LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sĩ đề tài “Giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn tại
huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam trong giai đoạn hiện nay” được tác giải nghiên cứu lần
đầu tiên . Kết quả, số liệu trích dẫn và giới thiệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu hoàn toàn độc lập, những kết quả này chưa
từng được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào.
Học viên
Đinh Thị Thu Hà
I
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa hiện đại hóa
GQVL : Giải quyết việc làm
GTVL : Giới thiệu việc làm
LLLĐ : Lực lương lao động
LĐ – TB&XH: Lao động – Thương binh và Xã hội
II
MỤC LỤC
* Số lượng lao động nông thôn được đào tạo trên địa bàn huyện trong thời gian qua 58
* Ngành nghề đào tạo cho lao động nông thôn huyện Kim Bảng 61
III
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
2.1.2.1. Tình hình sử dụng đất đai 37
* Số lượng lao động nông thôn được đào tạo trên địa bàn huyện trong thời gian qua 58
* Ngành nghề đào tạo cho lao động nông thôn huyện Kim Bảng 61
IV
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm và giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan
trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực
lượng lao động lớn như ở Việt Nam. Giải quyết việc làm hiệu quả là tiền đề
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giải quyết việc làm là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
nhiều địa phương trong cả nước cũng như các quốc gia. Do vậy, đến nay đã
có nhiều công trình nghiên cứu về lao động, việc làm trong và ngoài nước.
Tiêu biểu như:
- Đề tài cấp nhà nước 70 A.02.02 “Sử dụng nguồn lao động và giải
quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần”, của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Hà Nội, 1994.
- “Thị trường sức lao động thực trạng và giải pháp” của Phó Tiến sĩ
Nguyễn Quang Hiền, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 1995.
- Thị trường lao động ở Việt Nam, định hướng và phát triển của Thạc
sĩ. Nguyễn Thị Lan Hương, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2002
Các tác giả cho vấn đề việc làm cho người lao động và thất nghiệp là
một trong những vấn đề toàn cầu, đề ra phương pháp tiếp cận tổng quát về
chính sách việc làm, hệ thống khái niệm về lao động, việc làm, đánh giá thực
trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam. Nội dung của các công trình đã đề xuất hệ
thống các quan điểm, phương hướng giải quyết việc làm và khuyến nghị, định
hướng một số chính sách cụ thể về việc làm trong công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở Việt Nam.
- Đề tài “Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải
quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
2
(2009) do PGS.TS Trần Văn Chử làm chủ nhiệm đề tài. Các cộng tác viên của
đề tài đã phân tích làm rõ mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với
giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Các tác giả cho rằng: việc nâng cao chất lượng nguồn lao động không chỉ
nhằm đáp ứng yêu cầu của phát triển, mà còn góp phần giải quyết việc làm,
giảm thất nghiệp. Từ đó, các nhà nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ lao động và giải quyết việc làm ở nước ta.
Cũng đã có rất nhiều bài báo, tạp chí nghiên cứu viết về thực trạng lao
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến giải
quyết việc làm của lao động nông thôn huyện Kim Bảng từ năm 2010-2013.
- Phạm vi nghiên cứu: giải quyết việc làm nông thôn huyện Kim Bảng
tỉnh Hà Nam giai đoạn 2010-2013 và đề xuất một số giải pháp cho những
năm tiếp theo.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương phápnghiên cứu sau:
- Phương pháp sử dụng những tài liệu thứ cấp: thống kê, mô tả, so sánh,
phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp khảo sát: điều tra lao động đang làm việc tại doanh
nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
6 Kết cấu của luận văn
4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIỆC LÀM VÀ GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1. Việc làm cho lao động nông thôn
1.1.1 Lao động nông thôn
Nông thôn là nơi sinh sống và làm việc chủ yếu của nông dân. Đây
cũng là nơi diễn ra nhiều loại việc làm trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
kinh tế xã hội.
* Khái niệm về lao động nông thôn:
Lao động nông thôn là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo
ra sản phẩm của những người sống ở nông thôn. Do đó, lao động nông thôn
bao gồm: lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch
vụ nông thôn.
