Một số giải pháp nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại cty KD khí hỏa lỏng miền Bắc - Pdf 29

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Mục lục
Nội dung Trang
Mục lục 1
Lời nói đầu 3
Chương I: Lý luận chung về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh
nghiệp
6
1.1. Thực Chất vai trò của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh
nghiệp
6
1.1.1. Quản lý 6
1.1.2. Bộ máy cơ cấu tổ chức quản lý 6
1.2. Nguyên tắt đối với việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản
lý doanh nghiệp
9
1.2.1. Những yêu cầu 9
1.2.2. Những nguyên tắc 10
1.2.3. Mối liên hệ trong cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp 11
1.3. Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp 12
1.3.1. Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp 12
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh
nghiệp
30
1.4. Những phương pháp hình thành cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 31
1.4.1. Phương pháp tương tự 31
1.4.2. Phương pháp phân tích theo yếu tố 32
1.4.3. Phương pháp dựa trên mối liên hệ trong cơ cấu tổ chức bộ máy 35
Chương II: Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty
Kinh doanh khí hoá lỏng Miền Bắc
36

3.2. Sắp xếp lại một số bộ phận phù hợp hơn với nhiệm vụ và đặc
điểm sản xuất kinh doanh
76
3.3. Nâng cao trình độ của cán bộ nhân viên thông qua công tác đào
tạo, tuyển dụng, tuyển chọn nhân viên
77
3.4. Xây dựng tiêu chuẩn cho cán bộ 78
3.5. Cải thiện điều kiện làm việc của lao động quản lý 80
Lời Kết 82
Tài liệu tham khảo 83
LỜI NÓI ĐẦU
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
1. Tính cấp thiềt của đề tài
Hiện nay, Việt Nam đã chính thức là thành viên của ASEAN, của tổ chức thương
mại thế giới WTO và từ đầu năm 2005, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ cũng
được thực thi. Xu thế hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế thế giới này đã và đang
tạo ra nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho kinh tế Việt
Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Các doanh nghiệp nước
ta hiện nay đang phải đối mặt với các khó khăn từ nhiều phía nhưng trở ngại lớn
nhất là sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp khác trong và ngoài nước.
Muốn tạo được chỗ đứng và khẳng định vị trí của mình trên thương trường,
doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua việc khai
thác tối đa tiềm năng từ các nguồn lực sẵn có. Nhưng để làm được điều đó trước
tiên doanh nghiệp cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý. Đây là một yêu cầu mang tính
khách quan mang tính cấp thiết đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Bởi bộ máy
quản lý là cơ quan đầu não của doanh nghiệp, là nơi đưa các chủ trương, Nhưng
để làm được điều đó, trước tiên doanh nghiệp cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
Đaay là một yêu cầu khách quan mang tính cấp thiết đối với bất kỳ doanh nghiệp
nào, là nơi đua ra các chính sách, đường nối hoạt động cho toàn doanh nghiệp.

Hoá Lỏng Miền Bắc.
Phần 3: Một số giải pháp nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức
bộ máy quản lý tại Công Ty Kinh Doanh Khí Hoá Lỏng Miền Bắc.
6. Ý nghĩa
- Về mặt lý luận: Đã hệ thống hoá về mặt lý luận cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
trong doanh nghiệp.
- Về mặt thực tiễn: Giúp công ty khí hoá lỏng Miền Bắc đề ra những giải pháp
trong việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại công ty, giúp công ty
vượt qua những khó khăn trước mắt.
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Do thời gian thực tập và trình độ bản thân còn hạn chế, khoá luận không tránh
khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong được sự góp ý, giúp đỡ của các thầy cô
và cấp lãnh đạo công ty khí hoá lỏng Miền Bắc.
Em xin chân thành cảm ơn cô TS Hồ Thị Bích Vân và ban lãnh đạo công ty
khinh doanh khí hoá lỏng Miền Bắc đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành khóa
luận này.
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1.Thực chất của cơ cấu tổ chức bộ máy trong doanh nghiệp
5
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
1.1.1. Quản lý
Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hợp tác lao động. Mác cho
rằng, quản lý xuất hiện như là một kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều lao
động tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình lao động xã hội, có nghĩa là
lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô lớn đều có sự chỉ đạo để điều
hoà một vấn đề, các hoạt động cá nhân, các mục đích cá nhân. Sự chỉ đạo đó

