TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC TRUNG ƯƠNG - Pdf 29

LỜI CẢM ƠN
Những kết quả mà tôi có được là nhờ có sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình
của thầy hướng dẫn, các thầy cô giáo tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
cùng với sự động viên khích lệ của bạn bè và đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn:
Phòng đào tạo sau đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Khoa Lí
luận chính trị - Giáo dục công dân Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Tiến sĩ Nguyễn Văn Long đã
tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Các thầy cô giáo trong Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảng dạy
và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Ban Giám hiệu và các thầy cô đồng nghiệp Trường Dự bị Đại học Dân
tộc Trung ương (Việt Trì – Phú Thọ) đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn
thành đề tài của mình.
Bạn bè và gia đình đã động viên tôi trong suốt quá trình học tập và làm
luận văn.
Trong quá trình tiến hành làm luận văn, bản thân gặp không ít khó
khăn, nhưng với hứng thú và say mê nghề nghiệp nên đã vượt qua để hoàn
thành luận văn theo quy định.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Học viên

Nguyễn Thị Mai Hường
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
ĐC: Đối chứng
GDCD: Giáo dục công dân
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
PPDH: Phương pháp dạy học

2.1. NỘI DUNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG
DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC TRUNG ƯƠNG 44
2.1.1. Môn Giáo dục công dân và môn Giáo dục công dân ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương
44
2.1.2. Nội dung tích hợp giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc trong dạy học môn Giáo dục công dân ở
Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương 50
2.2. PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC
SINH TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC TRUNG ƯƠNG 52
2.2.1. Yêu cầu trong việc lựa chọn phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân nhằm nâng cao hiệu
quả tích hợp giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc 53
2.2.2. Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân theo hướng tích cực
hóa nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh Trường Dự bị Đại học
Dân tộc Trung ương 57
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3 68
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN 68
HÓA DÂN TỘC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 68
Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC TRUNG ƯƠNG 68
(QUA PHẦN CÔNG DÂN VỚI CỘNG ĐỒNG) 68
3.1. KẾ HOẠCH THỰC NGHIỆM 68
3.1.1. Mục đích thực nghiệm 68
3.1.2. Giả thuyết thực nghiệm 69
3.1.3. Địa điểm, đối tượng và thời gian thực nghiệm 69
3.1.4. Phương pháp thực nghiệm 70
3.2. NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 70
3.2.1. Những nội dung khoa học cần thực nghiệm 70
3.2.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm 70
3.3. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 90
3.4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SAU THỰC NGHIỆM 94
3.4.1. Kết luận 94

Nam. Cùng với dòng chảy thời gian và những biến động của lịch sử, văn hóa
của mỗi dân tộc cũng vận động theo những quy luật, vừa độc lập, vừa kế thừa,
vừa có sự đan xen những yếu tố mới và cũ để làm nên những nét độc đáo
riêng của mỗi dân tộc và góp phần tạo nên âm hưởng văn hóa chung của cả
cộng đồng người Việt. “Một dân tộc thiếu văn hóa chưa phải là một dân tộc
thực sự hình thành, một nền văn hóa không có bản sắc dân tộc thì nền văn hóa
ấy không có sức sống thật sự của nó” [5; 16].
Thực tiễn phát triển văn hóa nước ta trong thời kỳ đổi mới đang đòi hỏi
cấp thiết phải có sự nghiên cứu, tổng kết và những biến đổi của các giá trị văn
hóa ở nước ta trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa (XHCN), góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa
truyền thống và cách mạng. Vì vậy việc “Xây dựng và thực hiện các chính
sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu
số” [13; 225] là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay.
1
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29 – NQ/TW) với nội dung đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập
quốc tế. Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: “Tạo
chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp
ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học
tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát
huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân. Xây dựng nền
giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, có cơ cấu và
phương pháp giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các
điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội
hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng
XHCN và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030 nền giáo dục Việt Nam
đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [39].