* Đặc điểm cơ bản của lao động khu vực nông thôn
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có khác so với đặc điểm của các
ngành khác, vì vậy lao động nông thôn cũng có những đặc điểm khác với lao
động của các ngành kinh tế khác, biểu hiện ở các mặt sau
chưa gắn với sản xuất, với phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Hàng năm, đa
số thanh niên nông thôn đến độ tuổi lao động bổ sung vào nguồn lao động
không qua các trường lớp đào tạo nghề. Đây là yếu tố gây cản trở rất lớn đến
việc áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tăng năng suất lao động và sử
dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn lao động nông thôn nước ta hiện nay. Bên
cạnh đó, nguồn lao động nông thôn của nước ta đông về số lượng nhưng chất
lượng chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe trong bối cảnh đất nước
đang hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt khi đất nước đã gia nhập tổ chức WTO
6
mà trong đó nông nghiệp được xem là một trong những thế mạnh. Do đó, để
có một nguồn lao động với trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thì Nhà nước
cần phải có chính sách đào tạo, bồi dưỡng để có nguồn lao động đủ trình độ
để phát triển đất nước.
Thực tế đã cho thấy sức khỏe của người lao động liên quan đến lượng
calo tối thiếu cung cấp cho cơ thể mỗi ngày Nhìn chung người lao động ở
nông thôn nước ta có thu nhập thấp, dẫn đến những nhu cầu thiết yếu hàng
ngày chưa được đáp ứng được đầy đủ. Vì vậy, sức khỏe của lao động của cả
nước nói chung và của nông thôn nói riêng là chưa tốt.
+ Lực lượng lao động nông thôn đang giảm dần tỷ trọng
Lực lượng lao động nông thôn đang chuyển dịch theo hướng giảm dần
tỷ trọng lao động trong nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng lao động trong các
ngành công nghiệp và dịch vụ. Trên phạm vi cả nước từ 2005 đến năm 2010,
tỷ trọng lao động đang làm việc trong khu vực I (nông, lâm, thuỷ sản) giảm từ
57,10% năm 2005 xuống còn 51,5% năm 2010, bình quân giảm gần
0,9%/năm. Tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực II (công nghiệp) tăng từ
16,6% năm 2005 lên 19,2% năm 2010, bình quân tăng 0,43%/năm. Tỷ trọng
lao động làm việc trong khu vực III (dịch vụ) tăng từ 26,3% năm 2005 lên
29,3% năm 2010, bình quân tăng 0,5%/năm.
Trong quá trình CNH, HĐH mạnh mẽ như hiện nay thì sự chuyển dịch
lao động trên càng diễn ra nhanh chóng. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào
* Khái niệm việc làm. Việc làm hay hoạt động lao động sản xuất luôn
gắn liền với con người và xã hội loài người. Từ thủa khai thiên lập địa, con
người đã biết tìm kiếm ở thế giới xung quanh những sản phẩm phục vụ cho
nhu cầu bản thân. Khi xã hội loài người phát triển, những hoạt động lao động
sản xuất được phân chia thành những ngành nghề khác nhau và người lao
động lựa chọn nơi phù hợp với khả năng lao động của mình. Mỗi người tham
gia lao động sản xuất một việc cụ thể để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và
đóng góp cho xã hội.
8
Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và giải quyết việc
làm là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia. Sự tồn tại và phát triển
của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách giải quyết
việc làm. Với tầm quan trọng như vậy, việc làm được nghiên cứu dưới nhiều
góc độ khác nhau như kinh tế, xã hội học, lịch sử Việc làm là vấn đề kinh tế
xã hội phức tạp. Đây là công việc của mỗi cá nhân nhưng lại gắn liền với xã
hội. Có việc làm nghĩa là người lao động có thu nhập nuôi sống bản thân và
tạo ra một lượng của cải cho xã hội.
Việc làm là vấn đề có ý nghĩa kinh tế, xã hội và chính trị quan trọng
của mỗi quốc gia. Vì đó là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo sự phát
triển bền vững. Thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH cùng với xu thế hội nhập kinh
tế quốc tế đang tạo ra những cơ hội và thách thức đối với vấn đề việc làm.