Thực chất của quản lý doanh nghiệp là quản lý con người, yếu tố cơ bản của lực
lượng sản xuất thông qua đó sử dụng hợp lý các tiềm năng, cơ hội của doanh
nghiệp vì con người được xem là nguồn lực của mọi nguồn lực. Quản lý là nhân
tố hết sức quan trọng để nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế của
sản xuất kinh doanh.
Mục đích của cơ cấu tổ chức là nhằm lập ra một hệ thống chính thức gồm các vai
trò, nhiệm vụ mà con người có thể thực hiện sao cho có sự cộng tác thồng nhất
để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp
1.1.3. Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là loại hoạt động riêng biệt của lao động quản lý, thể hiện
những phương hướng tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Việc
xác định đúng đắn chức năng quản lý là tiền đề cần thiết, khách quan để quản lý
doanh nghiệp theo hướng chuyên, tinh, gọn, nhẹ và có hiệu lực.
Có hai loại chức năng quản lý:
Một là: phân loại theo nội dung và quá trình quản lý
Theo chuyên gia nổi tiếng về quản trị doanh nghiệp H.Fayd, quản lý có thể bao
gồm các chức năng chủ yếu sau:
- Chức năng dự báo: Nhằm lựa chọn chiến lược dài hạn, trả lời được ba câu hỏi
cơ bản của doanh nghiệp: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất như thế nào?
- Chức năng tổ chức: Nhằm sắp xếp, bố trí tận dụng mọi nguồn lực trong nội bộ,
thực hiện bổ nhiệm các chức vụ quản lý.
7
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
- Chức năng phối hợp: Nhằm đảm bảo kết hợp các mặt hoạt động tạo sự hài hoà,
cân đối tối ưu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Chức năng chỉ huy: Nhằm thúc đẩy bộ máy hoạt động nhịp nhàng, đúng hướng,
giải quyết các khó khăn vướng mắc một cách dễ dàng
- Chức năng kiểm tra: Nhằm xem xét lại các chỉ thị, mệnh lệnh mà ban lãnh đạo
doanh nghiệp đã ban hành, phân tích sự ăn khớp giữa thực tiễn hoạt động với

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là hạt nhân trung tâm, ảnh hưởng trực tiếp tới sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ
chức bộ máy quản lý phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Tính tối ưu:
Giữa các khâu và các cấp quản trị đều thiết lập những mối quan hệ hợp lý với số
lượng cấp quản lý ít nhất không thừa, không thiếu, không chồng chéo chức năng
nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng,đảm bảo thông suốt, không bị sai lệch trong việc ra
quyết định để bộ máy quản trị luôn đi sát phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh
được liên tục và phát triển
- Tính linh hoạt:
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp phải có khả năng thích ứng với
mọi tìm huống, mọi sự biến động, mọi hoàn cảnh nhằm đáp ứng một cách mau
lẹ, kịp thời trong công tác quản lý của doanh nghiệp cũng như cơ cấu tổ chức bộ
máy có khả năng sáng tạo, chủ động, linh hoạt, thích ứng với sự biến động của
thị trường.
- Tính tin cậy:
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải đảm bảo các thông tin được doanh nghiệp
sử dụng là chính xác, đạt hiệu quả. Nhờ đó mà sự phối hợp hoạt động nhiệm vụ
của các phòng ban bộ phận trong việc sản xuất kinh doanh được nâng cao. Muốn
vậy, cơ cấu tổ chức bộ máy phải được cấu thành bởi nhũng người có năng lực và
phẩm chất tốt.
9
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
- Tính kinh tế:
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải sử dụng chi phí quản trị sao cho đạt hiệu
quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất có thể. Tiêu chuẩn để xem xét yêu cầu
này là mối tương quan giữa chí phí dự định bỏ ra và kết quả thu về.
- Phải đảm bảo chế độ một thủ trưởng:
Yêu cầu này nhằm đảm bảo tính tập trung dân chủ trong doanh nghiệp. Thực

