HỒI ỨC TUỔI THƠ TRONG TRUYỆNTHIẾU NHI CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH - Pdf 29

MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Từ những tác phẩm đặt nền móng quãng đầu thế kỉ XX cho đến nay, văn
học thiếu nhi ở Việt Nam đã có những bước tiến dài về mọi mặt. Bên cạnh
thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng không thể phủ nhận thực trạng sáng tác
cho các em hiện nay ngày càng khó khăn hơn. Trong thời đại “thế giới
phẳng”, văn học Việt Nam nói chung, văn học thiếu nhi nói riêng không tránh
khỏi quy luật cạnh tranh khốc liệt cả về phương thức lưu hành lẫn chất lượng
nghệ thuật với các tác phẩm ngoại nhập. Truyện tranh dài tập Nhật Bản
(manga) như Doraemon của Fujikô hay truyện huyễn tưởng, kì ảo như Harry
Potter của J.K Rowling, Chúa tể những chiếc nhẫn (The Lord of the Rings)
của J. R. R. Tolkien…. xuất hiện ồ ạt, có lúc lấn lướt sáng tác “nội địa”. Sự
tràn ngập của các tác phẩm văn học dịch đã và đang không ngừng tạo nên
những “cơn sốt” trong độc giả nhỏ khiến con đường giành lại cảm tình của
người đọc đối với văn học Việt vẫn còn là một thử thách cam go, đòi hỏi tâm
huyết, tài năng và sự nhạy cảm của những tác giả tận tụy hết mình với trẻ em.
Trong số những cây bút viết cho thiếu nhi hiện nay phải kể đến Nguyễn Nhật
Ánh. Được coi là "hoàng tử bé" trong thế giới trẻ thơ, anh đã có một số đầu
sách kỉ lục về lượng phát hành, có sức chinh phục mạnh mẽ độc giả nhỏ tuổi,
đạt nhiều giải thưởng cả trong nước và quốc tế. Hầu hết các sáng tác của anh
như Mắt biếc, Kính vạn hoa, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ đều tạo được dấu
ấn trong lòng công chúng, được tái bản nhiều lần và một số còn được dịch ra
tiếng nước ngoài. Là nhà sư phạm, người hoạt động đoàn thể kiêm nhà báo ,
dường như cuộc “tao phùng” giữa tác giả và văn học thiếu nhi là một cái
duyên hữu lý. Anh thuộc số những cây bút hiếm hoi được các em luôn ngóng
đến, tin tưởng, yêu quý. Sáng tác của anh cũng thực sự góp phần vào sự đổi
mới diện mạo văn học thiếu nhi nước ta vài chục năm nay.
1.2. Từ sau năm 1975, văn học Việt Nam tồn tại hiện tượng phổ biến là các
2

Xuất hiện trên văn đàn hơn hai mươi năm nay, với tư cách là nhà văn
viết cho tuổi nhỏ, Nguyễn Nhật Ánh đã góp phần làm khởi sắc văn học thiếu
nhi nước nhà. Từ thập niên 90 của thế kỉ XX, anh nổi lên như một “hiện
tượng tác giả” thu hút sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu, phê bình. Đã
có nhiều bài viết đăng tải trên báo, tạp chí, internet, các giáo trình, luận văn,
luận án nhìn nhận, đánh giá tác phẩm của anh ở nhiều phương diện khác
nhau. Do giới hạn thời gian, chúng tôi chưa thể có điều kiện bao quát tất cả
các công trình hiện có. Ở đây là mấy nét chính về tình hình nghiên cứu truyện
viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh.
