skkn sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học môn lịch sử cấp THPT - Pdf 33

Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học môn Lịch sử cấp THPT

MỤC LỤC
TT
*
*
*
A
B
I
1
1.1
1.2
1.3
2
II
1
2
3
C
1
2
*
*

NỘI DUNG
Mục lục
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Đặt vấn đề
Giải quyết vấn đề

10
10
12
13
13
14
27
36
36
37
39
40

LỜI CẢM ƠN

Trường THPT Gia Viễn C

1


Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học môn Lịch sử cấp THPT

Để hoàn thành sáng kiến với nội dung đề tài: “Sử dụng di sản văn hóa địa
phương trong dạy học môn Lịch sử cấp THPT”, chúng tôi xin cảm ơn sự khích lệ
động viên, sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Chi ủy, Ban giám hiệu, Hội đồng sư phạm
nhà trường và của tổ, nhóm chuyên môn; Sự giúp đỡ của Ban quản lý di tích lịch sử ở
địa phương và sự tham gia nhiệt tình của học sinh các khối lớp của trường THPT Gia
Viễn C. Đặc biệt, chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ đạo của Sở Giáo
dục và đào tạo Ninh Bình đã quyết định đến sự thành công của Chuyên đề cấp tỉnh
môn Lịch sử với nội dung “Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học môn


1

CNTT

Công nghệ thông tin

2

GD&ĐT

Giáo dục và đào tạo

3

GDCD

Giáo dục công dân

4

GDTX

Giáo dục thường xuyên

5

GV

Giáo viên

văn hóa với hội nhập và phát triển”.

Ngay trong tháng 01 năm 2013, Bộ GD&ĐT đã phối hợp với Bộ Văn hóa, thể
thao và du lịch có công văn số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL về việc hướng dẫn sử
dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm GDTX nhằm góp
phần giáo dục toàn diện học sinh, giữ gìn và phát huy giá trị của di sản văn hóa vì lợi
ích của toàn xã hội và truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Trong hướng dẫn này, Bộ đã chỉ rõ việc lồng ghép nội dung dạy học di sản văn hóa

Trường THPT Gia Viễn C

4


Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học môn Lịch sử cấp THPT

vào các môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông (nội khóa
hoặc ngoại khóa).
Do vậy, từ năm học 2013-2014, đến năm 2014-2015, chủ trương sử dụng di sản
văn hóa trong dạy học lại tiếp tục được Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT đưa vào trở thành
một trong những nhiệm vụ trọng tâm (Công văn số 3008-CT/BGDĐT, Chỉ thị nhiệm
vụ trọng tâm của giáo dục phổ thông năm học 2014 – 2015, ngày 18 tháng 8 năm 2014
của Bộ Giáo dục và đào tạo về dạy học thông qua di sản; Hướng dẫn số 938/SGDĐTGDTrH của Sở GD&ĐT Ninh Bình ngày 06/9/2014 V/v sử dụng di sản văn hóa trong
dạy học ở trường phổ thông).
Mặt khác, trong những năm gần đây, học sinh ngày càng xa rời với các bộ môn
xã hội, đặc biệt là môn lịch sử. Việc học sinh nắm bắt được lịch sử đất nước còn rất
hạn chế, chứ chưa nói gì đến việc hiểu được lịch sử của địa phương mình. Thực trạng
hiểu biết lịch sử của học sinh như vậy thật đáng báo động: “Một thế hệ mà không
thông hiểu được lịch sử của dân tộc, của địa phương mình thì không biết tương lai đất
nước sẽ đi về đâu” (Giáo sư Trần Văn Giầu). Thực tế kết quả học sinh đăng kí môn thi

Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học môn Lịch sử cấp THPT

trôi qua hết sức tẻ nhạt, HS trở thành đối tượng “thụ động” tiếp nhận kiến thức “chay”
từ phía GV.
Quê hương Ninh Bình được biết đến là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”. Nơi đây
còn được xem là địa phương “ngàn năm văn vật” với những di tích lịch sử - văn hóa
đã trở thành di sản văn hóa nổi tiếng. Đặc biệt, trong di sản văn hoá Ninh Bình, phải
kể đến văn hoá dân gian được hình thành rất sớm, đồng hành và trải dài suốt tiến trình
lịch sử dân tộc. Văn học dân gian Ninh Bình khá đa dạng, phong phú cả về đề tài, thể
loại và số lượng. Song, phong phú và đa dạng hơn cả là ca dao, tục ngữ, thành ngữ,
truyền thuyết, cổ tích và giai thoại. Tuy vậy, với các giải pháp cũ thường làm, HS ở
các trường phổ thông không thể biết được và không thể tự hào về truyền thống lịch sử
- văn hóa của quê hương mà các thế hệ cha ông đi trước đã dựng xây.
Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông hiện nay đang trở thành một
giải pháp mới và hiệu quả nhằm khắc phục những hạn chế do các giải pháp dạy học cũ
đã làm. Tuy nhiên, việc đưa di sản văn hóa vào dạy học lịch sử địa phương là một giải
pháp hoàn toàn mới mà trước đó chưa từng được đặt ra nhằm nâng cao hơn nữa chất
lượng dạy học nội dung giáo dục địa phương nói riêng và dạy học môn Lịch sử nói
chung.
Việc định hướng học sinh vào tìm hiểu những di sản văn hóa ở địa phương sẽ
giúp các em cảm thấy bài học lịch sử gắn bó hơn với cuộc sống ở xung quanh các em.
Qua đó, sẽ bồi dưỡng học sinh tình cảm tự hào với những giá trị văn hóa truyền thống
do ông cha để lại, càng thêm yêu quê hương, yêu đất nước mình hơn. Và trên hết, các
em sẽ tự nảy sinh ý thức trách nhiệm đối với việc bảo tồn di sản văn hóa, cũng như kế
thừa, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp từ ngàn xưa trong lịch sử quê hương, đất
nước.
II/ Mục đích nghiên cứu:
Thông qua những kiến thức cơ bản về khai thác và sử dụng di sản trong các tiết
dạy lịch sử địa phương và bằng một bài dạy cụ thể là bài “Di tích lịch sử - văn hóa ở
Ninh Bình” – (Chương trình Lịch sử lớp 11) giúp giáo viên có nhận thức và hướng đi

say mê của các em đối với môn học này cũng như góp phần giáo dục đạo đức, nhân
cách của các em một cách toàn diện.
III/ Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống, thu thập, sưu tầm và xử lý thông tin những nguồn tư liệu quý báu về
di tích lịch sử - văn hóa nhằm khắc phục hạn chế về nguồn tư liệu lịch sử địa phương.
- Các phương pháp nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả một số di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng cấp tỉnh, cấp quốc gia của tỉnh, của huyện và các di sản văn
hóa phi vật thể gắn liền với các di tích – di sản vật thể đó ở trong các giờ học lịch sử ở
THPT.
- Khai thác và thực hiện một số phương pháp, hình thức dạy học, ứng dụng hiệu
quả CNTT, nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự học của học sinh, đáp ứng chủ
trương đổi mới phương pháp dạy học trong quá trình chuẩn bị và tiến hành bài học ở
trên lớp.
- Tích hợp nội dung giáo dục địa phương của các bộ môn xã hội, trong đó: Lịch
sử, Ngữ văn, Địa lý, Giáo dục công dân nhằm tạo ra sự thống nhất về nội dung giáo
dục di sản ở địa phương, góp phần giảm tải, khơi dậy sự hứng thú trong mỗi học sinh
khi được tìm hiểu về các di sản văn hóa địa phương một cách toàn diện.
- Thông qua hoạt động giáo dục di sản cho học sinh trường THPT Gia Viễn C,
sáng kiến giúp giáo viên và học sinh hiểu rõ khái niệm, giá trị của di sản văn hóa cũng
như ý nghĩa của việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở các trường THPT nói
chung.
IV/ Đối tượng nghiên cứu:
- Hoạt động của học sinh lớp 11 trong một tiết học lịch sử địa phương (ở trên
lớp và quá trình học của các ở nhà trước và sau tiết học)
- Hoạt động ngoại khóa của học sinh nhà trường cả ba khối lớp 10, 11, 12.
V/ Phạm vi nghiên cứu:
Chương trình Lịch sử THPT phần giáo dục địa phương lớp 11, cụ thể là bài “Di
tích lịch sử - văn hóa ở Ninh Bình”.

Trường THPT Gia Viễn C


này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức
khác.
Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết; Ngữ văn dân gian;
Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống;
Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian.

