khi nghiên cứu ảnh hưởng
của các chất chứa K (KCl, KClO
4
) trên các đối tượng khác nhau như lúa, đậu
tương bằng cách xử lý hạt trước khi gieo hoặc bón bổ sung kali có ảnh hưởng
tích cực đến khả năng sinh trưởng, hàm lượng diệp lục, cường độ quang hợp
và năng suất cây trồng [26].
Nguyễn Văn Thắng: Khi phun chế phẩm Komix cây lúa thoát khỏi tình
trạng nghẹn rễ, lá to bản và dày hơn, cứng hơn, chống đổ tốt hơn, trỗ tập
trung, không bị nghẹt đòng, lá đòng còn vàng sáng [23].
Theo Nguyễn Đình Thi và cộng sự phun bổ sung B, Zn và Mo đã làm
tăng số lượng và khối lượng nốt sần của lạc. Công thức xử lý phối hợp 0,03%
B + 0,03% Mo + 0,03% Zn có tác dụng tốt đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất lạc: Tăng năng suất sinh vật, năng suất kinh tế và hệ số kinh tế
(năng suất kinh tế tăng 22,40% so với đối chứng) [24].

Trích đoạn Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến khả năng tích lũy sinh khố Ảnh hưởng của chế phẩm Kali ABA2 đến năng suất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status