Bài viết mang tính nghiên cứu tổng quát truyện Nguyễn Nhật Ánh phải
kể đến Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ – Đọc văn xuôi Nguyễn Nhật Ánh của
Nguyễn Thị Thanh Xuân đăng trên báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số
237 (ra ngày 26/12/1996). Theo tác giả bài viết, giá trị độc đáo của truyện
Nguyễn Nhật Ánh trước hết là thái độ vào cuộc của nhà văn, “nghĩa là
Nguyễn Nhật Ánh nắm rõ luật chơi, tuân thủ nghiêm chỉnh các quy ước tự
nhiên giữa những người trẻ tuổi”, “nói các ngôn ngữ họ nói, nghĩ những điều
họ nghĩ và thấy những gì họ nhìn thấy” [; 12]. Bên cạnh đó, yếu tố “cách kể,
cách đối thoại đã vượt lên nội dung câu chuyện (Bằng chứng là truyện
Nguyễn Nhật Ánh có nhiều cốt truyện gần giống nhau nhưng vẫn không bị
nhàm lặp)” và “ngôn ngữ văn chương chuẩn mực” [102; 28] cũng góp phần
tạo nên thành công của truyện Nguyễn Nhật Ánh.
Vũ Ân Thy trong Nguyễn Nhật Ánh – người bạn thân mến của độc giả
trẻ đăng trên báo Sài Gòn giải phóng (1997) đề cao tác phẩm của nhà văn xứ
Quảng “có sức hấp dẫn lạ và mới. Nó lôi cuốn thiếu nhi và có sức thuyết phục
người lớn có trách nhiệm với thế hệ trẻ” [85; 52]. Truyện Nguyễn Nhật Ánh
4
“luôn gần gũi như truyện dân gian cổ tích, như ước mơ của tuổi thơ mà lại
mang tính hấp dẫn hiện đại” [85; 52]. Cũng tiếp cận từ phương diện nội dung,
Vân Thanh trong Nguyễn Nhật Ánh nhà văn thân quý của tuổi thơ đăng trên
Tạp chí Văn học số 6- 1998 nhận định: “Nguyễn Nhật Ánh thông qua sự sống

Tiếp cận truyện Nguyễn Nhật Ánh từ vai trò, ý nghĩa giáo dục, Nguyễn
Hương Giang coi nhà văn xứ Quảng là Người nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ:
“Tính giáo dục sâu sắc trong các tác phẩm của anh rất tự nhiên, không khiên
cưỡng, bởi vì được viết với thái độ của người trong cuộc, giản dị, đầy trách
nhiệm” [39; 106]. Nhà văn của tuổi nhỏ mong muốn nuôi dưỡng tình cảm quê
hương, gia đình, bạn bè và di dưỡng phần tinh thần ấy trong tâm hồn trẻ thơ.
“Truyện Nguyễn Nhật Ánh là tiếng nói từ chính tâm hồn anh – một tâm hồn
còn trong sáng, thơ trẻ cho đến tận bây giờ” [39; 109]. Điều đó, theo Nguyễn
Hương Giang chính là điểm hấp dẫn, là sức lôi cuốn rất riêng để các em tìm
đến với tác giả.
Tại Hội thảo khoa học về ảnh hưởng của văn học thiếu nhi đến sự phát
triển nhân cách trẻ em trong thời kì đổi mới và hội nhập quốc tế do Đại học
Sư phạm Hà Nội tổ chức năm 2009, tên tuổi Nguyễn Nhật Ánh được nhắc tới
trong các bài tham luận như một cây bút tiêu biểu viết cho thiếu nhi. Lê
Phương Liên trong Viết cho thiếu nhi là viết cho tương lai khẳng định sức hút
của Nguyễn Nhật Ánh: “với tài năng mô tả tâm lí trẻ em và trình bày đời sống
sinh hoạt thiếu nhi học sinh vui tươi, hóm hỉnh, Nguyễn Nhật Ánh đã thực sự
là nhà văn được trẻ em cả nước đọc nhiều nhất” [57].