Hình ảnh minh họa: Phân loại di sản văn hóa phi vật thể
- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật
quốc gia.
+ Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học.
+ Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp
giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa
học.
+ Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
Trường THPT Gia Viễn C

9


Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học môn Lịch sử cấp THPT

+ Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa,
khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.
+ Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm
tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Phân loại và xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa:
+ Phân loại: Di tích lịch sử - văn hóa chia làm 4 loại là Di tích lịch sử (lưu niệm

- Tạo điều kiện tổ chức quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh một cách
hợp lí.
1.3/ Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể địa phương (huyện Gia Viễn
– tỉnh Ninh Bình)
Trường THPT Gia Viễn C

10


Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học môn Lịch sử cấp THPT

Gia Viễn là vùng đất cổ có bề dày lịch sử và giàu truyền thống văn hóa. Huyện
Gia Viễn có nhiều di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng như:
Di sản vật thể/ phi
vật thể
1
Núi chùa Bái Đính
Xã Gia Sinh
Di sản vật thể
2
Đình Đông Khê
Xã Gia Trung
Di sản vật thể
3
Đền Thánh Nguyễn
2 xã Gia Tiến, Di sản vật thể
Gia Thắng
4
Chùa và động Địch Lộng
Xã Gia Thanh

14 Đình Vân Thị
Xã Gia Tân
Di sản vật thể
15 Đình và chùa Giá Thượng
Xã Gia Hòa
Di sản vật thể
16 Chùa Phúc Hưng và núi Xã Gia Minh
Di sản vật thể
Hang Toàn
17 Chùa Hưng Quốc
Xã Gia Hưng
Di sản vật thể
18 Chùa Linh Viên
Xã Gia Hưng
Di sản vật thể
19 Đình, đền chùa Tập Ninh
Xã Gia Vân
Di sản vật thể
20 Đền Thượng
Xã Gia Phú
Di sản vật thể
21 Đình Núi Thiện
Xã Gia Tân
Di sản vật thể
22 Đền làng Đoan Bình
Xã Gia Phú
Di sản vật thể
23 Đình Trai
Xã Gia Hưng
Di sản vật thể

Di sản phi vật thể
34 Nghề làm mắm tép
Huyện
Gia Di sản phi vật thể
Viễn
35 Ngữ văn dân gian
Huyện
Gia Di sản phi vật thể
Viễn
Stt

Tên gọi di sản

Trường THPT Gia Viễn C

Địa điểm

Được công
nhận cấp
Quốc gia
Tỉnh
Quốc gia
Quốc gia
Quốc gia
Quốc gia
Quốc gia
Quốc gia
Quốc gia
Quốc gia
Quốc gia

Trường THPT Gia Viễn C trên địa bàn huyện Gia Viễn
- Đối tượng học sinh của trường THPT Gia Viễn C: bao gồm học sinh có hộ
khẩu thường trú tại 6 xã trên địa bàn huyện Gia Viễn, thuộc khu vực hai bên bờ sông
Hoàng Long là các xã: Gia Sinh, Gia Lạc, Gia Minh, Gia Phong, Gia Trung và Gia
Tiến. Trong đó, đa số học sinh thuộc các xã Gia Sinh, Gia Lạc, Gia Minh, Gia Phong.
Còn lại, các em ở 2 xã còn lại chiếm số lượng ít hơn (do ở vùng tả ngạn sông Hoàng
Long, giao thông đi lại khó khăn nên nhiều học sinh ở Gia Trung, Gia Tiến còn học ở
trường THPT Gia Viễn A, THPT Gia Viễn B và Trung tâm GDTX Gia Viễn).
Phần lớn học sinh ở các lớp đều có khả năng thu thập, tìm kiếm tư liệu (tư liệu
sử, tranh ảnh) thông qua hoạt động thực tế, trải nghiệm ở các di tích gần khu vực nơi
cư trú.
- Về phương tiện dạy học: nhà trường đã lắp đặt mạng Internet ở các phòng tổ,
cung cấp đầy đủ máy tính, phòng học có hệ thống máy chiếu phục vụ tốt cho việc tìm
kiếm, xử lý nguồn tư liệu và tiến hành bài giảng trên lớp.
Với hy vọng lồng ghép nội dung dạy học di sản văn hóa thông qua việc khai
thác, sử dụng một số di tích lịch sử - văn hóa ở địa phương và một số di sản phi vật thể
sẽ phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, từ đó góp phần nâng cao chất
lượng bộ môn, nên chúng tôi đã chọn đề tài “Sử dụng di sản văn hóa địa phương
trong dạy học môn Lịch sử cấp THPT”.
II/ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1/ Các bước giáo dục di sản văn hóa cho học sinh trường THPT:
Trường THPT Gia Viễn C