tích hợp trong dạy học, từ lý thuyết về các quá trình về học tập, lý thuyết về
quá trình dạy học, các phương pháp xây dựng chương trình dạy học theo quan
điểm tích hợp tới định nghĩa, mục tiêu của khoa sư phạm tích hợp, ảnh hưởng
của cách tiếp cận này tới việc xây dựng chương trình giáo dục, tới mô hình
xây dựng sách giáo khoa (SGK) và đánh giá kết quả học tập của HS.
Hội thảo quốc tế đón chào thế kỷ 21 có tên “Kết nối hệ thống tri thức
trong một thế giới học tập” với sự tham gia của gần 400 nhà giáo dục thuộc
18 quốc gia được tổ chức từ ngày 6 - 8/12/2000 tại Manila (Philippines). Một
trong những nội dung chính được bàn luận sôi nổi tại hội thảo này là những
con đường và cách thức kết nối hệ thống tri thức hướng vào người học trong
thời đại thông tin. Muốn đáp ứng được nhu cầu kết nối hệ thống tri thức trong
một thế giới học tập, đòi hỏi tư duy liên hội được thiết kế ngay trong nội
3
dung, phương tiện nghiên cứu và phương pháp giảng dạy. Như thế, khi đứng
trước nhu cầu giải quyết mâu thuẫn kiến thức của tình huống học tập, người
học không chỉ giải quyết theo hướng trực tuyến hay nội suy mà có thể còn
giải quyết bằng cách ứng dụng một cách linh hoạt khả năng liên hội kiến thức.
Tích hợp là cách tư duy trong đó các mối liên kết được tìm kiếm, do
vậy tích hợp làm cho việc học chân chính xảy ra. Cụ thể, sự thâm nhập có tính
chất tìm tòi khám phá của HS vào quá trình kiến tạo kiến thức, học tập có ý
nghĩa, học sâu sắc và ứng dụng được xem là chủ yếu đối với việc dạy và học
hiệu quả. Nhờ đó, HS có điều kiện phát triển những kỹ năng xuyên môn,
những khả năng có thể di chuyển. Chương trình tích hợp chính xác là gì?
Trong khái niệm đơn giản nhất của nó, theo Drake and Burns thì đó là liên
quan đến việc tạo lập các kết nối, các mối liên hệ. Các loại kết nối nào?
Xuyên qua các môn học? Với đời sống thực tế? Các kết nối này dựa trên các
kiến thức, nội dung hay dựa trên kỹ năng, năng lực.
Theo thống kê của tổ chức Văn hóa giáo dục của Liên hợp quốc
Unesco từ những năm 1960 đến 1974 đã có 208 chương trình môn học thể
hiện quan điểm tích hợp ở các mức độ khác nhau từ tích hợp liên môn, tích

dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh môn âm nhạc -
Trung học cơ sở, Nxb Giáo dục, 2011.
Nghiên cứu về vấn đề văn hóa và văn hóa dân tộc thiểu số ở nước ta
không phải là vấn đề mới, từ trước đến nay có khá nhiều công trình nghiên
cứu với tầm cỡ, quy mô khác nhau. Các công trình, bài viết về mối quan hệ
giữa văn hóa và phát triển như: Trần Ngọc Hiên, Văn hóa và phát triển – từ
góc độ nhìn Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; Phạm Xuân Nam,
Văn hóa vì sự phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998.
5
Các công trình, bài viết về vai trò của văn hóa trong nền kinh tế thị
trường như: Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 1999; Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên), Xây dựng và phát triển
nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Khoa học xã hội, 2004.
Các công trình, bài viết dưới góc độ triết học: Vũ Đức Khiển, “Văn hóa
với tư cách một khái niệm triết học và vấn đề xác định bản sắc văn hóa dân
tộc”, Tạp chí Triết học, số 6/2000.
Các công trình nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số Việt Nam
như: Ngô Văn Lệ ,Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb Giáo dục
Hà Nội, 1998; Nguyễn Khoa Điềm ,“Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu
số trong cuộc sống hiện nay”, Tạp chí văn học nghệ thuật số 7/2007.
Trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nêu rõ vị trí, vai
trò và nhiệm vụ của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng XHCN hiện nay.
Giáo dục việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cho các em HS dân tộc thiểu số
là việc vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Học viên kế thừa những kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả về giáo dục tích
hợp và về văn hóa các dân tộc thiểu số để phục vụ cho đề tài: “Tích hợp giáo
dục bản sắc văn hóa dân tộc trong dạy học môn Giáo dục công dân cho học
sinh Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương”. Qua dạy học tích hợp môn
Giáo dục công dân (GDCD) để giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho HS
Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương.