Cũng tại Hội thảo, với tham luận Từ “Thằng quỷ nhỏ” của Nguyễn
Nhật Ánh nghĩ về những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi, Trần
Văn Toàn tiếp cận truyện Nguyễn Nhật Ánh từ hình tượng nhân vật trong một
6
tác phẩm cụ thể để đưa ra kiến giải về phẩm chất cần có của sáng tác cho trẻ
thơ. Viết về Quỳnh – nhân vật chính trong Thằng quỷ nhỏ, tác giả nhận định:
“sự bất bình thường trong nhân dạng đã mặc nhiên ấn định cho sinh thể bé
nhỏ ấy sự bất bình thường trong nhân cách và vì thế ấn định vị thế của một kẻ
lạc loài trong mắt đồng loại” [92].
Năm 2013, cuốn Nguyễn Nhật Ánh – hoàng tử bé trong thế giới tuổi
thơ (Lê Minh Quốc biên soạn) ra đời giúp người đọc có cái nhìn khá đầy đủ
về tiểu sử, hành trình văn chương Nguyễn Nhật Ánh. Với tình cảm nồng hậu

Người lao động (1995), Nguyễn Nhật Ánh và Kính vạn hoa của Lê Phương
Liên trên Báo Tiền phong (1996), Quà xuân của các em – Bộ sách Kính vạn
hoa của Nguyễn Nhật Ánh được tái bản của Lê Hữu Bắc Sơn trên tạp chí
Giáo dục (2003) hay Nguyễn Nhật Ánh, vẫn thế, với “Lá nằm trong lá” của
Thụy Anh trên báo điện tử tuoitre.vn (2011), Nước mắt hồi sinh thế giới của
Lưu Khánh Thơ trên thanhnien.com (2013) Các bài viết khẳng định sức lôi
cuốn của ngòi bút Nguyễn Nhật Ánh, cung cấp những thông tin khái quát,
những cảm nhận về tác phẩm cụ thể của nhà văn.
Bên cạnh những bài viết, công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã điểm
qua ở trên, trong những năm gần đây có không ít tiểu luận, luận văn của sinh viên
đại học, cao học chọn truyện Nguyễn Nhật Ánh làm đề tài nghiên cứu.
Thế giới trẻ thơ qua cách nhìn của Nguyễn Nhật Ánh trong bộ truyện
Kính vạn hoa (2005) của Phạm Thị Bền là công trình chuyên biệt đầu tiên
nghiên cứu về văn xuôi Nguyễn Nhật Ánh, đặc biệt về Kính vạn hoa. Lấy trẻ
thơ làm hệ quy chiếu, nhà văn thể hiện nhận thức về thế giới xung quanh (tự
nhiên, xã hội và nội tâm con người) qua điểm nhìn của nhân vật trẻ em với
các phương thức tiếp cận đặc thù (tiếp cận trẻ từ sân chơi, cuộc chơi, từ các
8
vùng miền, hoàn cảnh khác nhau). Luận văn còn tìm hiểu nghệ thuật thể hiện
thế giới trẻ thơ trong bộ Kính vạn hoa trên các phương diện: ngôn ngữ trẻ thơ,
nghệ thuật khắc họa chân dung nhân vật và âm sắc trẻ thơ trong giọng điệu
trần thuật.
Luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về truyện Nguyễn Nhật Ánh còn có Thế
giới nghệ thuật truyện Nguyễn Nhật Ánh (2009) của Vũ Thị Hương, Yếu tố
huyền thoại trong truyện Nguyễn Nhật Ánh (2011) của Lê Thị Diệu Phương,
Đặc điểm truyện Nguyễn Nhật Ánh (2011) của Bùi Thị Thu Thủy Các luận
văn có nhiều điểm gặp gỡ nhau nhưng không có đề tài nào đề cập đến vấn đề
mà chúng tôi khảo sát.