12


Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học môn Lịch sử cấp THPT

- Bước 1: Giáo viên phải xây dựng kế hoạch giáo dục, soạn giáo án chi tiết, tỉ
mỉ dựa trên các tài liệu Hướng dẫn dạy học lịch sử Ninh Bình, tài liệu giáo dục địa


Địa điểm
Xã Gia Tiến và Gia Thắng
Xã Gia Sinh
Xã Gia Phong
Xã Gia Lạc
Xã Gia Phong
Xã Gia Tiến
Xã Gia Minh
Xã Gia Trung
Xã Gia Phong

Ghi chú
Di tích lịch
sử - văn hóa
cấp quốc gia
Di tích lịch
sử - văn hóa
cấp tỉnh

- Bước 3: Trên cơ sở lựa chọn những di sản gắn liền với địa điểm học sinh cư
trú, giáo viên phân công học sinh tìm hiểu, sưu tầm, thu thập các nguồn tư liệu có liên
quan.
Nguyên tắc lựa chọn để nghiên cứu một số di tích lịch sử - văn hóa:
+ Là một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, gần gũi với đối tượng giảng dạy
ở trường THPT trên địa bàn huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Ninh Bình.
+ Các di tích này khi được đưa vào giảng dạy trong bài lịch sử địa phương Ninh
Bình: Bên cạnh di tích tiêu biểu xung quanh địa bàn trường THPT, học sinh cần được
giới thiệu những di tích tiêu biểu của cả tỉnh Ninh Bình. Vì vậy, số lượng di tích của
địa phương không được lựa chọn quá nhiều (chỉ lựa chọn khoảng 2-3 di tích tiêu biểu

5 km
2
Gia Tiến
Khu vực núi Kiếm Lĩnh
5 km
Chùa Lỗi Sơn
3 km
3
Gia Phong
Nhà thờ Đinh Huy Đạo
2 km
Đền Vò làng Lỗi Sơn
3 km
4
Gia Lạc
Chùa Lạc Khoái
1,5 km
5
Gia Trung
Đình Đông Khê
2 km
6
Gia Minh
Chùa Phúc Hưng
11 km
- Bước 4: Thiết kế bài giảng, hoàn thiện hồ sơ dạy học hoàn chỉnh dựa trên kết
quả đã thu thập được và xử lý hợp lý các nguồn thông tin tư liệu.
- Bước 5: Giáo viên và học sinh cùng tiến hành nội dung bài học trên lớp.
- Bước 6: Tổ chức các hoạt động về nhà của học sinh: Liên hệ thực tiễn (suy
nghĩ và hành động) của học sinh về di sản văn hóa của địa phương mình.

hai xã Gia Thắng, Gia Tiến huyện Gia Viễn, Ninh Bình. Theo sử sách cũ nói về việc
lập Kinh đô nhà Đinh, lúc đầu Đinh Bộ Lĩnh “Chọn được chỗ đất đẹp ở Đàm Thôn
(Gia Thắng, Gia Tiến ngày nay), muốn xây dựng Đô ở đó, nhưng vì thế đất chật hẹp
lại không có lợi về việc đặ hiểm nên vẫn đóng đô ở Hoa Lư”. Chính vùng đất Đàm
thôn (hay gọi là Điềm) ấy có Nguyễn Minh Không, là danh nhân được sinh ra trên đất
này. Đền được xây dựng trên nền ngôi chùa có tên là Viên Quang do Nguyễn Minh
Không lập vào năm 1121. Khi ông mất, nhân dân Đàm Xá biến chùa Viên Quang
thành đền thờ Thánh Nguyễn. Đền Thánh Nguyễn được xếp hạng di tích kiến trúc
nghệ thuật quốc gia tháng 2 năm 1989.
Về kiến trúc:
Đền quay hướng nam, song song với đường Vua Đinh hướng về cố đô Hoa Lư
nên được xem như là một di tích thuộc Hoa Lư tứ trấn. Đền nằm trên mảnh đất dài
100m rộng hơn 40m, tổng thể công trình kiến trúc khá quy mô, được xây dựng theo
kiểu “nội công ngoại quốc”. Vào đền đi theo hai lối Đông Tây thấy có hai cột cờ hai
bên vút cao. Đầu tiên là Vọng Lâu. Bên hồi của Vọng Lâu có cây đèn đá, cao hơn một
mét, biểu tượng cái đèn của Nguyễn Minh Không ngày xưa ngồi thắp sáng để ngồi
thiền tịnh. Huyền thoại kể rằng, cây đèn tự nhiên mọc lên, Nguyễn Minh
Không thường đêm đêm ngồi bên cây đèn. Các loài chim, loài thú về chầu xung
quanh, ánh sáng cây đèn chiếu sáng đến tầng mây trên không. Chính vì thế nhân dân
tôn hiệu ông là Minh Không và từ đó trở đi tục gọi thiền sư là Minh Không.

