SKKN sử DỤNG DI sản văn hóa NINH BÌNH TRONG dạy học môn GIÁO dục CÔNG dân cấp THCS NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG lực của học SINH - Pdf 35

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Tên sáng kiến kinh nghiệm: “SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA NINH BÌNH
TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CẤP THCS NHẰM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH”
II. Nhóm tác giả sáng kiến kinh nghiệm:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Hà Minh
Chức vụ: Trưởng phòng
Đơn vị: Phòng GD&ĐT huyện Hoa Lư - Ninh Bình
Địa chỉ: Ninh Mỹ-Hoa Lư
Hộp thư điện tử:
Số điện thoại: 0916864474
- Họ và tên: Nguyễn Minh Khuê
Chức vụ: Cán bộ
Đơn vị: Phòng GD&ĐT huyện Hoa Lư - Ninh Bình
Địa chỉ: Phường Ninh Sơn-TP Ninh Bình
Hộp thư điện tử:
Số điện thoại: 0978253688
- Họ và tên: Trịnh Hồng Lịch
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường THCS Ninh Hải - Hoa Lư - Ninh Bình
Địa chỉ: Ninh Sơn- TP Ninh Bình
Hộp thư điện tử:
Số điện thoại: 0983695881
III. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm:
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Khi nhân loại bước vào thế kỷ 21, xu hướng toàn cầu hoá và cách mạng
công nghệ thì “một trong những chìa khoá để vượt qua những thách thức của thế
kỷ mới là giáo dục”. Định hướng về giáo dục của UNESCO gồm 4 trụ cột đó là: “
Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. Hoà
cùng xu thế chung của thế giới, Giáo dục Việt nam cũng đang đổi mới một cách

học sinh.
Qua thực tế quá trình dạy học, nhất là khi dạy các bài có tính thực tiễn trong
SGK môn GDCD và một số tiết thực hành ngoại khóa các vấn đề địa phương,
chúng tôi thấy rằng việc sử dụng di sản văn hóa Ninh Bình trong một số tiết học
môn GDCD và một số tiết thực hành ngoại khoá các vấn đề địa phương Ninh Bình
nhằm phát triển năng lực học sinh là hết sức cần thiết, giúp học sinh hiểu rộng hơn
về quê hương Ninh Bình, hiểu về lịch sử, thiên nhiên, văn hóa, các vấn đề về khoa
học, xã hội của tỉnh ta. Từ đó giáo dục học sinh lòng tự hào, yêu mến quê hương,
thấy được nghĩa vụ, trách nhiệm của bản thân phải làm gì để đóng góp công sức
xây dựng quê hương Ninh Bình ngày càng giàu đẹp.
Xuất phát từ những lý do trên, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học,
chúng tôi đã chọn vấn đề: “Sử dụng di sản văn hóa Ninh Bình trong dạy môn
Giáo dục Công dân nhằm phát triển năng lực của học sinh” làm đề tài sáng kiến
kinh nghiệm của mình.
Sáng kiến góp một số kinh nghiệm trong việc chỉ đạo nâng cao hiệu quả việc
dạy học theo di sản môn GDCD đối với các trường THCS trong toàn huyện, giúp
cho việc nghiên cứu lí luận vào thực tiễn mà còn có khả năng vận dụng vào thực
tiễn giảng dạy của giáo viên trong quá trình công tác. Hy vọng kết quả nghiên cứu
cũng sẽ là một tài liệu để các đồng nghiệp tham khảo, góp phần đổi mới phương
pháp dạy học trong các tiết thực hành ngoại khoá các vấn đề địa phương Ninh
Bình.
2. Cơ sở lý luận
Khái niệm về di sản văn hóa:
Di sản văn hóa Việt Nam bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn
hóa vật thể (bao gồm di sản văn hóa và di sản thiên nhiên) là sản phẩm tinh thần,

2


vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế

- Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa,
khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.
- Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm
tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá
nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
3


thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình
thức khác.
Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm:
Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam;
Ngữ văn dân gian, bao gồm: Sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố,
truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt
khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết;
Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm: Âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các
hình thức trình diễn dân gian khác;
Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và
các phong tục khác;
Lễ hội truyền thống;
Nghề thủ công truyền thống;
Tri thức dân gian.
Di sản văn hoá Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hoá của
cộng đồng các dân tộc anh em. Trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, các di sản
được kế thừa và sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay tạo nên bức tranh văn
hoá đa dạng.
Mục đích của nền giáo dục của chúng ta luôn hướng tới việc phát triển toàn

