tổ chức dạy học tích hợp liên môn chủ đề dòng điện không đổi nguồn điện nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo và phát triển năng lực của học sinh - Pdf 28

`
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN SIÊU

SẢN PHẨM DỰ THI
GIÁO ÁN TÍCH HỢP MÔN VẬT LÝ
Năm học 2014 – 2015
TÊN ĐỀ TÀI
TỔ CHỨC DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN CHỦ ĐỀ “DÒNG
ĐIỆN KHÔNG ĐỔI – NGUỒN ĐIỆN” NHẰM PHÁT HUY TĨNH
CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA
HỌC SINH

Họ và tên giáo viên: Tô Thị Như Quỳnh
Đơn vị: Tổ Vật lý - Trường THPT Nguyễn Siêu
1
`
Hà Nội, Tháng 1 năm 2015
PHIẾU THÔNG TIN VỀ GIÁO VIÊN DỰ THI
Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội
Trường THPT Nguyễn Siêu
Địa chỉ: Phố Trung Kính - Phường Yên Hòa - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 04.3784.4889 / 3784.5062 / 3784.7433
Email:
Họ và tên: Tô Thị Như Quỳnh
Ngày sinh: 04/07/1984
Môn: Vật lý
Điện thoại: 0915543236 Email:
Nhóm giáo viên tích hợp:
Giáo viên môn Hóa: Lê Minh Thực
Giáo viên môn Sinh – Kĩ thuật nông nghiệp: Nguyễn Thị Duyên

3
`
- Vận dụng kiến thức liên môn: vật lý, sinh học, công nghệ kỹ thuật, hóa học, ngoại ngữ để
thiết kế một nguồn điện từ nhiên liệu sạch phục vụ sinh hoạt hoặc sản suất.
2. Kĩ năng:
- Học sinh có kĩ năng tiến hành và quan sát thí nghiệm.
- Vận dụng kiến thức của bài học giải thích được hiện tượng thực tế, trong nghiên cứu
khoa học để thiết kế được một số nguồn điện từ nhiên liệu sạch.
- Kĩ năng tìm hiểu, thu thập thông tin từ nhiều nguồn, xử lí thông tin từ các dạng khác
nhau (hình ảnh, bảng biểu, đồ thị,…) để rút ra kết luận (Về tầm quan trọng của năng lượng
điện, các hình thức và lĩnh vực sử dụng năng lượng điện, các nguồn năng lượng điện, sự
cạn kiệt các nguồn năng lượng hóa thạch, vấn đề môi trường sinh thái liên quan đến sản
xuất và sử dụng năng lượng điện, sử dụng năng lượng điện tiết kiệm và hiệu quả,…
- Học sinh được rèn luyện kĩ năng thuyết trình, trình bày và bảo vệ sản phẩm nghiên cứu
khoa học trước tập thể.
- Kĩ năng vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề, nghiên cứu khoa học
+ Kiến thức vật lý: hiện tượng quang điện trong, chất bán dẫn khi nghiên cứu và thiết kế
nguồn điện Pin Mặt trời; cảm ứng từ khi nghiên cứu và thiết kế máy phát điện sử dụng
nhiên liệu gió, từ sự rơi dưới tác dụng của trọng lực, dinamo
+ Kiến thức môn hóa học: cứu các chất bán dẫn thông dụng dễ kiếm để chế tạo quang điện
trở hay pin quang điện; chất điện phân, sự phân li, phản ứng oxi hóa khử khi nghiên cứu
hoạt động của pin, acquy và thiết kế nguồn điện từ chanh, nước muối
+ Kiến thức sinh học: hiện tượng quang hợp của cây xanh, phản ứng hóa học khi quang
hợp khi nghiên cứu và thiết kế nguồn điện sinh học từ cây xanh.
+ Biết sử dụng công nghệ thông tin: tìm kiếm thu thập thông tin qua mạng internet, kỹ
năng sưu tầm, chọn lọc tài liệu, kỹ năng soạn powerpoint.
+Kiến thức văn học: vận dụng những kĩ năng thuyết trình, giảng giải, giao tiếp khi giới
thiệu sản phẩm, trình bày kiến thức hay một nghiên cứu khoa học.
+Kiến thức môn kỹ thuật công nghiệp: tìm hiểu sơ đồ nguyên tắc hoạt động của máy phát
điện và từ đó thiết kế một nguồn điện phục vụ sinh hoạt hoặc sản xuất.