Trường THPT Gia Viễn C

15


Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học môn Lịch sử cấp THPT

Đền có 4 toà làm theo kiểu tiền nhất, hậu công (trước theo kiểu chữ nhất 一 sau
là chữ công 工). Năm gian tiền đường làm theo kiểu chồng rường, hồi có mái đại, trụ


Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học môn Lịch sử cấp THPT

lý, văn học, kiến trúc, mỹ thuật, kỹ nghệ… làm nền tảng cho sự phát triển của văn hoá
Việt sau này.
Tại quê hương Ninh Bình rất nhiều đền thờ đức Thánh Nguyễn khác. Trong số
đó phải kể đến đền thờ Thánh Nguyễn ở khu văn hóa tâm linh núi chùa Bái Đính là
nơi ông đã phát hiện ra các động và biến chúng thành chùa khi đến đây tìm cây thuốc
chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông. Tại chùa Địch Lộng ở huyện Gia Viễn, nơi được
mệnh danh là “Nam thiện đệ tam động”, tức động đẹp thứ 3 của trời Nam cũng có đền
thờ và tượng của ông. Khu di tích động Hoa Lư thì phối thờ tượng ông cùng với tượng
vua Đinh Tiên Hoàng trong ngôi đền cổ. Lý Quốc Sư còn được thờ ở đình Ngô Đồng,
xã Gia Phú, Gia Viễn và đền thờ Tô Hiến Thành dưới chấn núi Cắm Gươm ở bên sông
Hoàng Long, chùa Nhất Trụ và động Am Tiên ở cố đô Hoa Lư. Tại đền Thượng xã
Khánh Phú và đền Tam Thánh ở xã Khánh An, Yên Khánh ông được suy tôn là đức
Thánh cả.
Lễ hội đền Thánh Nguyễn diễn ra từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 3 âm lịch. Đây
là dịp nhân dân địa phương tri ân đức Thánh Nguyễn Minh Không, người con của
đất Gia Viễn. Lễ hội chính được tổ chức 5 năm một lần hoặc 10 năm một lần (tuỳ theo
điều kiện kinh tế); lễ hội còn được tổ chức hàng năm vào dịp tháng Giêng. Trong phần
lễ chính có tục rước nước từ sông Hoàng Long về đền; tế lục khúc, tế nam quan, nữ
quan… phần hội có tổ chức các trò chơi dân gian kéo co, cờ 32 quân, chọi gà, thi bóng
chuyền, bóng đá.

Hình ảnh lễ hội đền Thánh Nguyễn
2.2/ Núi chùa Bái Đính - Xã Gia Sinh
Chùa nằm ở cửa ngõ phía tây khu di tích cố đô Hoa Lư, bên quốc lộ 38B, thuộc
xã Gia Sinh – Gia Viễn – Ninh Bình, cách thành phố Ninh Bình 15 km, cách Hà Nội
95 km. Khu Chùa cổ được khởi lập năm 1136. Người sáng lập là Thiền sư Nguyễn
Minh Không, Tước hiệu là Lý Quốc Sư (1065 - 1141).