trình về các hiện tượng, sự vật mà cần tìm hiểu, hướng dẫn HS tự quan sát, thu
thập thông tin, trao đổi trong nhóm để xử lý các thông tin. Qua đó các em sẽ có
những kiến thức về di sản và có thể trình bày lại những hiểu biết của cá nhân mình
hoặc của nhóm mà mình đã thu lượm được.
Đối với giáo viên , để làm cho hoạt động phong phú và hiệu quả, GV có thể
phát động, hướng dẫn các em tổ chức triển lãm những hiện vật, bài viết giới thiệu
về di sản do các em sưu tầm được.
Môi trường làm việc thay đổi đòi hỏi GV phải có phương pháp dạy học, cách
thức tổ chức dạy học phù hợp, sao cho tập thể HS được lôi cuốn vào công việc tìm
hiểu, nghiên cứu di sản; đòi hỏi từng HS phải làm việc thực sự và phải biết hợp tác
với bạn để cùng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển: “Nhà trường phổ thông vừa có
trách nhiệm giáo dục nâng cao nhận thức cho học sinh về di sản văn hoá, vừa có
trách nhiệm sử dụng di sản văn hoá để dạy học. Việc sử dụng di sản văn hoá để
dạy học sẽ mang lại những kết quả tích cực vừa có giá trị ở phương pháp giáo dục
kiến thức phổ thông theo quy định của chương trình, vừa nâng cao nhận thức và
trách nhiệm của HS đối với di sản văn hoá”.
Thực tế, các hoạt động gắn kết giữa di sản, bảo tàng với hoạt động giáo dục
bấy lâu đã được triển khai thông qua các hoạt động ngoại khóa, tham quan, đặc
biệt là qua phong trào Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực được triển
khai rộng rãi vài năm nay... Song theo Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị di
sản văn hóa thuộc Hội Di sản văn hóa, công tác giáo dục di sản trong nhà trường
còn nhỏ lẻ, chưa được tiến hành một cách bài bản và thường xuyên. Còn phong
trào Xây dựng nhà trường thân thiện, học sinh tích cực mặc dù có những kết quả
tích cực, nhưng nó chỉ mang tính phong trào, chưa thực sự đi vào đời sống giáo
dục...
Mới đây nhất, Bộ GD - ĐT được sự hỗ trợ của UNESCO Hà Nội đã biên soạn
cuốn tài liệu “Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông”. Phần nội dung
của tài liệu là thiết kế bài học (giáo án) sử dụng di sản trong dạy học theo cấp
THCS và THPT của các môn lịch sử, địa lý, âm nhạc.

tinh thần trách nhiệm cao.
Xã hội hiện nay với sự đa dạng về các kênh thông tin tạo điều kiện cho con
người (giáo viên và học sinh) có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn kiến thức về di sản
từ nhiều phương tiện khác nhau từ đó mở rộng nâng cao hiểu biết về di sản.
3.2. Khó khăn
Ở một số nhà trường, vẫn còn có những cán bộ quản lý chưa thật quan tâm
thường xuyên đến vấn đề này, giao khoán cho toàn bộ giáo viên; một số giáo viên
còn thụ động trong việc nghiên cứu, thiết kế nội dung và tiến trình sử dụng di sản
trong dạy học, chưa thật chủ động trong việc sưu tầm tư liệu, tranh ảnh về di sản để
sử dụng trong dạy học. Việc hiểu và sử dụng di sản trong dạy học ở giáo viên còn
chưa thống nhất; một số giáo viên chưa vận dụng thành thục tiến trình sư phạm của
bài giảng sử dụng di sản trong dạy học dẫn đến việc áp dụng khiên cưỡng, thiếu
hiệu quả.
Việc xây dựng nguồn tài liệu giới thiệu về các di sản còn thiếu do đó giáo
viên gặp khó khăn về nội dung các di sản có liên quan đến bài học. Bên cạnh đó,
còn gặp một số khó khăn nữa liên quan đến vấn đề kinh phí và thời gian.
Học sinh ít đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu, học tập bộ môn (bộ môn
khoa học xã hội) do lối sống thực dụng như hiện nay, do áp lực thi cử, áp lực từ
phía gia đình.

6


Cơ sở vật chất có đổi mới nhưng chưa thực sự phù hợp với một số phương
pháp dạy học tích hợp như số học sinh trên một lớp đông, không gian lớp học còn
hẹp, trang thiết bị, đồ dùng dạy học còn sơ sài, thời gian tiết học còn hạn chế...
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1. Giải pháp cũ thường làm.
Trước đây, theo phương pháp dạy học truyền thống, hoạt động “dạy” là
trung tâm, dạy học hướng đến nội dung, giáo viên giữ vai trò là người truyền thụ

-Tham gia các hoạt động giữ gìn, bảo vệ, tôn tạo các di sản văn hóa phù hợp với
lứa tuổi.
Thái độ:
Tôn trọng và tự hào về các di sản văn hóa của quê hương, đất nước.