phải phù hợp với quy mô sản xuất thích ứng với đặc thù kỹ thuật của doanh
nghiệp, phải chuyên sâu, tinh gọn và rõ ràng. Đồng thời hoàn thành đầy đủ mọi
chức năng quản lý được đưa ra nhanh nhất, khoa học nhất, sát với thực tiễn,đáp
ứng nhiệm vụ và mục tiêu của doanh nghiệp theo hướng phát triển.
1.2.3. Các mối liên hệ trong cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp
Một Vấn đề quan trọng trong xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là xác
định một cách đúng đắn và rõ ràng các loại liên hệ giữa các bộ phận, các cấp, các
nhân viên quản lý và doanh nghiệp. Nhìn chung trong thực tế, một tổ chức
thường có ba loại liên hệ đó là:
- Liên hệ trực thuộc: Là loại liên hệ giữa thủ trưởng và nhân viên trong bộ phận;
Giữa cán bộ có vị trí chỉ huy trực tuyến cấp trên và cấp dưới.
- Liên hệ chức năng: Là loại liên hệ giữa các bộ phận chức năng với nhau trong
quá trình chuẩn bị quyết định cho thủ trưởng hoặc giữa các bộ chức năng cấp
trên với cán bộ nhân viên chức năng cấp dưới nhằm hướng dẫn, giúp đỡ về
chuyên môn nghiệp vụ.
- Liên hệ tư vấn: Là loại liên hệ giữa cơ quan lãnh đạo chung, giữa cán bộ chỉ
huy trực tuyến với các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật, pháp chế với các hội đồng
được tổ chức theo từng loại công việc.
Trên cơ sở xác định đúng đắn, hợp lý những loại liên hệ nói trên, mỗi bộ phận,
cá nhân trong cơ cấu tổ chức quản lý nhận rõ nhiệm vụ, vị trí của mình.
1.3. Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
11
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
1.3.1. Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
- Cơ cấu tổ chức thể hiện hình thức cấu tạo của tổ chức, bao gồm các bộ phận
mang tính độc lập tương đối thực hiện những hoạt động nhất định. Việc hình
thành các bộ phận của cơ phản ánh quá trình chuyên môn hoá và hợp nhóm chức
năng quản lý theo chiều ngang, nếu không biết cách phân chia tổ chức thành các
bộ phận thì sự hạn chế về số thuộc cấp có thể quản lý trực tiếp sẽ hạn chế quy

Giám Đốc
Trợ lý giám đốc
Trưởng phòng nhân sự
Phó giám đốc Marketing
Phó giám đốc
kỹ Thuật
Phó giám đốc
Sản xuất
Phó giám đốc
Tài chính
Ngiên cứu thị trường
Quản lý kỹ thuật
Lập kế hoạch sản xuất
Lập kế hoạch Tài chính
Lập kế hoạch Marketing
Quảng cáo
Quản lý bán hàng
Thiết kế
Dụng cụ
Kỹ thuật điện
Phân xưởng 1
Kỹ thuật cơ khí
Phân xưởng 2
Kế toán chi phí
Bán hàng
Kiểm tra chất lượng
Phân xưởng 3
Thống kê và xử lý số liệu
Sơ đồ1: Mô hình tổ chức bộ phận theo chức năng
1.3.1.2. Mô hình tổ chức theo bộ phận địa dư

Sơ đồ 2: Mô hình tổ chức bộ phận theo địa dư
- Những ưu điểm của mô hình này là:
+ Chú ý đến nhu cầu của thị trường và những vấn đề địa phương
+ Có thể phối hợp hành động của các bộ phận chức năng và hướng các hoạt động
này vào các thị trường cụ thể
+ tận dụng được hiệu quả của các nguồn lực và hoạt động tại địa phương
+ có được thông tin tốt hơn về thị trường
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
+ tạo điều kiện thuận lợi để đào tạo các cán bộ quản lý chung
- Những nhược điểm của mô hình này là:
+ Khó duy trì hoạt động thực tế trên diện rộng của tổ chức một cách nhất quán
+ Đòi hỏi phải có nhiều cán bộ quản lý
+ Công việc có thể bị trùng lặp
+ Khó duy trì việc ra quyết định và kiểm tra một cách tập trung
1.3.1.3. Một cách hợp nhóm bộ phận theo sản phẩm
Việc hợp nhóm các hoạt động và đội ngũ nhân sự theo sản phẩm hoặc tuyến sản
phẩm đã từ lâu có vai trò nagỳ càng tănng trong lòng các tổ chức quy mô lớn với
nhiều dây truyền công nghệ ví dụ: hãng Procter và Gamble đã từng sử dụng mô
hình này một cách có hiệu quả trong nhiều năm.
15
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
Tổng
giám
đốc
Phó
TGĐ
nhân
Phó
TGĐ