Trường THPT Gia Viễn C

18


Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học môn Lịch sử cấp THPT

"Minh Đỉnh Danh Lam" khắc trên đá do Lê Thánh Tông ban tặng có nghĩa là: “Lưu
danh thơm cảnh đẹp”.
Động dài 25m, rộng 15m, cao trung bình là 2m, nền và trần của động bằng
phẳng. Đi tiếp theo ngách đá bên trái cuối hang sẽ dẫn tới một cửa hang sáng và rộng,
một thung lũng xanh hiện ra. Nếu đi tiếp xuống các bậc đá sẽ đến đền thờ thần Cao
Sơn. Quay trở lại ngã ba đầu dốc, theo đường rẽ trái khoảng 50m là tới động Tối.
Động Tối lớn hơn hang Sáng, gồm 7 buồng, có hang trên cao, có hang ở dưới sâu, các
hang đều thông nhau qua nhiều ngách đá, có hang nền bằng phẳng, có hang nền trũng
xuống như lòng chảo, có hang trần bằng, có hang được tạo hóa ban tặng cho một trần
nhũ đá rủ xuống muôn hình vạn trạng. Trong động tối có giếng ngọc tạo thành do
nước lạnh từ trần động rơi xuống. Các vị Tiên được thờ ở nhiều ngách trong động.
Đền thờ Thánh Nguyễn
Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không là người sáng lập chùa Bái Đính. Ông là một
thiền sư, pháp sư tài danh được vua phong Quốc sư và nhân dân tôn sùng gọi là đức
thánh Nguyễn. Khu vực núi Đính nằm cách quê hương đức thánh Nguyễn Minh
Không 4 km. Tương truyền khi ông đến đây tìm cây thuốc chữa bệnh hóa hổ cho
vua Lý Thần Tông đã phát hiện ra các hang động đẹp liền dựng chùa thờ Phật và tạo
dựng một vườn thuốc quý để chữa bệnh cho dân. Đền thánh Nguyễn nằm ngay tại ngã
ba đầu dốc, xây theo kiểu tựa lưng vào núi, trong đền có tượng của ông được đúc bằng
đồng.
Đền thờ thần Cao Sơn
Đi hết hang sáng có một lối dẫn xuống sườn thung lũng của rừng cây sưa là đền

Giếng ngọc của chùa Bái Đính cổ nằm gần chân núi Bái Đính. Tương truyền
đây là nơi thiền sư Nguyễn Minh Không đã lấy nước để sắc thuốc chữa bệnh cho dân
và chữa bệnh cho Vua Lý Thần Tông. Giếng xây lại hình mặt nguyệt, rất rộng, có
đường kính 30 m, độ sâu của nước là 6 m, không bao giờ cạn nước. Miệng giếng xây
lan can đá. Khu đất xung quanh giếng hình vuông, có diện tích 6.000 m², 4 góc là 4 lầu
bát giác. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã cấp bằng “Xác nhận kỷ lục”: “Ngôi chùa
có giếng lớn nhất Việt Nam”, ngày 12 tháng 12 năm 2007.
Sự kiện lịch sử có liên quan:
Núi chùa Bái Đính chính là nơi Đinh Tiên Hoàng Đế lập đàn tế trời cầu mưa
thuận gió hòa, sau này tiếp tục được vua Quang Trung chọn để làm lễ tế cờ động viên
quân sĩ trước khi ra Thăng Long đại phá quân Thanh. Thế kỷ XVI núi Đính là địa bàn
tranh chấp giữa 2 tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh với nhà Mạc, khi mà chính
quyền nhà Mạc chỉ kiểm soát được vùng lãnh thổ từ Ninh Bình trở ra. Núi chùa Bái
Đính cũng là một di tích cách mạng thuộc chiến khu Quỳnh Lưu, nơi lãnh đạo Đảng
Cộng sản Việt Nam tuyên truyền cách mạng tới nhân dân.
Lễ hội chùa Bái Đính:
Lễ hội chùa Bái Đính là một lễ hội xuân, diễn ra từ chiều ngày mùng 1 tết, khai
mạc ngày mùng 6 tết và kéo dài đến hết tháng 3, khởi đầu cho những lễ hội hành
hương về vùng đất cố đô Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. Ngoài thời gian trên trong năm, du
khách chỉ có thể vãn cảnh chùa mà không được thăm thú các hoạt động văn hóa của lễ
hội.
Lễ hội chùa Bái Đính gồm 2 phần. Phần lễ gồm các nghi thức thắp hương thờ
Phật, tưởng nhớ công đức Thánh Nguyễn Minh Không, lễ tế thần Cao Sơn và chầu
thánh Mẫu Thượng Ngàn. Lễ hội chùa Bái Đính bắt đầu bằng nghi thức rước kiệu
mang bài vị thờ Thần Cao Sơn, Đức Thánh Nguyễn và Bà chúa Thượng Ngàn từ khu
chùa cổ ra khu chùa mới để tiến hành phần hội.
Trường THPT Gia Viễn C