5
`
IV. Ý nghĩa của bài học
Dạy học tích hợp là một xu thế của toàn thế giới hiện nay, mỗi khoa học không còn
ở trạng thái cô lập mà luôn tạo thành một thể thống nhất cùng với các khoa học khác. Để
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì việc dạy học không thể chỉ dừng ở việc giảng
dạy ở đơn môn, mà đòi hỏi phải kết hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực khác nhau,
lồng ghép các nội dung cần thiết vào nội dung vốn có của môn học. Đặc biệt là vận dụng
các kiến thức liên môn để giúp học sinh giải quyết một số vấn đề thực tiễn.
Mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần cũng như hoạt động sản xuất hiện nay đều cần
đến một nguồn năng lượng quan trọng bậc nhất đó là điện năng. Nhưng thực tế cho thấy
rằng, nhiên liệu hóa thạch sản xuất điện năng đang ngày cạn kiệt dần. Vậy chúng ta phải
làm gì? Bài học này giúp cho học sinh nhận thức được ý thức trách nhiệm sử dụng tiết
kiệm điện, ý thức bảo vệ môi trường khi tham gia sử dụng nguồn năng lượng điện, đồng
thời phát triển khả năng tìm tòi, sáng tạo của học sinh nhằm tìm ra và thiết kế những
nguồn điện sạch, vô tận.
Như vậy, tích hợp trong giảng dạy sẽ giúp học sinh học tập thông minh và vận dụng
sáng tạo kiến thức kĩ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện vào thực tiễn
cuộc sống.
V.Thiết bị dạy học
5.1.Chuẩn bị của giáo viên:
1. Giáo viên chuẩn bị: phấn, bảng, máy chiếu, mạng internet, thiết bị thí nghiệm.
2. Học sinh: nghiên cứu nội dung được phân công theo nhóm.
VI. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học (Mục B)
6
`
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP
1. Xu thế của nền giáo dục toàn cầu
Để phát triển nền kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, bên cạnh việc đầu tư cho sự phát

2. Các môn khoa học là một chỉnh thể thống nhất
Từ khi xuất hiện xã hội loài người, khi tư duy của con người phát triển đến một
trình độ nhất định, có khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa những tri thức riêng lẻ, rời
rạc thành những quy luật chung nhất khi nghiên cứu thế giới quan. Và nhiệm vụ của mỗi
ngành khoa học là nghiên cứu một dạng vật chất, một hình thức vận động của vật chất
trong bức tranh thế giới quan sinh động đầy màu sắc. Bản thân thế giới quan là một chỉnh
thể thống nhất, để tìm ra và giải thích được sự vận động và phát triển của các sự vật hiện
tượng trong thế giới ấy thì mỗi ngành khoa học không thể tự nghiên cứu cô lập một mình,
mà ngược lại nó đòi hỏi phải có sự kết hợp cùng nghiên cứu giữa các ngành khoa học. Từ
đó xuất hiện những khoa học liên ngành, giao ngành và hình thành những tri thức liên
ngành và giao ngành. Các ngành khoa học tự nhiên chuyển dần từ tiếp cận phân tích – cấu
trúc sang tiếp cận tổng hợp – hệ thống. Hiện nay chúng ta sống trong một thế giới trong
đó các bộ môn ngày càng thâm nhập vào nhau, trong đó ngày càng cần những nhóm làm
việc đa môn và đòi hỏi con người phải làm việc đa năng. Nếu từ khi còn nhỏ học sinh
quen với việc tiếp cận các khái niệm một cách rời rạc, học sinh có nguy cơ sau này tiếp tục
suy luận theo kiểu khép kín. Những công trình nghiên cứu Quốc tế đã chứng tỏ trên thế
giới có bao nhiêu người được gọi là “những người mù chữ chức năng”. Tức là những
người đã lĩnh hội kiến thức ở trường học nhưng không có khả năng sử dụng những kiến
thức đó vào cuộc sống hằng ngày. Và những người này rất khó có thể tìm được một chỗ
đứng trong một xã hội đang phát triển như vũ bão.
Trước vấn đề đó, mỗi quốc gia luôn trăn trở đâu sẽ là hướng đi phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại cho nền giáo dục nói chung và cho các trường phổ thông nói riêng?
Đối với nước Việt Nam chúng ta, để theo kịp với xu thế phát triển của thời đại, xây
dựng một nền tri thức tiên tiến thì câu trả lời đối với mỗi giáo viên phải là Dạy học tích
hợp. Hiện nay Bộ Giáo dục - Đào tạo đã và đang chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy
học, kiểm tra đánh giá học sinh theo hướng phù hợp với năng lực của học sinh và phát huy
tính tích cực, tự học, sáng tạo của học sinh.
II. DẠY HỌC TÍCH HỢP LÀ GÌ?
8
`