Không chỉ chinh phục độc giả trong nước, truyện của Nguyễn Nhật
Ánh còn được dịch ra một số ngôn ngữ khác, là cầu nối đưa tác giả và văn

sách này được nhiều độc giả yêu mến, nhất là các độc giả trẻ. Thứ hai vì năm
trước, năm 2010, cuốn sách này được giải thưởng văn học ASEAN (SEA
Write Award), trước đây cũng có nhiều cuốn sách của Việt Nam được giải
thưởng văn học ASEAN, nhưng những tác phẩm đó đa số có nội dung về
chiến tranh là chính, còn tôi thấy cuốn sách Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ là
một bước đi rất hay khi tìm hiểu về xã hội Việt Nam” [93]. Theo Emme
Achara (Nxb Nameebooks), tác phẩm “phản chiếu thế giới kì diệu của tuổi
thơ và trí tưởng tượng của con trẻ, những điều mà người lớn không bao giờ
biết tới hay không bao giờ nghĩ đến, đó là đời sống thật của trẻ em, nơi có
mọi điều tốt lành mà chúng ta cần học hỏi” [93]. Với nhà văn Binlah Son,
cuốn sách của Nguyễn Nhật Ánh cho thấy “Khác biệt giữa thế giới trẻ em và
thế giới người lớn. Khác biệt giữa trẻ em Việt Nam và trẻ em Thái Lan. Cuối
cùng là khác biệt giữa những người đã đọc cuốn sách và những người chưa
đọc cuốn sách này” [dẫn theo 72; 75].
10
Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ còn được dịch sang tiếng Hàn (nhà xuất
bản Dasan Books tại Seoul ấn hành) năm 2013. Và đầu tháng 10 -2014, cuốn
sách sẽ ra mắt ấn bản tiếng Anh với tên Give me a ticket to childhood do
William Naythons chuyển ngữ (nhà xuất bản Overlook, Mỹ phát hành). Trong
lời giới thiệu sách đăng trên trang web Amazon, Give me a ticket to
childhood được nhắc đến là tác phẩm có thể khiến người lớn lẫn trẻ em xúc
động. Sách hứa hẹn chinh phục trái tim độc giả Mỹ nhờ kĩ thuật viết điêu
luyện, vẽ nên một thế giới tuổi thơ phong phú, giàu có, được dệt nên từ niềm
vui, nỗi buồn, bất hạnh lẫn hạnh phúc.
Như vậy, tác phẩm Nguyễn Nhật Ánh viết cho thiếu nhi không chỉ
chạm tới trái tim của bạn đọc trong nước mà đã vượt qua khoảng cách địa lý,
tạo được sự đồng cảm với độc giả nước ngoài. Văn chương là con đường đẹp
đẽ để dân tộc này đến với dân tộc khác. Với ý nghĩa đó, truyện Nguyễn Nhật
Ánh là nhịp cầu hòa bình nối kết tâm hồn độc giả, nối kết văn học Việt Nam
với thế giới.

chảy hồi ức bị đứt quãng nửa thế kỉ (kể từ Những ngày thơ ấu – Nguyên
Hồng, Cỏ dại – Tô Hoài), truyện viết về kí ức tuổi thơ phát triển trên bình
diện rộng, có nhiều đóng góp đáng kể cho văn học thiếu nhi.
Nghiên cứu về hồi ức trong truyện thiếu nhi Nguyễn Nhật Ánh rất ít ỏi,
mới chỉ dừng lại ở nhận xét ngắn gọn trong các bài viết. Theo Lê Minh Quốc,
“quê nhà là sự ám ảnh lâu dài trong tâm trí nhà văn” [55], “khi viết về kỉ
niệm, trang viết của anh được dịp phiêu lãng nhẹ nhàng và giàu cảm xúc như
thơ” [57]. Thái Phan Vàng Anh khi nghiên cứu người kể chuyện trong văn
Nguyễn Nhật Ánh nhận xét: “nhà văn thường chọn cách kể từ ngôi thứ nhất-
người kể chuyện “tôi”, khiến cho truyện Nguyễn Nhật Ánh có tính chất hồi
12
ức”. Còn Nguyễn Thị Thanh Xuân chỉ ra khi viết về những bâng khuâng rung
cảm đầu đời, Nguyễn Nhật Ánh “tựa quá nhiều vào quá khứ. Quan màn
sương hoài niệm, những mối tình mới chớm đề buồn, dở dang và gắn liền với
một nhân dáng” [; 28].