20



Về kiến trúc: Chùa có hai ngôi là chùa Thượng và chùa Hạ.
Chùa Thượng
Chùa được xây dựng giữa lưng chừng núi Bảng, tạo dáng như cỗ ngai. Chùa
kiến trúc kiểu chữ Đinh : Tiền đường 5 gian, tam bảo 2 gian. Tiền đường làm kiểu
chồng giường, bẩy kẻ. Chùa có chuông cao 90 cm, đường kính 50 cm, đúc năm Mậu
Tý (1888). Chuông được trạm khắc tứ linh, cùng nhiều họa tiết mền mại. Trước cửa
chùa có bức nghinh phong còn gọi là Tắc Môn.
Nếu đứng quay nhìn vào chùa thì gian giáp đốc phía tay phải là gian đặt bệ thờ
tượng Đức Ông. Phía tay trái ở gian giáp đốc đặt bệ thờ tượng Đức Thánh Hiền. Hệ
thống tượng pháp trong chùa rất đa dạng và phong phú. Đáng chú ý có hai pho tượng
là tượng Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt và tượng phật Quan Âm Thị Kính rất
đẹp. Giữa tòa tam bảo chùa Thượng có một bát hương đá hình bát giác (8 mặt) theo
phương vị hậu thiên bát quái.
Chùa Hạ
Chùa nằm ở chân núi Bảng, trong lòng tay ngai. Từ chùa Hạ có 99 bậc đá lên
chùa Thượng, tạo nên tổng thể công trình hài hòa với cảnh quan hấp dẫn. Chùa Hạ xây
dựng trước chùa Thượng 10 năm. Chùa Hạ được xây dựng vào năm Kỷ Mùi (1859).
Chùa thờ Phật và Tam vị Thánh Mẫu (tiền phật, hậu thánh).
Về lễ hội: hàng năm được tổ chức vào 2 ngày mùng sáu và mùng bảy tháng
giêng. Khi tổ chức lễ hội thì nhà chùa, chính quyền và nhân dân địa phương là 3 chủ
thể không thể thiếu và quan trọng ngang nhau. Nhà chùa trọng trách phần lễ. Dân xã
trọng trách phần hội (rước kiệu, phục vụ việc lễ, tổ chức các trò chơi…). Chính quyền
phân công các công việc cho từng đoàn thể, cá nhân, đảm bảo an ninh trật tự… Hội
chùa mở trước hội đình. Phần lễ là nghi thức tưởng nhớ công đức của Phật và Thánh.
Được tổ chức bằng các hình thức rước kiệu và tế. Lễ hội có tục thắp nến vào bát thả
xuống giếng chùa cầu cho mưa, nắng thuận hòa, cầu được phong đăng hòa cốc, mùa
màng bội thu. Hội chùa còn có tục tống thuyền rồng. Thuyền được làm bằng hàng mã,
khá lớn. Các nhà sư và hội tế, tay cầm hương, tay cầm cành phan hoặc gậy tích truợng
đi quanh thuyền hành lễ.

Cuối năm 1786, Nguyễn Huệ kéo đại binh ra Bắc lật đổ nhà Trịnh, đinh Huy
Đạo được vua Cảnh Hưng triệu vời ra kinh đô phong Trung Tín Bá tước. Cuối năm
1788, quân Tây Sơn đồn trú ở Thăng Long rút lui chiến lược về lập phòng tuyến Tam
Điệp – Biện Sơn, tránh đòn tấn công mãnh liệt của 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh.
Đinh Huy đạo đã có mặt cùng tham gia thiết lập phòng tuyến quân sự chiến lược này
của quân Tây Sơn. Ông là người trực tiếp trình bày với Ngô Văn Sở, Ngô Thì Ngâm
Và thực hiện kế sách dẫn 2000 quân vào phủ dụ Cai Giá đang tập trung quân dân các
huyện vùng Nho Quan, Gia Viễn, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Lạc Sơn, Lạc Thuỷ để
phò Lê, chống “giặc Cỏ” (chỉ quân Tây Sơn) về theo hàng quân Tây Sơn.
Theo gia phả họ Đinh ở thôn Ngọc Động khi vua Quang Trung xuất quân ra
đánh đuổi giặc Mãn Thanh, đại quân kéo đến Tam Điệp, Đinh Huy Đạo đã được nhà
vua vời đến bản doanh để hỏi kế sách phá giặc. Đinh Huy Đạo đã tâu trình kế sách
phá giặc Mãn Thanh, được nhà vua khen ngợi. Đất nước thanh bình, Đinh Huy Đạo
được vua Quang Trung ban phong chức Quốc tử trợ giáo, trực tiếp dạy 2 Hoàng tử.
Ngày 17 – 6 năm Quang Trung thứ 3, tức ngày 28-7-1790, ông lại được vua Quang
Trung Thăng chức Cẩn Sự tá lang, Hàn lâm Viện hiệu thảo, tước Viễn Mưu bá hạ
ban, đến ngày 2-8-1791, ông lại được vua Quang trung ban khen” Có lòng trung
Trường THPT Gia Viễn C