7


Với các tiết thực hành ngoại khoá các vấn đề địa phương Ninh Bình, người
giáo viên mới chỉ cung cấp những kiến thức về văn hoá, lịch sử, con người Ninh
Bình ở các bài riêng biệt. Giáo viên có tích hợp nhưng nội dung tích hợp còn hạn
chế và chủ yếu là tích hợp “đơn môn”
Ví dụ khi dạy bài: “Thiên nhiên Ninh Bình”- GDCD địa phương lớp 6. GV
chỉ cần cung cấp đủ cho học sinh các kiến thức cơ bản, trọng tâm sau:
Sự tươi đẹp, đa dạng của cảnh quan thiên và bản sắc văn hóa Ninh Bình.
Sự đoàn kết giữa các dân tộc, giữa đồng bào tôn giáo và không theo tôn giáo.
Những tiềm năng phát triển của quê hương: vị trí địa lý, rừng biển, công
nghiệp, du lịch và dịch vụ.
Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần giúp học sinh thấy được những nguy cơ mà
tỉnh ta đang phải đối mặt như vấn đề môi trường bị ô nhiễm (đặc biệt là ô nhiễm
nguồn nước và không khí...); cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên; nạn khai thác gỗ trái
phép, săn bắt động vật quý hiếm; ...
Từ đó học sinh thấy yêu quê hương và ý thức được trách nhiệm của mình
trong việc bảo vệ, gìn giữ những nét đẹp của quê hương Ninh Bình.
Nhưng học sinh mới chỉ nắm được kiến thức cơ bản, chưa có sự liên hệ kiến
thức thực tế và chưa phát huy hết năng lực của người học. Nếu học sinh được học
tại di sản thì học sinh sẽ hiểu kiến thức sâu rộng hơn, học sinh sẽ học tập tích cực,
sáng tạo hơn.
Qua thực tế các tiết dạy GDCD nói chung và các tiết có sử dụng di sản làm
phương tiện dạy học, tôi nhận thấy dạy học trước đây có ưu điểm, nhược điểm sau:

học.
2. Giải pháp mới cải tiến.
Sử dụng di sản văn hóa Ninh Bình trong dạy học môn GDCD góp phần xóa
bỏ được lối dạy học khép kín tách biệt nhà trường với thế giới bên ngoài, cô lập
kiến thức, kỹ năng vốn có liên hệ với nhau, bổ sung cho nhau.
Trong quá trình chỉ đạo và trực tiếp giảng dạy chúng tôi thấy cần phải sử
dụng di sản văn hóa Ninh Bình một cách có hiệu quả. Kết hợp với phương pháp
dạy học tích hợp, như tích hợp với các môn: văn học, lịch sử, địa lý, sinh học, âm
nhạc, mỹ thuật.... nhằm phát triển các năng lực tự học, tự trải nghiệm và khám phá
kiến thức của học sinh giúp học sinh vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề
thực tế. Đồng thời, giúp học sinh hiểu rộng hơn về quê hương Ninh Bình, hiểu về
lịch sử, thiên nhiên, văn hóa, các vấn đề về khoa học, xã hội của tỉnh ta. Từ đó giáo
dục học sinh lòng tự hào, yêu mến quê hương, thấy được nghĩa vụ, trách nhiệm của
bản thân phải làm gì để đóng góp công sức xây dựng quê hương Ninh Bình ngày
càng giàu đẹp. Vì vậy tôi đã tiến hành nghiên cứu, thực hiện theo một số giải pháp
sau.
2.1. Quá trình và giải pháp thực hiện.
2.1.1. Tìm hiểu tổng quan về di sản văn hóa Ninh Bình
Lịch sử - Địa lý
Ninh Bình nằm ở vị trí ranh giới 3 khu vực địa lý: Tây Bắc, châu thổ sông
Hồng và Bắc Trung Bộ. Phía bắc giáp với Hòa Bình, Hà Nam, phía đông giáp Nam
Định qua sông Đáy, phía tây giáp Thanh Hóa, phía đông nam giáp biển (vịnh Bắc
Bộ). Trung tâm tỉnh là thành phố Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội 93 km về phía
nam.
Ninh Bình xưa thuộc bộ Quân Ninh, nước Văn Lang. Qua thời thuộc Hán,
Lương, vùng đất này thuộc Giao Chỉ, thời thuộc Đường, bắt đầu hình thànhTrường
Châu. Năm 968, vua Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân lên ngôi hoàng
đế đóng đô tại Hoa Lư và đổi tên gọi Trường Châu thành Trường An.
Năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô về Thăng Long, Ninh Bình nằm trong phủ
Trường An, sau đổi là châu Đại Hoàng vào cuối thế kỷ 12. Đời nhà Trần đổi thành

cũ; động Người Xưa (Cúc Phương) và một số hang động ở Tam Điệp, Nho
Quan có di chỉ cư trú của con người thời văn hoá Hoà Bình. Sau thời kỳ văn hoá
Hoà Bình, vùng đồng bằng ven biển Ninh Bình là nơi định cư của con người thời
đại đồ đá mới Việt Nam. Di chỉ Đồng Vườn (Yên Mô) đã được định niên đại muộn
hơn di chỉ Gò Trũng. Cư dân cổ di chỉ Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di
chỉ Mán Bạc (Yên Thành, Yên Mô) ở giai đoạn văn hoá đồ đồng từ cuối Phùng
Nguyên đến đầu Đồng Đậu.
Vùng đất Ninh Bình là kinh đô Hoa Lư của Việt Nam thế kỷ X, mảnh đất
gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê – Lý với các dấu
ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình
định đô Hà Nội. Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng
kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong
các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, con sông. Đây còn là vùng đất chiến lược
để bảo vệ Thăng Long của triều đại Tây Sơn với phòng tuyến Tam Điệp, là căn cứ
để nhà Trần 2 lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông vớihành cung Vũ Lâm, đất
dựng nghiệp của nhà Hậu Trần với đế đô ở Yên Mô...
Thế kỷ XVI - XVII, đạo Thiên Chúa được truyền vào Ninh Bình, dần dần
hình thành trung tâm Thiên Chúa Giáo Phát Diệm, nay là giáo phận Phát Diệm đặt
tại Kim Sơn với 60% tổng số giáo dân toàn tỉnh. Bên cạnh văn hoá của cư dân Việt
cổ, Ninh Bình còn có "văn hoá mới" của cư dân ven biển. Dấu ấn về biển tiến còn
10