9
`
Một trong những bài học cơ bản của giáo dục các khoa học là phải chỉ ra sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa hiểu biết và hành động. Dạy học tích hợp các khoa học với công nghệ
nghĩa là phải chỉ ra cách thức chuyển từ nghiên cứu khoa học sang triển khai ứng
dụng, làm cho các tri thức kĩ thuật - công nghệ trở thành một bộ phận quan trọng
trong đời sống xã hội hiện đại. Rất tiếc là hiện nay trong giáo dục phổ thông người ta
thường tách (a) và (b), coi trọng (a), xem nhẹ (b).
c. Theo Xavier Roegiers
Cũng theo hướng tích hợp dạy học các khoa học với công nghệ, gắn học và hành,
Xavier Roegiers cho rằng giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức
sang phát triển ở học sinh các năng lực hành động, xem năng lực (compétence) là khái
niệm cơ sở" của khoa sư phạm tích hợp (pédagogie de l'intégration). Theo Xavier
Roegiers, sư phạm tích hợp (SPTH) là một quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn
bộ quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực cụ thể có dự tính
trước những điều kiện cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập sau
này hoặc nhằm hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động. Như vậy SPTH tìm cách làm
cho quá trình học tập có ý nghĩa.
Ngoài những hoạt động học tập riêng lẻ cần thiết cho các năng lực đó, SPTH còn tính
đến những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến
thức, kĩ năng, thao tác đã lĩnh hội một cách rời rạc.
SPTH sàng lọc cẩn thận những thông tin có ích để hình thành các năng lực và mục tiêu
tích hợp".
2. Tại sao phải dạy học tích hợp?
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học (KH), kĩ thuật (KT) và công nghệ
(CN), tri thức của loài người đang gia tăng nhanh chóng. Ước tính chỉ sau 7 năm khối
lượng tri thức đã tăng gấp đôi, nghĩa là đến năm 2007 sẽ gấp 2 lần năm 2000.
Không những thông tin ngày càng nhiều mà, với sự phát triển của các phương tiện
công nghệ thông tin, ngày càng có nhiều cơ hội để mỗi người dễ dàng tiếp cận các thông
tin mới nhất.

sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo.
Trong thực tế nhà trường có nhiều điều chúng ta dạy cho học sinh nhưng không thật sự
có ích, ngược lại có những năng lực cơ bản không được dành đủ thời gian. Chẳng hạn ở
tiểu học, học sinh được biết nhiều quy tắc ngữ pháp nhưng không biết đọc diễn cảm một
11
`
bài văn, học sinh biết có bao nhiên centimét trong một kilômét nhưng lại không chỉ ra
được một mét áng chừng dài bằng mấy gang tay.
3. Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể. Thay vì tham nhồi nhét cho HS
nhiều kiến thức lí thuyết đủ loại, dạy học tích hợp chú trọng tập dượt cho học sinh vận
dụng các kiến thức kĩ năng học được vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống sau
này làm công dân, làm người lao động, làm cha mẹ, có năng lực sống tự lập.
4. Xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học. Trong quá trình học tập, học sinh có
thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học
nhưng học sinh phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thống
trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau. Thông tin càng đa
dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các em mới thực sự làm
chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với một
tình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng gặp.
IV. PHƯƠNG THỨC TIẾN HÀNH
Ngày nay không còn là lúc đặt vấn đề thảo luận Dạy học tích hợp là cần hay không
cần, nên hay không nên. Câu trả lời là khẳng định cần phải tích hợp các môn học, nhưng
thực hiện Dạy học tích hợp như thế nào?
Trước hết phải vượt lên trên cách nhìn quen thuộc về vai trò của từng môn học riêng
rẽ, quan niệm đúng hơn về quan hệ tương tác giữa các môn học. Theo d' Hainaut (1977)
có 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học.
Quan điểm thứ nhất là quan điểm "đơn môn": có thể xây dựng chương trình học tập
theo hệ thống nội dung của một môn học riêng biệt. Các môn học được tiếp cận một cách
riêng rẽ.
Quan điểm thứ hai là quan điểm "đa môn": một chủ đề trong nội dung học tập có liên

dạy.
Cách 3 có giá trị chủ yếu ở cấp tiểu học, ở đó các vấn đề phải xử lí thường là những đề
tài đơn giản, có giới hạn. Ví dụ. Bài tập đọc tích hợp kiến thức lịch sử, khoa học, bài toán
tích hợp kiến thức dân số, môi trường. Cách tiếp cận này cố gắng khai thác tính bổ sung
lẫn nhau của các môn học theo đuổi những mục tiêu bổ sung cho nhau bằng các hoạt động
trên cơ sở các chủ đề nội dung.
13
`
Cách 4: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình huống tích
hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo thành môn học tích hợp.
Ví dụ: Môn Tự nhiên và xã hội ở tiểu học tích hợp các kiến thức về con người và sức
khoẻ, gia đình và nhà trường với môi trường xã hội, động vật thực vật, bầu trời và mặt đất.
Lên cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông, hệ thống khái niệm trong các môn học
phức tạp hơn, đòi hỏi sự phát triển tuần tự chặt chẽ hơn, mỗi môn học thường do một giáo
viên được đào tạo chuyên đảm nhiệm, do đó cách tích hợp thứ 3 khó thực hiện, người ta
thiên về áp dụng cách 4, tuy có nhiều khó khăn nhưng phải tìm cách vượt qua vì dạy học
tích hợp là xu hướng tất yếu, đem lại nhiều lợi ích.
Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác
định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn
học ở nhiều nước trên thế giới. Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan
niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học.
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: "Dạy học tích hợp sẽ mang lại
nhiều lợi ích như giúp học sinh áp dụng được nhiều kỹ năng, nền tảng kiến thức tích hợp
giúp việc tìm kiếm thông tin nhanh hơn, khuyến khích việc học sâu và rộng, thúc đẩy thái
độ học tập tích cực đối với học sinh. Thay đổi cách dạy này không gây ra sự xáo trộn về số
lượng và cơ cấu giáo viên, không nhất thiết phải đào tạo lại mà chỉ cần bồi dưỡng một số
chuyên đề dạy học tích hợp. Không đòi hỏi phải tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất và
thiết bị dạy học".
V. KẾT LUẬN
Việc tích hợp các môn học sẽ giúp học sinh dễ vận dụng kiến thức vào thực tiễn vì