bản sắc văn hóa dân tộc với các môn học khác như: Văn học, Lịch sử, Địa lí,
Giáo dục ngoài giờ lên lớp, từ đó nâng cao giáo dục việc giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc cho HS các dân tộc thiểu số. Thông qua hoạt động
này các em sẽ thấy tự hào về dân tộc mình, có trách nhiệm giữ gìn bản sắc
văn hóa của dân tộc mình.
7
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao giáo dục việc giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc cho HS các dân tộc thiểu số ở Trường Dự bị Đại
học Dân tộc Trung ương.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lôgic và lịch sử, phương pháp
phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, phương pháp so sánh và hệ
thống…
Đề tài còn sử dụng các phương pháp: Điều tra xã hội học, thực nghiệm
sư phạm, thống kê toán học…nhằm đạt tới mục đích mà luận văn nêu ra.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TÍCH HỢP GIÁO DỤC
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC
CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC TRUNG ƯƠNG
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các quan điểm về tích hợp và dạy học tích hợp
* Các quan điểm về tích hợp
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ tích hợp. Có ý
kiến cho rằng: Tích hợp là tổ hợp (combination) hay phối hợp (co –
ordination) các môn học. Có ý kiến khác lại cho rằng: tích hợp chẳng qua là

Tích hợp các bộ môn: Là quá trình xích gần, liên kết các ngành khoa
học lại với nhau trên cơ sở của những nhân tố, những quy luật giống nhau,
chung cho các bộ môn, ngược lại quá trình phân hóa chung. Như vậy, tích
hợp các bộ môn trong giáo dục là sự phản ánh trình độ phát triển cao của các
ngành khoa học vào trong nhà trường, đồng thời cũng là đòi hỏi tất yếu của
nhiệm vụ nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động giáo dục. Tích hợp
các bộ môn trong dạy học không những làm cho người học có tri thức bao
quát, tổng hợp hơn về thế giới quan, thấy rõ được mối quan hệ và sự thống
nhất của nhiều đối tượng nghiên cứu khoa học trong những chỉnh thể khác
nhau, đồng thời còn bồi dưỡng cho người học các phương pháp học tập,
nghiên cứu có lôgic, biện chứng, làm cơ sở đáng tin cậy để đi đến những hiểu
biết, những phát hiện có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn hơn. Tích hợp các
bộ môn còn có tác dụng tiết kiệm thời gian, công sức vì loại bỏ được nhiều
10
điều trùng lặp trong nội dung dạy học cũng như phương pháp dạy học
(PPDH) của những bộ môn gần nhau.
Tích hợp các bộ môn cần được thể hiện trong chương trình đào tạo:
- Tích hợp dọc: Là loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều
môn học thuộc cùng một lĩnh vực gần nhau.
- Tích hợp ngang: Là kiểu tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối
tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau.
- Tích hợp giảng dạy: Là sự tiến hành quá trình dạy học theo hướng
liên kết, lồng ghép những tri thức khoa học, những quy luật chung gần gũi
nhau nhằm trang bị cho người học các cách nhìn bao quát đối với nhiều lĩnh
vực khoa học có chung đối tượng nghiên cứu, đồng thời nắm được các
phương pháp xem xét vấn đề một cách lôgic, biện chứng.
- Tích hợp học tập: Là hành động liên kết học tập cùng một lần những kiến
thức khác nhau và những kĩ năng khác nhau về cùng một chủ đề giáo dục.
- Tích hợp kiến thức: Là sự liên kết, nối liền các tri thức khoa học khác
nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất.