in đậm trên đất Ninh Bình. Những địa danh cửa biển như: Phúc Thành, Đại An,
Con Mèo Yên Mô, cửa Càn, cửa biển Thần Phù cùng với các con đê lịch sử như đê
Hồng Đức, đê Hồng Lĩnh, đê Đường Quan, đê Hồng Ân, đê Hoành Trực, đê Văn
Hải, đê Bình Minh I, đê Bình Minh II... Cho đến nay vùng đất Ninh Bình vẫn tiến
ra biển mỗi năm gần 100 m. Ninh Bình là một tỉnh mở rộng không gian văn hoá
Việt xuống biển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hoá từ Bắc vào
Nam, từ biển vào. Kinh tế biển đóng vai trò quan trọng nổi bật như nghề đánh bắt

Hoàng, lăng mộ Vua Đinh, đền thờ và lăng mộ Vua Lê Đại Hành, nhà bia tưởng
niệm Vua Lý Thái Tổ, đền thờ Công chúa Phất Kim, đền thờ thần Quý Minh, phủ

11


Khống, phủ Đột, động Hoa Lư, núi Mã Yên, bia Câu Dền, sông Sào Khê, phủ
Đông Vương, phủ Vườn Thiên, hệ thống chùa cổ Hoa Lư...
Khu di tích lịch sử phòng tuyến Tam Điệp gắn liền với triều đại Tây Sơn có
các địa danh đèo Ba Dội, Kẽm Đó, lũy Quang Trung, núi Cắm Gươm, núi Cắm
Cờ, núi Chong Đèn, núi Hầu Vua, Vương Ngự, đền Dâu, đền Quán Cháo, luỹ
Quèn Thờ, đền Quèn Thờ, động Trà Tu, hồ Yên Thắng, hồ Mừng,hồ Đoòng Đèn.
Hệ thống các di tích thờ Vua Đinh Tiên Hoàng ở Nho Quan, Gia Viễn, Hoa
Lư nằm ở phía bắc tỉnh, gắn với các giai thoại tuổi thơ và sự nghiệp lên ngôi, lập
đô kinh đô Hoa Lư của Vua.
Hệ thống các đền thờ Vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư, Tp Ninh Bình, Yên Mô,
Kim Sơn phía nam tỉnh, gắn với sự kiện lập đô và những dòng sông nơi Vua đánh
giặc đi qua.
Hệ thống các đền thờ Vua Triệu Quang Phục ở Yên Khánh, Kim Sơn, Yên
Mô gắn với sự kiện Vua tự vẫn ở cửa biển những vẫn hiển linh giúp đỡ nhân dân.
Hệ thống các đền thờ danh nhân khác: Trương Hán Siêu, Nguyễn Công
Trứ, đền Thái Vi, cửa Thần Phù,, v.v.
Di tích lịch sử cách mạng: Khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu, núi Non
Nước, di tích chiến dịch Hà Nam Ninh.v.v.
Di tích kiến trúc nghệ thuật
Đền Vua Đinh Tiên Hoàng và Đền Vua Lê Đại Hành là những công trình
kiến trúc nổi tiếng với nghệ thuật trạm khắc đá.
Khu văn hóa tâm linh núi chùa Bái Đính mới với 5 toà lớn hội tụ nhiều kỷ
lục châu Á và Việt Nam dọc theo sườn núi.
Quần thể nhà thờ Phát Diệm với 9 nhà thờ có kiến trúc độc đáo kết hợp hài