hiện kịp thời để đáp ứng yêu cầu đổi mới mà nền giáo dục nước nhà đặt ra.
15
`
B. TỔ CHỨC DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN
CHỦ ĐỀ “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI – NGUỒN ĐIỆN”
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Năng lượng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội và đời
sống của con người trong đó phải kể đến vai trò to lớn của nguồn năng lượng điện – điện
năng. Cùng với sự phát triển của trí tuệ loài người thì nguồn nguyên liệu sản xuất điện
năng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên có một thực trạng là nguồn nhiên liệu hóa thạch
đang dần cạn kiệt, môi trường ngày càng ô nhiễm do chính hoạt động con người gây ra
đã và đang ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống của con người. Để khắc phục tình
trạng này chúng ta cần phải sáng tạo ra những nguồn điện sản xuât dựa trên nguyên liệu
sạch, thân thiện với môi trường. Chúng tôi chọn chủ đề “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI –
NGUỒN ĐIỆN” để tổ chức dạy học tích hợp liên môn để hướng dẫn học sinh tìm hiểu
thực trạng đó, từ đó giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gìn giữ tài nguyên và
hướng đến việc tái sử dụng năng lượng thân thiện với môi trường. Đồng thời kích thích
lòng yêu thích say mê nghiên cứu khoa học, phát triển sự sáng tạo của học sinh.
II. CƠ SỞ TÍCH HỢP
Môn Vật lý: Dòng điện không đổi - Nguồn điện; Dòng điện trong chất bán dẫn; Hiện
tượng quang điện trong - Quang trở - Pin quang điện; Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng;
Máy phát điện một chiều, xoay chiều.
Môn Hóa học: Sự điện li; Phản ứng trao đổi ion trong dung dịch các chất điện li.
Môn Sinh học: Nguồn điện sinh học, hiện tượng quang hợp.
Môn Kĩ thuật công nghiệp: Giải thích các ứng dụng của quang điện trở qua các mạch
khuếch đại, mạch điều khiển; tìm hiểu sơ đồ nguyên tắc hoạt động và chế tạo nguồn
điện – pin Mặt trời.
Môn kĩ thuật nông nghiệp: học sinh vận dụng kiến thức về cây trồng, phương pháp trồng
cây từ đó chế tạo nguồn điện sinh học.
Môn Giáo dục công dân: giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên và môi trường.

17
`
- Vận dụng kiến thức liên môn: vật lý, sinh học, công nghệ kỹ thuật, hóa học, ngoại ngữ để
thiết kế một nguồn điện từ nhiên liệu sạch phục vụ sinh hoạt hoặc sản suất.
2. Kĩ năng:
- Học sinh có kĩ năng tiến hành và quan sát thí nghiệm.
- Vận dụng kiến thức của bài học giải thích được hiện tượng thực tế, trong nghiên cứu
khoa học để thiết kế được một số nguồn điện từ nhiên liệu sạch.
- Kĩ năng tìm hiểu, thu thập thông tin từ nhiều nguồn, xử lí thông tin từ các dạng khác
nhau (hình ảnh, bảng biểu, đồ thị,…) để rút ra kết luận (Về tầm quan trọng của năng lượng
điện, các hình thức và lĩnh vực sử dụng năng lượng điện, các nguồn năng lượng điện, sự
cạn kiệt các nguồn năng lượng hóa thạch, vấn đề môi trường sinh thái liên quan đến sản
xuất và sử dụng năng lượng điện, sử dụng năng lượng điện tiết kiệm và hiệu quả,…
- Học sinh được rèn luyện kĩ năng thuyết trình, trình bày và bảo vệ sản phẩm nghiên cứu
khoa học trước tập thể.
- Kĩ năng vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề, nghiên cứu khoa học
+ Kiến thức vật lý: hiện tượng quang điện trong, chất bán dẫn khi nghiên cứu và thiết kế
nguồn điện Pin Mặt trời; cảm ứng từ khi nghiên cứu và thiết kế máy phát điện sử dụng
nhiên liệu gió, từ sự rơi dưới tác dụng của trọng lực, dinamo
+ Kiến thức môn hóa học: cứu các chất bán dẫn thông dụng dễ kiếm để chế tạo quang điện
trở hay pin quang điện; chất điện phân, sự phân li, phản ứng oxi hóa khử khi nghiên cứu
hoạt động của pin, acquy và thiết kế nguồn điện từ chanh, nước muối
+ Kiến thức sinh học: hiện tượng quang hợp của cây xanh, phản ứng hóa học khi quang
hợp khi nghiên cứu và thiết kế nguồn điện sinh học từ cây xanh.
+ Biết sử dụng công nghệ thông tin: tìm kiếm thu thập thông tin qua mạng internet, kỹ
năng sưu tầm, chọn lọc tài liệu, kỹ năng soạn powerpoint.
+Kiến thức văn học: vận dụng những kĩ năng thuyết trình, giảng giải, giao tiếp khi giới
thiệu sản phẩm, trình bày kiến thức hay một nghiên cứu khoa học.
+Kiến thức môn kỹ thuật công nghiệp: tìm hiểu sơ đồ nguyên tắc hoạt động của máy phát
điện và từ đó thiết kế một nguồn điện phục vụ sinh hoạt hoặc sản xuất.