Chính vì vậy, nhận thức đúng đắn về việc làm có ý nghĩa quan trọng tạo cơ sở
lý luận để đưa ra những giải pháp tích cực giải quyết việc làm, phát huy
nguồn lực lao động của xã hội.
Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, người
lao động Việt Nam được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân
trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc
doanh, tập thể). Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành
phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp Ngày
nay, quan điểm về việc làm đã được hiểu rộng hơn, đúng đắn và khoa học
thác các điều kiện tự nhiên sẵn có: Nông, lâm, ngư nghiệp và những ngành
sản xuất có liên quan. Người ở vùng duyên hải thì sống bằng nghề biển…
10
Việc làm ở nông thôn khá phong phú đa dạng với hàng trăm ngành
nghề khác nhau. Do đó, để tiện theo dõi người ta thường phân chia việc làm ở
nông thôn thành việc làm thuần nông và phi nông nghiệp.
Việc làm thuần nông là những việc làm trong lĩnh vực trồng trọt và
chăn nuôi. Trải qua nhiều năm phát triển thì đây vẫn là hai ngành sản xuất
chính của nông nghiệp nước ta. Trong đó, trồng trọt vẫn chiếm tỷ lệ cao 73%,
chăn nuôi chiếm 27%. Trong trồng trọt thì cây lương thực vẫn chiếm ưu thế
với 78,2% cơ cấu cây trồng, cây rau màu và cây công nghiệp chỉ chiếm
21,8%. Ở nông thôn chủ yếu là tận dụng nguồn thức ăn dư thừa chăn nuôi nhỏ
lẻ nên ngành này phát triển chưa tương xứng với tiềm năng.
Sản xuất mang tính chất mùa vụ, lặp đi lặp lại nên người lao động làm
theo kinh nghiệm, ít quan tâm đến việc cải tiến, sáng tạo… làm cho năng suất
và hiệu quả công việc không có sự tăng trưởng đột biến. Quá trình đó cứ diễn
ra hàng ngàn năm làm cho sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn trở nên
chậm chạp. Bởi vậy, tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xóa
bỏ được trong quá trình sản xuất. Chúng ta chỉ có thể tìm cách làm giảm tính
thời vụ của sản xuất nông nghiệp. Từ đó đặt ra vấn đề cho việc sử dụng các
yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đặc biệt là vấn đề sử dụng lao động
nông thôn một cách hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng. Do sản xuất mang tính
mùa vụ nên ở nông thôn sẽ thiếu việc làm trong lúc nông nhàn. Trong khi đó,
quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ dẫn đến một diện tích không nhỏ đất
nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng làm cho người nông dân bị mất
tư liệu sản xuất cùng với trình độ học vấn, tay nghề và khả năng thích ứng
thấp họ sẽ khó khăn khi tìm kiếm việc làm. Như vậy, trong quá trình CNH,
HĐH thì người lao động làm việc thuần nông đứng trước nguy cơ thất nghiệp
cao nhất.
11
những người đang làm việc có mức thu nhập dưới mức lương tối thiểu và họ
có nhu cầu làm thêm” hoặc “Thiếu việc làm còn được gọi là bán thất nghiệp
hoặc thất nghiệp trá hình là hiện tượng người lao động có việc làm ít hơn mức
mà mình mong muốn”. Như vậy, người thiếu việc làm là người lao động đang
có việc làm nhưng họ làm việc không hết thời gian theo pháp luật quy định
hoặc làm những công việc mà tiền lương thấp không đáp ứng đủ nhu cầu của
cuộc sống, họ muốn tìm thêm việc làm để bổ sung thu nhập.
ILO cũng khuyến nghị các nước dùng khái niệm người thiếu việc làm
hữu hình (dạng nhìn thấy được) và dạng người thiếu việc làm vô hình (khó
xác định). Thiếu việc làm hữu hình: Là khái niệm để chỉ hiện tượng người lao
động làm việc có thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm đang tìm
kiếm thêm việc làm và sẵn sàng để làm việc. Tình trạng việc làm hữu hình
được biểu thị bởi hàm số sử dụng thời gian lao động như sau:
K =
Số giờ làm việc thực tế
x 100%
Số giờ quy định
(Tính theo ngày, tháng, năm)
Thiếu việc làm vô hình là những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian
thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp. Nguyên
nhân của tình trạng này là do tay nghề hoặc kỹ năng của người lao động thấp
không sử dụng hết khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động tồi, tổ chức
lao động kém. Thước đo khái niệm thiếu việc làm vô hình là mức thu nhập
thấp hơn mức lương tối thiểu.