23


Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong dạy học môn Lịch sử cấp THPT

thành hết sức với nước, lại có học hành” và được gia phong Thượng thư Bộ Công.
Khi tuổi đã cao, Đinh Huy Đạo mắc chứng ưu phiền. Vua Quang Trung đã ban tặng
ông “viên ngọc giải phiền” khi anh em Quang Trung bất hoà, ông đã dâng sớ can
ngăn Vua Quang Trung chẳng may mất đột ngột, ông vô cùng đau xót, đã viết bài
văn tế. Bài văn tế này hiện được ghi chép trong sách “ Tiền đạo di cảo “ ( Di cảo của
đời trước), được lưu giữ tại nhà thờ họ Đinh ở thôn Ngọc Động.

Chương Vũ đại vương. Bà là người có công coi giữ quân lương, lo cho quân sĩ ăn no,
mặc ấm, được vua Lê phong là Bạch Sam nương hoàng bà. Đến tuổi già sức yếu, ông
từ quan về làng Đông Khê sống cùng nhân dân. Ông, bà dạy lễ nghĩa, đạo lý, khuyến
khích nhân dân chăm lo cầy cấy. Khi hai ông bà qua đời, dân làng thương tiếc lập đình
thờ.
Về kiến trúc: Đình Đông Khê là một ngôi đình có quy mô tương đối lớn, điêu
khắc đẹp, là một trong số ít ngôi đình còn giữ được hình ảnh của làng quê Việt Nam:
cây đa, giếng nước (hồ), mái đình. Đình còn lưu giữ một số hiện vật quý như long
ngai, bài vị, đồ thờ, mười đạo sắc phong trong đó có sắc phong thời vua Quang Trung
và các vua thời nhà Nguyễn.
Sự kiện lịch sử có liên quan: Trước cách mạng tháng Tám 1945, đình là nơi
dạy học của trường Tổng sư, Hương sư. Tháng 3/1939, các chiến sĩ cách mạng đã dán
truyền đơn ở Tam môn, kêu gọi nhân dân chống sưu, thuế, đấu tranh chống áp bức bóc
lột. Tháng 3/1945, Đình là nơi thành lập đội tự vệ chống Nhật. Ngày 19/8/1945, Đình
là nơi nhân dân tập trung tế cờ khởi nghĩa, đi giành chính quyền huyện Gia Viễn và
tỉnh Ninh Bình. Tháng 11/1945, đình là nơi tiễn đưa một số thanh niên lên đường Nam
tiến chống Pháp. Tháng 12/1946, khi Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến, Đình là nơi hội họp bàn việc rào làng kháng chiến, luyệ tập tự vệ và là trụ sở
của Ủy ban hành chính kháng chiến xã. Thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Đình
là trạm giao liên đường dây 559 đưa quân từ Bắc vào Nam và tiếp đón bộ đội từ Nam
ra.
Lễ hội: Hàng năm, đình Đông Khê có hai ngày lễ lớn: Ngày 4/4 (Âm lịch) là
ngày giỗ thánh, dân làng tổ chức rước kiệu từ bến Giáp lên đình và tế lễ. Ngày 14 và
15 (Âm lịch) là ngày lễ kỳ phúc làng mở hội, có rước sắc, cờ, kiệu, tàn, tán, gươm đao,
giáo mác, rìu đồng, phủ việt ... Ban ngày có các trò chơi vật võ, múa đao, kiếm côn
quyền, kéo co, múa lân, múa rồng, đánh đu, cờ tướng. Ban đêm có hát chèo rất đông
vui.

Trường THPT Gia Viễn C


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status