19
`
V. THỜI GIAN THỰC HIỆN
Thời gian chuẩn bị: 2 tuần
Thời gian tổ chức trình bày : 2 tiết học tương đương 90 phút
VI. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
1. Giáo viên chuẩn bị: máy chiếu, mạng internet, thiết bị thí nghiệm.
2. Học sinh: nghiên cứu nội dung được phân công theo nhóm.
Tiết 1
Nhóm 1: Chuẩn bị nội dung kiến thức về “Dòng điện”.
Nhóm 2: Chuẩn bị nội dung kiến thức về “Cường độ dòng điện, dòng điện không đổi”.
Nhóm 3: Chuẩn bị nội dung kiến thức về “Nguồn điện (pin và acquy), suất điện động của
nguồn điện”.
Tiết 2
Nhóm 1: Tìm hiểu về thực trạng việc sản xuất điện năng từ nguồn nhiên liệu hóa thạch và
giải pháp khắc phục. vấn đề gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của con
người từ việc sử dụng pin và acquy và giải pháp khắc phục.
Nhóm 2: Tìm hiểu về nguồn điện sinh học (từ nhiên liệu cây xanh, pin chanh, dung dịch
muối…), thiết kế một nguồn điện sinh học phục vụ sinh hoạt hoặc sản xuất, trong gia đình,
nhà trường hoặc đồng bào vùng sâu, vùng xa.
Nhóm 3: Tìm hiểu cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của pin Mặt trời, từ đó thiết kế một
nguồn điện sử dụng năng lượng Mặt trời (có thể kết hợp với năng lượng gió) phục vụ sinh
hoạt hoặc sản xuất.
Nhóm 4: Tìm hiểu cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của dinamo, từ đó thiết kế một nguồn
điện phục vụ sinh hoạt hoặc sản xuất.
VII. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1.Chuẩn bị: Ổn định lớp, kiểm tra lại sự chuẩn bị của mỗi nhóm theo phân công.
2. Bài mới
2.1. Đặt vấn đề: 2 phút
20

- Đại diện nhóm 1 giới thiệu nội - GV theo dõi bài trình bày I. DÒNG ĐIỆN
21
`
dung cần trình bày.
- Định nghĩa dòng điện: là dòng
các điện tích dịch chuyển có
hướng (chiếu Slide).
? Theo các bạn các điện tích
gồm những loại điện tích nào?
? Dòng điện trong kim loại là
dòng dịch chuyển của điện tích
nào? Hạt mang điện đó được tạo
ra như thế nào?
- Chiều quy ước của dòng điện:
là chiều dịch chuyển có hướng
của các điện tích dương. So sánh
chiều của dòng điện và chiều
chuyển động của các điện tích
âm (electron)?
? Dòng điện chạy qua vật dẫn có
tác dụng gì? Ví dụ minh họa?
(nhóm 1 nhận xet, bổ sung –
chiếu slide).
? Đại lượng nào cho biết mức độ
mạnh yếu của dòng điện? Dụng
cụ đo và đơn vị đo của đại lượng
đó? (nhóm 1 nhận xét, bổ sung
và biểu diễn thí nghiệm đo
cường độ dòng điện).
của nhóm 1.