13
Nguyên nhân thiếu việc làm 1) Do nền kinh tế chậm phát triển, diện
tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp và giảm dần do đô thị hoá. 2)
Do lực lượng lao động tăng quá nhanh, trong khi đó số chỗ làm việc mới tạo
ra quá ít, do trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề của người lao động còn
thấp kém. 3) Do tính chất thời vụ, thời tiết khí hậu, do chính sách đầu tư chưa
giá trị sản xuất giảm dần, hầu hết các nhà sản xuất giảm sản lượng cầu đối với
các đầu vào, trong đó có lao động. Đối với loại thất nghiệp này, những chính
sách nhằm khuyến khích tăng cầu thường mang lại kết quả tích cực. 2) Xét về
tính chủ động của người lao động, thất nghiệp có thể chia thành i) Thất
nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người lao
động không muốn làm việc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh con) thất
nghiệp loại này thường gắn với thất nghiệp tạm thời. ii) Thất nghiệp không tự
nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người lao động chấp
nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái, cung lớn hơn cầu
về lao động. 3) Ngoài thất nghiệp hữu hình (thất nghiệp tự nguyện và không
tự nguyện) còn tồn tại thất nghiệp trá hình- xuất hiện khi người lao động được
sử dụng ở dưới mức khả năng mà bình thường người lao động sẵn sàng làm
việc. Hiện tượng này xảy ra khi năng suất lao động của một ngành nào đó
thấp. Thất nghiệp loại này thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian
lao động. 3) Xét theo hình thức thất nghiệp có thể chia thành i) Thất nghiệp
theo giới tính: Là loại thất nghiệp của lao động nam (hoặc nữ) ii) Thất nghiệp
chia theo lứa tuổi: Là loại thất nghiệp của một lứa tuổi nào đó trong tổng số
lực lượng lao động iii) Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ: Là hiện tượng
thất nghiệp xảy ra thuộc vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn, đồng bằng, miền
núi…) iiii) Thất nghiệp chia theo ngành nghề: Là loại thất nghiệp xảy ra ở
một ngành nghề nào đó.
15
1.1.2.3. Một số học thuyết kinh tế về việc làm
Quan niệm của Đảng cộng sản Việt Nam về lao động, việc làm, việc
làm ở nông thôn. Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) xác định “Nhà
nước cố gắng tạo thêm việc làm và có chính sách để người lao động tự tìm
việc làm”. Đây là khâu đột phá có tính cách mạng trong lĩnh vực việc làm ở
nước ta: Nhà nước không bao cấp toàn bộ về việc làm mà bước đầu có sự kết
hợp với người lao động, gia đình và xã hội. Đến Đại hội lần thứ VII, lần đầu
tiên Đảng ta đã đưa ra phương hướng cơ bản và toàn diện về giải quyết việc
nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế và dần hình thành hệ thống quan điểm.
Ngay từ thời kỳ cổ Hy Lạp, những người nô lệ đã là bộ phận cơ bản
của lực lượng sản xuất. Tuy vậy, họ chỉ được coi là công cụ biết nói. Trong
thời kỳ này, thái độ coi khinh lao động chân tay và đề cao lao động quản lý
được Xenopone (430 - 354 TCN) đề cập đến trong học thuyết của mình. Đến
Platon (427 - 347 TCN) đã bước đầu có tư tưởng về phân công lao động.
Đến thời tây Âu cận đại, Wiliam Petty (1623 - 1687) thì cho rằng lao
động sản xuất là nguồn gốc sáng tạo ra của cải vật chất và tiền tệ. Adam
Smith (1723 - 1790) nhận thức rõ vai trò của lợi ích kinh tế là động lực thúc
đẩy xã hội phát triển. Ông đặc biệt đề cao vai trò của lao động và coi đây là
nhân tố quan trọng để tạo ra của cải của các nước Như vậy, đến giai đoạn
này những nhà kinh tế học đã nhận thức rõ vai trò của lao động và có quan
điểm khá đầy đủ về các yếu tố liên quan đến lao động, việc làm.