chính thể duy nhất. Khoa học hiện nay coi trọng tính tương thích, bổ sung lẫn
nhau để tìm kiếm những quan điểm tiếp xúc có thể chấp nhận được để tạo nên
tính bền vững của quá trình dạy học các môn.
Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, quan điểm tiếp cận tích hợp đã
ảnh hưởng tới giáo dục Việt Nam và bước đầu thể hiện một phần trong
chương trình và SGK các môn học ở tiểu học và được hiểu là “phương hướng
nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ các môn học,
phân môn khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm
đáp ứng mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau” (Nguyễn Cảnh Toàn).
12
Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan
tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới và ở
Việt Nam trong những năm gần đây. Qua việc tích hợp của GV trong một tiết
lên lớp, HS được rèn luyện thói quen tư duy, nhận thức vấn đề một cách có hệ
thống và lôgic. Qua đó, HS cũng thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các
kiến thức được học trong chương trình.
Kế thừa và phát triển những thành tựu mà các lý thuyết về quá trình
học tập và các trào lưu sư phạm của thế giới đã đạt được, sư phạm tích hợp đề
cập tới ba vấn đề lớn của nhà trường:
Vấn đề thứ nhất: Đó là cách thức học tập. Học như thế nào? Sư phạm
tích hợp cho rằng HS cần học cách sử dụng kiến thức của mình vào những
tình huống có ý nghĩa, nghĩa là lĩnh hội các năng lực song song với lĩnh hội
kiến thức đơn thuần.
Tình huống có ý nghĩa đối với HS là những tình huống gần gũi với HS
hoặc gần gũi với tình huống mà HS sẽ gặp. Trong SGK, các tình huống có ý
nghĩa biểu hiện bằng tranh ảnh, bằng lời hoặc bằng sự kết hợp của hình ảnh,
lời, các thí nghiệm, trò chơi.
Tình huống tích hợp là tình huống có ý nghĩa phức hợp, rất gần với các tình
huống tự nhiên mà HS sẽ gặp, trong đó có cả thông tin cốt yếu và thông tin
nhiễu và có vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học từ trước.

thế giới hiện nay có tới hàng trăm cách định nghĩa về văn hóa. Song, về cơ
bản đều thống nhất coi văn hóa là những gì mà con người sáng tạo để hình
thành nên các giá trị, các chuẩn mực xã hội trong quá trình lao động, hoạt
động thực tiễn. Các giá trị chuẩn mực đó tác động, chi phối, điều chỉnh đời
14
sống tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực có sự hiện
diện của con người.
Theo quan điểm mác xít, nền tảng của lịch sử là hoạt động lao động của
con người và quá trình con người sáng tạo ra lịch sử cũng là quá trình con
người sáng tạo ra văn hóa. Vì vậy lao động cũng được xem là nguồn gốc của
văn hóa cho nên việc đưa ra một quan niệm về văn hóa nhất thiết phải căn cứ
vào hoạt động có tính đặc trưng này của con người. Điều này đã được các nhà
kinh điển của chủ nghĩa Mác quán triệt trong toàn bộ các luận giải của mình.
Quan điểm Mác xít cho rằng: Lao động là hoạt động mà ở đó xác lập và
thể hiện sâu sắc mối quan hệ giữa con người – tự nhiên, con người – xã hội và
con người – văn hóa. Văn hóa được quy định bởi phương thức để kiếm sống
và phương thức sử dụng các sản phẩm được tạo ra.
Bàn đến văn hóa và sự phát triển của văn hóa, chủ nghĩa Mác còn thừa
nhận, với tư cách là một hệ giá trị, văn hóa bị tri phối bởi những điều kiện lịch
sử, bởi năng lực thực hiện “lực lượng bản chất người”. Vì vậy, mỗi bước tiến
của lịch sử là một bước tiến tương ứng của văn hóa. Và mặc dù hệ giá trị của văn
hóa rất đa dạng, luôn luôn biến đổi cùng lịch sử nhưng hệ giá trị đó bao giờ cũng
dịch chuyển về phía chủ nghĩa nhân đạo mà hằng số là chân – thiện – mỹ.
Mác vạch rõ nguồn gốc văn hóa gắn liền với năng lực sáng tạo của con
người, sự sáng tạo đó bắt nguồn từ lao động. Văn hóa là sự “thăng hoa” của
sản xuất vật chất, ông cho rằng người ta có thể căn cứ vào mức độ tự nhiên
được con người khai thác chuyển biến thành bản chất con người như thế nào
để đánh giá trình độ văn hóa.
Như vậy có thể nói việc con người tạo ra “thiên nhiên thứ hai” theo quy
luật của cái đẹp là cái thuộc tính bản chất, quy định cái văn hóa trong hoạt động