ế
B
á
sả
n
S

B
á
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Sơ đồ 3: Mô hình tổ chức bộ phận theo sản phẩm
- Những ưu điểm của mô hình này là:
+ Việc quy định trách nhiệm đối với các mục tiêu cuối cùng tương đối dế dàng
+ việc phối hợp hành động giũa các phòng ban chức năng vì mục tiêu cuối cùng
có hiệu quả hơn
+ Tạo khả năng tốt hơn cho việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý chung
+ Các đề xuất đổi mới công nghệ dế được quan tâm
+ có khả năng lớn hơn là khách hàng sẽ được tính tới khi đề ra quyết định
- Những nhược điểm tiềm ẩn của mô hình này là:
+ Sự tranh giành ngồn lực giữa các tuyến sản phẩm có thể dẫn đến phản hiệu quả
+ Cần nhiều người có năng lực quản lý chung
+ Có su thế làm cho việc thực hiện các dịch vụ hỗ chợ tập chung chở nên khó
khăn
+ làm nảy sinh khó khăn đối với việc kiểm soát của cấp quản lý cao nhất
1.3.1.4. Mô hình tổ chức bộ phận theo khách hàng ở một công ty thương mại
- Những nhu cầu mang đặc trưng riêng của khách hàng đối với các sản phẩm và
dịch vụ đã dẫn nhiều nhà cung ứng đến với việc hình thành bộ phận duạe trên cơ
sở khách hàng. Ví dụ một trường đại học có các lớp học buổi tối để thu hút
những người có nhu cầu học tập nhưng không thể đến trường vào ban ngày. Các
hoạt động quyên góp cứu tế được sắp sếp trên cơ sở phân loại những nhóm

Những nhược điểm này có thể được khắc phục một cách đáng kể nếu mô hình tổ
chức theo khách hàng được sử dụng để bổ trợ cho các mô hình khác chứ không
dùng như một mô hình tổ chức chính
1.3.1.5. Mô hình tổ chức theo đơn vị chiến lược ở một ngân hàng lớn
- Khi mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức đã trở nên quá phức tạp, ngăn
cản sự phối hợp, các nhà lãnh đạo cấp cao sẽ tìm cách tạo nên các đơn vị chiến
lược mang tính độc lập cao, có thể tự tiến hành các hoạt động thiết kế, sản xuất
17
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
và phân phối sản phẩm của mình. Về thực chất, mô hình tổ chức bộ phận theo
đơn vị chiến lược là biến thể của các mô hình tổ chức bộ phận theo sản phẩm,
địa dư hoặc khách hàng. Các đơn vị chiến lược là những phân hệ độc lập, đảm
nhận một hay một số nghành nghề khác nhau, với những nhà quản lý quan tâm
trước hết tới sự vận hành của đơn vị mình và rất có thể còn được cạnh tranh với
các đơn vị khác trong tổ chức. Tuy nhiên, có một đặc trưng cơ bản để phân biệt
đơn vị chiến lược với các tổ chức độc lập, đó là người lãnh đạo đơn vị chiến lược
phải báo cáo với cấp lãnh đạo cao nhất của tổ chức
- Cơ cấu tập đoàn là một dạng của mô hình tổ chức theo đơn vị chiến lược, với
hình thức đặc biệt nhất là các công ty mẹ nắm giữ cổ phần (Holding Company),
quy tụ những hoạt động không liên kết.
Tổng giám đốc
Ngân hàng phát triển đô thị
Ngân hàng cho vay bất động sản và thừa kế
Ngân hàng hợp tác xã
Ngân hàng nông nghiệp
Ngân hàng sự nghiệp
Sơ đồ 5: Mô hình tổ chức bộ phận theo đơn vị chiến lược ở một ngân hàng
lớn
- Ưu điểm của mô hình là:

Phân xưởng sợi
Phân xưởng dệt
Phân xưởng nhuộm
Sơ đồ 6: Mô hình tổ chức bộ phận theo quá trình
1.3.1.7. Mô hình tổ chức theo dịch vụ hỗ trợ tại một công ty sản xuất đa sản
phẩm
- Để thực hiện các hoạt động cơ bản của tổ chức marketing, R&D, tài chính, sản
xuất, cần có các dịch vụ “hậu cần” như thông tin, pháp luật, quan hệ giao dịch,
hỗ trợ giao dịch v.v. Những dịch vụ ấy có thực hiện một cách phi tập trung tại
19
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
các bộ phận chính, nhưng cũng có thể được tập hợp lại trong một bộ phận
chuyên môn hoá nhằm mục đích tận dụng lợi thế quy mô hay nâng cao khả năng
kiểm soát.
- Ưu điểm của mô hình này là tiết kiệm được chi phí do lợi thế quy mô của các
hoạt động được chuyên môn hoá và sử dụng được các chuyên gia giỏi với tư
cách những tham mưu.
- Nhược điểm lớn nhất là nguy cơ gây tốn kém nhiều hơn cho các bộ phận được
phục vụ, tạo nên “tính phí hiệu quả của hiệu quả” và có vấn đề trong việc đạt
được dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của các bộ phận được phục vụ. Những
nhược điểm trên có thể khắc phục được nếu những người ở bộ phận dịch vụ hiểu
được rằng nhiệm vụ của họ là hỗ trợ các bộ phận khác thực hiện mục tiêu chung
của tổ chức chứ không phải chỉ là tiết chi phí khi thực hiện các dịch vụ. Có một
cách để đảm bảo rằng mọi người sẽ tỏ ra biết điều hơn khi đòi hỏi sự phục vụ
phải nộp phí tổn. Cần bố trí các bộ phận dịch vụ gần các đối tượng được phục
vụ, và không bao giờ nên coi nhẹ khả năng sử dụng các dịch vụ từ bên ngoài.
Giám đốc
Phòng giám đốc marketing
Phòng giám đốc R&D