Thời tây Âu hiện đại, Keynes (1883 - 1946) xuất phát từ thực tế: việc
làm tăng kéo theo thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm tăng. Song tiêu dùng tăng
chậm mà tiết kiệm lại tăng nhanh dẫn đến tiêu dùng giảm. Tiêu dùng giảm
dẫn đến cầu có hiệu quả, quy mô sản xuất, việc làm, thu nhập đều giảm.
17
Muốn khắc phục điều này, phải có sự can thiệp của Nhà nước thông qua việc
duy trì cầu đầu tư. Mức độ cân bằng việc làm sẽ phụ thuộc vào khối lượng
đầu tư hiện tại. Khuynh hướng tiêu dùng phản ánh mối tương quan giữa thu
nhập với số dành cho tiêu dùng được rút ra từ thu nhập đó. Keynes cho rằng ở
những người có thu nhập thấp, thu nhập bao nhiêu, tiêu dùng bấy nhiêu. Khi
chuyển sang mức thu nhập cao, con người sẽ dành ra một phần cho tiết kiệm.
Số nhân là hệ số phản ánh mỗi một sự gia tăng của đầu tư sẽ khuếch đại thu
nhập lên bao nhiêu lần. Tăng đầu tư sẽ dẫn tới cầu bổ sung công nhân, quỹ
lương, tiêu dùng, giá cả, việc làm, thu nhập, đầu tư đều tăng. Theo Keynes,
nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp là do sự giảm sút của cầu có hiệu quả, thu
hẹp quy mô sản xuất, giảm việc làm và dẫn đến thất nghiệp. Giải pháp đưa ra
là tập trung vào kích cầu: đầu tư và tiêu dùng. Kích cầu sẽ mở rộng quy mô
của sản xuất, quan điểm về việc làm có nhiều phát hiện mới và phù hợp hơn
với thực tiễn lịch sử. Những nước đang phát triển như nước ta có thể học tập
và áp dụng những lý thuyết này vào thực tiễn.
1.2. Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
1.2.1. Khái niệm giải quyết việc làm
Tạo được việc làm cho người lao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn
gắn với quá trình phát triển kinh tế xã hội, phát huy sức mạnh tiềm năng của
con người, phát huy trí tuệ người lao động để tạo ra nhiều của cải cho xã hội.
Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ “Giải quyết việc làm là
yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh
tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức
xúc của nhân dân” [7], [12]quyết việc làm cho người lao động là cần thiết,
không những mang tầm quốc gia mà vượt ra bên ngoài khu vực và thế giới.
19
Tuỳ thuộc vào các cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau mà
người ta đưa ra khái niệm về giải quyết việc làm. Trong luận văn này, học
viên đưa ra khái niệm.
Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các
chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các
việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử
dụng lao động, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước.
Với khái niệm trên, việc giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ
chức năng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan
doanh nghiệp và ngay bản thân người lao động. Hiện nay, các chính sách của
Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến tạo công ăn việc làm cho người lao
động thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách
hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân sẵn sàng làm việc. Chính vì vậy, chính
sách nhà nước là một trong những tác động quan trọng rất mạnh đến việc làm
của người lao động như khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất
như giảm thuế tiền sử dụng đất, thuê nhà xưởng, văn phòng, hỗ trợ về cơ sở
Giải quyết việc làm tốt cho lao động nông thôn tạo ra tinh thần tích cực
làm việc cho người lao động, đồng thời mang lại thu nhập ổn định cho họ,
làm cho họ không nghĩ đến việc di chuyển lên các đô thị hoặc các vùng khác.
Hiện nay, các hộ gia đình có việc làm phi nông nghiệp thu nhập cao gấp 4 lần
so với hộ làm thuần nông. Do đó, việc làm phi nông nghiệp giúp tăng tỷ lệ hộ
giàu, tăng tích lũy, thuận lợi cho việc nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng, cải
thiện đời sống cho nhân dân. Bên cạnh đó việc làm phi nông nghiệp có vai trò
to lớn trong việc thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao
động theo hướng hiện đại: Tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch
vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp.
21