dưới 10.000 năm.
Di tích hang Đắng hay còn gọi là động Người Xưa thuộc vườn quốc gia Cúc
Phương nơi đây là một di chỉ cư trú thuộc giai đoạn văn hóa Hòa Bìnhcách đây từ
7.000 đến 8.000 năm.
Di tích hang Đáo (Đông Sơn - Tam Điệp) nơi đây có tìm thấy những công
cụ đồ đá của cư dân văn hóa Hòa Bình.
Di tích hang Yên Ngựa (Trung Sơn - Tam Điệp) xuất lộ dấu ấn cư dân văn
hóa Hòa Bình.
Di tích động Mã Tiên xuất lộ tầng vỏ nhuyễn thể cùng công cụ cuội
thuộc Văn hóa Hòa Bình.
Di tích hang Bói thuộc khu hang động Tràng An nằm giáp ranh giữa hai
xã Trường Yên và Gia Sinh nơi đây có dấu ấn của cư dân cổ văn hóa Tràng
Ansống cách đây từ 5.000 năm đến 30.000 năm.
Di tích hang Bụt (Lạc Vân - Nho Quan) là địa điểm cư trú của con người cổ
sống cách đây từ 2.000 đến 10.000 năm.
Di tích hang Dẹ (Nam Sơn - Tam Điệp) có dấu ấn của cư dân văn hóa Hòa
Bình ở giai đoạn sớm trên 10.000 năm.
Di tích núi hang Sáo (Quang Sơn - Tam Điệp) với nhiều hang động và mái
đá có dấu ấn của cư dân văn hóa Hòa Bình và cư dân văn hóa Đa Bút sống cách
ngày nay từ 5.000 đến 10.000 năm.
Di tích Mái đá Thung Bình (Gia Sinh - Gia Viễn) xuất lộ dấu tích cư dân văn
hóa Hòa Bình.
Cụm di tích hang ốc; Núi ốp (Yên Sơn - Tam Điệp) xuất lộ dấu ấn cư dân
văn hóa Đa Bút và cư dân văn hóa Đông Sơn.
Cụm di tích hang Mo; hang Cò; hang Trâu; hang Hũ Ngoài; hang Hũ Trong;
mái đá Thung Bình (hang động Tràng An) có dấu ấn văn hóa Hòa Bình, văn hóa
Tràng An và văn hóa Đa Bút.
Di tích hang Khỉ (Đông Sơn - Tam Điệp) xuất lộ một số mảnh gốm cùng vỏ
nhuyễn thể trên bề mặt nơi đây có dấu ấn văn hóa Đa Bút.


danh thắng. Vùng bảo vệ đặc biệt này nằm trọn trong quy hoạch khu du lịch Tràng
An với diện tích 12.000 ha. Quần thể danh thắng Tràng An nằm gần các quốc lộ
1A, QL38B, QL12B và trong tứ giác nước được giới hạn bởi các sông:sông Hoàng
Long ở phía Bắc; sông Chanh ở phía Đông; sông Hệ ở phía Nam và sông Bến
Đang ở phía Tây.
Lễ hội – Làng nghề.
Ninh Bình là vùng đất phong phú các lễ hội văn hóa đặc sắc như Lễ hội cố
đô Hoa Lư, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội đền Thái
Vi... Các lễ hội khác: Lễ hội Báo bản làng Nộn Khê, lễ hội Yên Cư, hội thôn Tập
Minh, lễ hội động Hoa Lư, đền Thánh Nguyễn, đền Dâu, hội vật Yên Vệ, lễ hội
đền Trần Ninh Bình... Ninh Bình là đất tổ của nghệ thuật hát Chèo, là quê hương
các làn điệu hát xẩm, ca trù và của nhiều làng nghề truyền thống như nghề điêu

14


khắc đá Ninh Vân - Hệ Dưỡng, Xuân Vũ, nghề mộc Phúc Lộc, nghề thêu ren Văn
Lâm, nghề chiếu cói ở Kim Sơn...
Theo thống kê, Ninh Bình có 443 lễ hội truyền thống, trong đó quản lý cấp
tỉnh 2 lễ hội, cấp huyện 13 lễ hội, cấp xã 428 lễ hội. Các lễ hội văn hóa ở Ninh
Bình chủ yếu diễn ra ở mùa xuân, trừ số ít các lễ hội tưởng niệm ngày mất của các
vị danh nhân.
Di tích cấp quốc gia
Núi Non Nước - Thanh Bình - Tp Ninh Bình
Núi Cánh Diều - Thanh Bình - Tp Ninh Bình
Quần thể hang động Tràng An - Tp Ninh Bình, Hoa Lư, Gia Viễn
Chùa A Nậu - phường Ninh Khánh - Tp Ninh Bình
Chùa Đẩu Long - Tân Thành - Tp Ninh Bình
Động Thiên Tôn - Thiên Tôn - Hoa Lư
Khu vực núi đá Trường Yên và đền Đinh - Lê