Phó TGĐ marketing
Phó TGĐ kỹ thuật
Phó TGĐ tài chính
Phó TGĐ sản xuất
trưởng phòng thiết kế
trưởng phòng
cơ khí
trưởng phòng
điện
chủ nhiệm đề án A
chủ nhiệm đề án B
chủ nhiệm đề án C
21
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
trưởng phòng
thuỷ lực
Sơ đồ 8: Tổ chức bộ phận theo ma trận trong kỹ thuật
1.3.1.9. Mối quan hệ quyền hạn trực tuyến và tham mưu
- Quyền hạn là chất kết dính trong cơ cấu tổ chức, là sợi dây liên kết các bộ phận
với nhau, là phương tiện mà nhờ đó các nhóm hoạt động được đặt dưới sự chỉ
huy của một nhà quản lý, và sự phối hợp giữa các đơn vị có thể được nâng cấp
dần. Nó chính là công cụ để nhà quản lý có thể thực hiện quyền tự chủ và tạo ra
môi trường thuận lợi việc thực hiện nhiệm vụ của từng người. Trong tổ chức
quyền hạn chia làm ba loại: Quyền hạn trực tuyến, quyền hạn tham mưu và
quyền hạn chức năng, được phân biệt chủ yếu bằng mối quan hệ với quá trình
quyết định.
a. Quyền hạn trực tuyến
- Quyền hạn trực tuyến là quyền hạn cho phép người quản lý ra quyết định và
giám sát trực tiếp đối với cấp dưới. Đó là mối quan hệ quyền hạn cấp trên và cấp

phức tạp trong việc nhận thức nó có thể dẫn đến một số vấn đề nhất định trong
thực hành như:
Tổng giám đốc
Trợ lý tổng giám đốc
PTGĐ
Marketing
Quản lý
nhân sự
23
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
Quản

vật tư
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Quản đốc A
PTGĐ
Sản xuất
PTGĐ
Tài chính
Quản lý sản xuất
Quản đốc B
Quản đốc C
Luồng quan hệ trực tuyến
Quan hệ tham mưu
Sơ đồ 9: Mối quan hệ quyền hạn trực tuyến và tham mưu
- Nguy cơ xói mòn quyền hạn trực tuyến, nếu các tham mưu quên mất rằng họ
cần góp ý chứ không phải ra lệnh, nếu họ bỏ qua một thực tế là giá trị của họ
nằm ở chỗ giúp thêm sức mạnh cho những người quản lý trực tuyến. Có quá
nhiều trường hợp, vị lãnh đạo lập ra một số vị trí tham mưu, khoác lên mình họ
những quyền hạn (thường là rất mơ hồ), và ra lệnh cho tất cả các nhà quản lý

lối sống lành mạnh trong tổ chức. Chủ yếu, nhiệm vụ của các tham mưu là làm
cho những nhà quản lý trực tuyến trở nên “dế coi” và giúp họ làm tốt công việc.
Các tham mưu phải giành và giữ được sự tin cậy của những người cùng cộng tác.
Họ phải có được tiếp xúc chặt chẽ với các bộ phận tác nghiệp và hiểu được mọi
vấn đề của các bộ phận này. Bằng thực tế, họ phải thuyết phục được những đồng
nghiệp trực tuyến của mình rằng mối quan tâm chủ yếu của họ là vì quyền lợi
của người quản lý tác nghiệp. Họ phải khiên tốn nhìn nhận sự đóng góp của
chính mình, khi tô vẽ cho đóng góp của những người mà họ trợ giúp. Những
người ở cương vị tham mưu sẽ thành công trong vai trò của mình một khi những
nhà quản lý viên trực tuyến tìm kiếm sự cố vấn của họ, và yêu cầu họ tìm hiểu
những vấn đề khúc mắc.
25
Sinh viên: Lê Mạnh Hà

Trích đoạn Phòng Kinh doanh Phòng Kỹ thuật Phòng An toàn chất lượng Kho LPG Hải phòng Mối quan hệ giữa các đơn vị trong Công ty Kinh doanh hoá lỏng Miền Bắc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status