Unesco thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội,
có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. Nó không những là yếu tố
16
nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển của
xã hội. Văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách
riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác.
Nói đến bản chất của văn hóa, Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa thế
giới có quan niệm về văn hóa rất rộng, Người đưa ra một định nghĩa ở cấp độ
khái quát về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh
hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phương thức sử dụng, toàn bộ những
sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi
phương thức sinh hoạt với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm
thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” [32; 431].
Trong quan niệm của Đảng ta, văn hóa là một lĩnh vực thực tiễn của
đời sống xã hội, nó cũng có quy luật vận động phát triển riêng, trong đó tính
dân tộc được coi là thuộc tính cơ bản của văn hóa, phản ánh mối quan hệ giữa
dân tộc và văn hóa trong điều kiện dân tộc đã hình thành.Tính dân tộc là nội
dung quan trọng luôn được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu.Trong Bản đề
cương văn hóa (1943) Đảng ta khẳng định nền văn hóa mới, phải đảm bảo
tính dân tộc, tức là bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của văn hóa
dân tộc. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong suốt quá trình tiến
hành cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa, Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII
quan điểm đó được cụ thể hóa trong Nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Gần đây tại Đại hội IX,
Nghị quyết Đại hội một lần nữa khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển
xã hội” [10;114].
Hội nghị Trung ương 9 khóa XI chỉ rõ: phải tiếp tục kế thừa, bổ sung

18
Như vậy, nói đến văn hóa là nói đến con người. Lịch sử văn hóa là lịch
sử của con người và loài người. Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho
con người trở thành Người. Điều đó có nghĩa là tất cả những gì liên quan đến
con người, đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi
là văn hóa. Có thể nói, văn hóa là sự phát triển lực lượng vật chất và tinh thần,
là sự thể hiện những lực lượng đó trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực
sản xuất tinh thần của con người. Từ đó, văn hóa được chia làm hai lĩnh vực
cơ bản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ
có tính chất tương đối, bởi cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ
là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh thần
không phải bao giờ cũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thường
được “vật thể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất. Ngoài ra, còn các giá trị
tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể, nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất
khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối
sống, phong tục tập quán…
Từ một số khía cạnh đã trình bày trên đây, chúng tôi đưa ra quan niệm về
văn hóa như sau: Văn hóa là năng lực sáng tạo, là thái độ, phương thức sống,
phương thức hoạt động mang tính nhân đạo của con người nhằm tạo ra các giá
trị vật chất, tinh thần, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
* Bản sắc văn hóa dân tộc
Bản sắc văn hóa theo nghĩa ban đầu “bản của một sự vật” là cái gốc, cái
căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của sự vật; còn “sắc của một sự vật” là cái
biểu hiện ra bên ngoài của sự vật đó. Theo từ điển Tiếng việt bản sắc là “màu
sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính” [49; 31].
Có quan điểm cho rằng bản sắc là tính chất đặc biệt vốn có tạo thành
phẩm cách riêng…Như vậy theo quan điểm này bản sắc của một sự vật là
những đặc điểm riêng biệt chỉ có ở sự vật ấy.
19
Theo cách hiểu của chúng tôi, mỗi sự vật có nhiều thuộc tính (tính chất,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status