Đền thờ Đinh Bộ Lĩnh - Gia Phương - Gia Viễn
Động Hoa Lư - xã Gia Hưng - huyện Gia Viễn
Núi chùa Bái Đính - xã Gia Sinh - huyện Gia Viễn
Đình Trùng Hạ - xã Gia Tân - huyện Gia Viễn
Đình Trùng Thượng - xã Gia Tân - huyện Gia Viễn
Chùa Lỗi Sơn - xã Gia Phong - huyện Gia Viễn
Chùa Lạc Khoái - Gia Lạc - Gia Viễn
Nhà thờ và mộ Nguyễn Bặc - Gia Phương - Gia Viễn
Nhà thờ Đinh Huy Đạo - xã Gia Phong - huyện Gia Viễn
Khu vực núi Kiếp Lĩnh - xã Gia Tiến - huyện Gia Viễn
Đình Vân Thị - xã Gia Tân - huyện Gia Viễn
Những địa điểm của khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu
Dốc Giang - xã Phú Long - huyện Nho Quan
Thung Lóng - xã Phú Long - huyện Nho Quan
Khu Trũng, Đồng Báng - xã Sơn Lai - huyện Nho Quan
Đền Sầy - xã Sơn Thành - huyện Nho Quan
Đình Mỹ Hạ - xã Gia Thuỷ - huyện Nho Quan
Đình Ác - xã Sơn Thành - huyện Nho Quan
Phòng tuyến Tam Điệp - Tam Điệp
Đền Năn - xã Yên Thắng - huyện Yên Mô
Đền Bình Hải - xã Yên Nhân - huyện Yên Mô
Nhà thờ Vũ Phạm Khải, đền họ Vũ - Yên Mạc - Yên Mô
Đền thờ Ninh Tốn - xã Yên Mỹ - huyện Yên Mô
Đền, chùa Khương Dụ - xã Yên Phong - huyện Yên Mô
Đền Quảng Phúc - xã Yên Phong - huyện Yên Mô
Đền La - xã Yên Thành - huyện Yên Mô
Chùa Tháp - xã Khánh Thịnh - huyện Yên Mô
Đình Phù Sa - xã Yên Lâm - huyện Yên Mô
Đền Trung Lận Khê - xã Khánh Thượng - Yên Mô
Đền thờ Thái Phó - Lê Niệm - Yên Mạc - Yên Mô

10. chùa Yên Khoái - thôn Yên Khoái -xã Ninh Phúc.
Huyện Hoa Lư
1. Đình Các - xã Ninh Hải.
2. Đền làng La Phù - xã Ninh Khang.
3. Đền làng Đa Giá - thị trấn Thiên Tôn.
4. Đình làng Yên Thành - xã Trường Yên.
5. Đình Sen thôn Hành Cung - xã Ninh Thắng.
6. Đền và miếu làng Bãi Trữ- xã Ninh Giang.
7. Đền và chùa Khả Lương - xã Ninh Thắng.
Huyện Gia Viễn
1. Đình và chùa Giá Thượng - xã Gia Hoà.
2. Chùa Phúc Hưng và núi Hang Toàn - xã Gia Minh.
3. Chùa Hưng Quốc - xã Gia Hưng.
4. Chùa Linh Viên - xã Gia Hưng.

17


5. Đình Đông Khê- xã Gia Trung.
6. Đình, đền chùa Tập Ninh - xã Gia Vân.
7. Đền Thượng - xã Gia Phú.
8. Đình Núi Thiệu, xã Gia Tân.
9. Đền làng Đoan Bình- xã Gia Phú.
10. Đình Trai- xã Gia Hưng.
11. Đền và chùa Me - thị trấn Me.
12. Đền Vò làng Lỗi Sơn - xã Gia Phong.
13. Đình làng Đồng Xuân- xã Gia Xuân.
14. Đình và chùa Liên Huy- xã Gia Thịnh.
15. Đình Kính Chúc - xã Gia Phú.
16. Đình thôn Ngô Đồng - xã Gia Phú.

1. Đình làng Nộn Khê - xã Yên Từ.
2. Đền Phụng Ban- xã Yên Hưng.
3. Đền Trung Thạch Lỗi- xã Khánh Dương.
4. Đền làng Yên Mô Càn- xã Yên Mạc.
5. Đền Ninh Thượng- xã Yên Thịnh.
6. Đình Thượng làng Yên Tế- xã Yên Đồng.
7. Cụm di tích Đền Vua Đôi thôn Cổ Đà- xã Yên Phú.
8. Đền và chùa Hoàng Kim- xã Yên Phong.
9. Đền Vân Mộng- xã Yên Phong.
10. Đình làng Trinh Nữ- xã Yên Hoà.
11. Chùa Hang làng Phượng Trì - xã Yên Mạc.
12. Miếu Quảng Từ - xã Yên Từ.
13. Đình Trung Sơn - xã Mai Sơn.
14. Chùa Cổ Linh thôn Yên Liêu Thượng- xã Khánh Thịnh.
15. Đình làng Tiên Hưng - xã Yên Phú.
16. Đền Thượng Tịch Toàn - xã Khánh Thượng.
17. Đình Lôi Thanh - xã Khánh Thượng.
18. Đền núi Ngự Hầu - xã Yên Thắng.
19. Đền thờ Trần Nhật Duật - xã Yên Thắng.
20. Đền Nhân Phẩm - xã Yên Lâm.
21. Đình Hậu Thôn - xã Yên Thái.
Huyện Yên Khánh
1. Đền Đôi – xã Khánh Thuỷ.
2. Đền Đông Bình Hoà- xã Khánh Hồng.

19


3. Đền Duyên Phúc - xã Khánh Hồng.
4. Đền và chùa thôn Tân- xã Khánh Hội.