điện: cùng chiều
chuyển động của các
điện tích dương.
3. Các tác dụng của
dòng điện: tác dụng
nhiệt, từ, hóa học, phát
quang, sinh lí.
4. Cường độ dòng
điện: cho biết mức độ
mạnh yếu của dòng
điện, dụng cụ đo –
Ampe kế.
Hoạt động 2:
*Mục đích: Tìm hiểu về cường độ dòng điện
*Thời gian: 10 phút
22
`
*Quan điểm dạy học giải quyết vấn đề. Giáo viên đặt vấn đề: Cường độ dòng điện
chạy qua một tiết diện thẳng S của vật dẫn được đo bằng biểu thức nào?
*Phương pháp (Phương pháp thuyết trình của học sinh, phương pháp đàm thoại
của nhóm trình bày với giáo viên và các nhóm khác): GV phân công nhóm 1 thuyết trình
(sử dụng file powerpoint), giảng giải, tổ chức semina cùng các nhóm khác.
Hoạt động của nhóm 2 Hoạt động của GV và các
học sinh nhóm 1, 3
Nội dung cơ bản
- Giới thiệu phần 2: Cường
độ dòng điện, dòng điện
không đổi. Giới thiệu nội
dung chính của phần (Chiếu
Slide).

- Các nhóm có thể đặt các
câu hỏi về cường độ dòng
điện (I= Δq/Δt là cường độ
trung bình hay tức thời?)
II. CƯỜNG ĐỘ DÒNG
ĐIỆN. DÒNG ĐIỆN
KHÔNG ĐỔI
1. Cường độ dòng điện
Cường độ dòng điện là đại
lượng đặc trưng cho tác
dụng mạnh, yếu của dòng
điện. Nó được xác định
bằng thương số của điện
lượng Δq dịch chuyển qua
tiết diện thẳng của vật dẫn
trong khoảng thời gian dịch
chuyển và khoảng thời gian
đó.
I= Δq/Δt
2. Dòng điện không đổi
- Định nghĩa: dòng điện
không đổi là dòng điện có
chiều và cường độ không
thay đổi theo thời gian.
- Biểu thức: I = q/t
3. Đơn vị của cường độ
23
`
thay đổi theo thời gian.
? Các bạn nêu một ví dụ về

- GV nhận xét chung.
dòng điện và điện lượng
- Đơn vị của cường độ
dòng điện: 1A = 1C/s.
- Đơn vị của điện lượng:
1C = 1A.s.
Hoạt động 3:
*Mục đích: Tìm hiểu về nguồn điện (pin và acquy), suất điện động của nguồn
điện
*Thời gian: 20 phút
*Quan điểm dạy học:
- Dạy học giải quyết vấn đề: Giáo viên nêu vấn đề cần giải quyết “Làm thế nào để
có dòng điện chạy qua vật dẫn? Thiết bị nào tạo ra dòng điện chạy qua vật dẫn”
- Dạy học theo dự án: học sinh nhóm 3 tìm hiểu trong SGK, mạng internet, trang
web:www.thuvienvatly.com.vn… thảo luận, phân công nhiệm vụ các thành viên trong
24
`
nhóm, lên kế hoạch thực hiện để giải quyết vấn đề mà giáo viên đưa ra và trình bày, báo
cáo nội dung thực hiện trong tiết 2 sau thời gian chuẩn bị 2 tuần.
*Phương pháp (Phương pháp thuyết trình của học sinh, phương pháp làm thí
nghiệm của học sinh, phương pháp đàm thoại của nhóm trình bày với giáo viên và các
nhóm khác): GV phân công nhóm 1 thuyết trình (sử dụng file powerpoint), giảng giải, tổ
chức semina cùng các nhóm khác.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status