20


8. Miếu Tuần Lễ- xã Như Hoà.
9. Đền Như Độ - xã Như Hoà.
10. Đền Hoàng Kim thôn Thủ Trung- xã Kim Chính.
11. Đền làng Kiến Thái - xã Kim Chính.
12. Đình Thượng làng Tuy Lộc- xã Yên Lộc.
13. Đình làng Yên Lâm- xã Lai Thành.
14. Đình Thượng làng Tự Tân, xã Tân Thành.
2.1.2 .Sưu tầm tư liệu về một số di sản văn hóa nổi tiếng của Ninh Bình.
2.1.2.1.Di tích lịch sử văn hóa
Quần thể danh thắng Tràng An là một địa danh du lịch tổng hợp gồm các
di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới đã được UNESCO công nhận ở Ninh Bình.
Trước đó, nhiều di tích danh thắng nơi đây đã được Chính phủ Việt Nam xếp hạng
di tích quốc gia đặc biệt quan trọng như Khu du lịch sinh thái Tràng An, khu du
lịch Tam Cốc - Bích Động, chùa Bái Đính, cố đô Hoa Lư... Liên kết giữa các khu
vực này là hệ sinh thái rừng đặc dụng Hoa Lư trên núi đá vôi, đất ngập nước và hệ
thống sông, hồ, đầm với diện tích 12.252 ha.
Ngày 23 tháng 6 năm 2014, tại Doha, với sự đồng thuận tuyệt đối của Ủy
ban Di sản thế giới, Quần thể danh thắng Tràng An chính thức trở thành di sản thế
giới hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam khi đáp ứng cả hai yếu tố nổi bật về văn hóa
và thiên nhiên Tràng An hiện cũng là di sản thế giới kép đầu tiên và duy nhất ở khu
vực Đông Nam Á. Trong quy hoạch phát triển du lịch tại Việt Nam, Tràng An
cũng là địa danh được đầu tư để trở thành một khu du lịch tầm cỡ quốc tế.
Quần thể danh thắng Tràng An nằm ở khu vực ranh giới giữa huyện Hoa
Lư với các huyệnGia Viễn, Nho Quan, thành phố Tam Điệp và thành phố Ninh
Bình. Về mặt hành chính, vùng lõi Tràng An nằm trên 12 xã: Trường Yên, Ninh
Hải, Ninh Hòa, Ninh Xuân, Ninh Vân, Ninh Thắng (Hoa Lư); Ninh Nhất, Ninh
Tiến (Tp Ninh Bình); Gia Sinh (Gia Viễn); Yên Sơn (Tam Điệp) và Sơn Hà, Sơn

đối của vùng từ 10 đến 281 m. Thảm thực vật tự nhiên ở Hoa Lư là rừng trên núi
đá vôi và rừng thường xanh trên đất thấp ở các thung lũng đan xen giữa các vùng
đá vôi. Có khá nhiều hang động đẹp ở khu vực như: động Thiên Hà, động Vái
Giời, động Tiên Cá, động Ba Cô, động Tiên, động Thủy Cung, hang Bụt, hang
Sinh Dược... cùng với rừng núi và sông nước tạo nên những tuyến du lịch nổi tiếng
như Tràng An, Tam Cốc - Bích Động. Có những con sông chảy qua vùng Tam
Cốc và Tràng An để du khách có thể đi thăm khu vực này bằng thuyền.
Kiến tạo địa chất độc đáo
Tràng An minh chứng cho các giai đoạn cuối cùng của quá trình tiến hóa
karst trong môi trường khí hậu nhiệt đới ẩm. Sự đa dạng địa chất địa mạo hiện diện
tại Quần thể danh thắng Tràng An là kết quả từ các hoạt động địa chất liên tục qua
hàng trăm triệu năm từ kỷ Trias đến Đệ Tứ. Trong suốt chính thời gian này, sự sụp
đổ địa mạo và phân chia cao các khối núi Karst đá vôi trầm tích khổng lồ đã sảy ra
ở đây. Chính những sự kiện địa chất này đã tạo ra những vùng núi hoang sơ và
quyến rũ, các thung lũng trầm tích và các hố sụt mà cùng nhau dã có được kết quả
trong sự đa dạng biểu mẫu, đại chất địa mạo, hang động và các hệ thống nước của
Quần thể danh thắng Tràng An.
Tràng An có ý nghĩa lớn về khoa học là trong một cảnh quan, có mặt các
dạng chuyển tiếp giữa núi đá vôi hình nón nối với nhau qua các đỉnh sắc cạnh và
núi đá vôi dạng tháp cổ điển đứng rời rạc trên các đồng bằng bồi tích, mỗi dạng địa
hình đại diện cho các giai đoạn khác nhau trong quá trình tiến hóa địa mạo đang
diễn ra trong chu trình xâm thực karst. Một loạt ngấn xâm thực tìm thấy trên vách
đá, có liên quan đến các hang động, sàn ngấn sóng, trầm tích bãi biển và vỏ nhuyễn
thể biển, hé lộ bằng chứng của các đợt biển tiến trước đây. Cùng với việc dịch
chuyển nâng lên của khối núi, những đặc điểm này có thể quan sát ở độ cao
khoảng 50m trên mực nước biển hiện tại. Có ít cảnh quan trên thế giới và không có
22


khu vực karst nào tương ứng có thể cho những bằng chứng dao động mực nước

người đối với những thách thức, biến đổi và cơ hội qua hàng chục nghìn năm, đang
mang lại các cách tiếp cận tiên phong trong việc tìm hiểu quá trình cư trú của con
người và các chiến lược mới mà từ đó có thể áp dụng cho các mô hình kinh tế hiện
đại, với mục đích tăng cường khả năng thích ứng trước những biến đổi môi trường
sắp xảy ra trong thế giới ngày nay.
Kinh đô Hoa Lư của người Việt cổ
Đến thế kỷ X ở thung lũng mở Hoa Lư, người Tràng An đã không ngừng
phát triển bản sắc văn hóa của họ trong sự hòa hợp, chặt chẽ với cảnh quan thiên
nhiên. Vị anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân đã xây
dựng Kinh đô Hoa Lư ở đây bằng cách đắp thành, nối liền những ngọn núi, khép
23


kín thung lũng đá vôi để phục hưng văn hóa, lập nên ba triều đại đầu tiên của nền
phong kiến độc lập Việt Nam: nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lý với các dấu ấn lịch
sử: thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà
Nội.
Đến thế kỷ XIII triều đại nhà Trần lại chọn vùng núi Tràng An để xây
dựng hành cung Vũ Lâm với vai trò là một căn cứ quân sự để củng cố lực lượng
góp phần chiến thắng quân Nguyên - Mông và là nơi các vua Trần xuất gia tu
hành, mở mang phật giáo.
Khu rừng môi trường Hoa Lư ngày nay có hàng loạt các giá trị lịch sử, văn
hoá và du lịch. Di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư hiện nay còn rất nhiều công
trình kiến trúc đình, đền, chùa, phủ như: đền Vua Đinh Tiên Hoàng, đền Vua Lê
Đại Hành, đền thờ Công chúa Phất Kim, chùa Nhất Trụ, phủ Vườn Thiên, chùa
Kim Ngân, chùa Duyên Ninh, phủ Chợ, động Am Tiên, đình Yên Trạch, chùa Bà
Ngô, động Liên Hoa, đền Trần, phủ Khống, phủ Đột, chùa Bái Đính, động Thiên
Tôn, động Hoa Lư, đền thờ Đinh Bộ Lĩnh...
Chùa Bích Động là một ngôi chùa cổ được xây dựng trên dãy núi đá
vôi Trường Yênthuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. Đây là một di

cao 1,2m là đến Ngũ đại môn (5 cửa lớn) có 6 hàng cột đá tròn song song đều được
chạm khắc nổi long vương chầu vào chính diện. Mặt ngoài các cột đá đều chạm
khắc các câu đối bằng chữ Hán. Các xà hiên cũng làm bằng đá, chạm khắc lưỡng
long chầu nguyệt.
Qua 5 cửa lớn là đến 5 gian Bái Đường uy nghi, cũng có 6 cột đá vuông
chạm khắc các câu đối ở mặt ngoài, các mặt khác chạm khắc nổi: long, ly, quy,
phượng, cá chép hoá long. Tiếp theo là ba gian Trung Đường với hai hàng cột đá
tròn, mỗi hàng 4 cột, đều được chạm khắc nổi long vân. Ở đây đặt nhang án đá.
Hai bên có đôi hạc gỗ cao hơn 2 mét và hai bộ chấp kích thờ sơn son thiếp vàng.
Qua Trung Đường vào năm gian Chính Tẩm cũng có 8 cột đá tròn được chạm khắc
nổi: cầm, kỳ, thi, hoạ. Di tích am Thái Vi hiện còn đến nay là một khu đất rộng
khoảng sáu sào, xung quanh có lũy đất, ở giữa là ngôi đền.
Trong Cung khám của Chính Tẩm ở giữa là tượng thờ Trần Thái Tông, Trần
Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, các tướng Trần Hưng Đạo,Trần
Quang Khải và hoàng hậu Thuận Thiên. Như thế đền Thái Vi thờ 4 đời vua nhà
Trần. Hai bên tả hữu là hai tượng kim đồng ngọc nữ đứng hầu nhà vua. Tại khu di
tích đền Thái Vi còn một am nhỏ là nơi vua Trần Thái Tông đã cho lập lên và ở đó
tu hành trong thời gian cuối đời.
Cố đô Hoa Lư
Là quần thể di tích quốc gia đặc biệt quan trọng đồng thời là 1 trong 4 vùng
lõi của quần thể di sản thế giới Tràng An. Hệ thống di tích ở Hoa Lư liên quan đến
sự nghiệp của các nhân vật lịch sử thuộc ba triều đại nhà Đinh, nhà Tiền Lê và
khởi đầu nhà Lý, tính từ Đinh Tiên Hoàng đến Lý Thái Tông trong lịch sử Việt
Nam. Xưa nơi đây là kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến Trung ương tập
quyền ở Việt Nam với các dấu ấn lịch sử: thống nhất giang sơn, đánhTống dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội. Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời
kinh đô từHoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội), Hoa Lư trở thành Cố đô.
Các triều vua Lý, Trần, Lê,Nguyễn sau đó dù không đóng đô ở Hoa Lư nữa nhưng
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status