Từ việc tóm lược các ý kiến trên, có thể thấy truyện Nguyễn Nhật Ánh
dùng hồi ức làm chất liệu không nằm ngoài dòng chảy văn học thiếu nhi Việt
Nam sau 1975. Tuy nhiên, các ý kiến nhận định về vấn đề này còn rất ít ỏi,
chưa khái quát. Cho đến nay, chưa có bài viết, công trình nào nghiên cứu hồi
ức trong sáng tác Nguyễn Nhật Ánh như một đối tượng khoa học thực sự. Do
vậy, thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn góp thêm một cách tiếp cận
văn chương Nguyễn Nhật Ánh và có thêm những tri thức quý báu cho công
việc giảng dạy mà chúng tôi đảm nhiệm.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung tìm hiểu hồi ức tuổi thơ và
tuổi mới lớn trong truyện Nguyễn Nhật Ánh với hai bình diện: nội dung hồi
ức và nghệ thuật thể hiện hồi ức, từ đó góp phần khẳng định đóng góp độc
đáo của Nguyễn Nhật Ánh trong văn học thiếu nhi ở nước ta.
Ngoài ra, là người giảng dạy, người viết thực hiện đề tài này cũng nhằm

Chương 1: Hồi ức và truyện viết cho thiếu nhi giai đoạn sau năm 1975
Chương 2: Hồi ức và những chủ đề chính trong truyện Nguyễn Nhật Ánh.
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện hồi ức trong truyện Nguyễn Nhật Ánh.
14
Chương 1
HỒI ỨC VÀ TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI
GIAI ĐOẠN SAU NĂM 1975
1.1. Khái niệm “hồi ức” và quan niệm về đề tài
Trong tiếng Hán, “về, đi rồi trở lại nghĩa là hồi” [33; 124], “ức” có nghĩa: 1.
Nhớ tương ức: cùng nhớ nhau; 2. Ghi nhớ, nhớ chôn vào tim óc gọi là kí ức [33;
257]. “Hồi ức” hiểu một cách đơn giản là nhớ lại những điều đã qua.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “hồi ức” là “nhớ lại điều bản thân đã trải
qua hoặc một cách có chủ định” [68; 594].
Như vậy, nếu đặt trên trục thời gian quá khứ - hiện tại - tương lai, hồi
ức thuộc về quá khứ, là cái đã qua. Trong Marcel Proust và vấn đề thời gian
nghệ thuật, Lê Phong Tuyết cho rằng: “để tìm lại thời gian đã mất, nhà văn
phải nhớ đến Hồi ức. Hồi ức là cái cớ để đi ngược dòng thời gian. Nhờ hồi ức,
tác giả đã tái tạo lại quá khứ, nhờ hồi ức, quá khứ và hiện tại luôn gắn bó chặt
chẽ với nhau” [96; 49].
Con người - chủ thể của hồi ức làm sống lại những hình ảnh, sự việc
trong quá khứ từ trí nhớ của mình. Do đó, hồi ức thuộc về kinh nghiệm cá
nhân, in đậm dấu ấn chủ thể. Cùng một sự vật nhưng do sự quan tâm khác
nhau, những mối liên hệ khác nhau mà hồi ức về nó trong mỗi cá nhân không
giống nhau. Âm thanh và cuồng nộ - thiên tiểu thuyết nổi tiếng của William
Faulkner dày đặc những hoài nhớ. Nhân vật chính Caddy không xuất hiện
trực tiếp trong hiện tại mà chỉ hiện tồn qua hồi ức của các nhân vật khác. Với
Benjy, Caddy là nguồn động viên, sự chở che, vỗ về nên hình ảnh của chị luôn
gắn với ngọn lửa ấm áp, yêu thương. Hình ảnh của Caddy trong tâm trí Quentin
lại luôn đi kèm với mùi hương kim ngân, gắn với tình yêu tội lỗi Quentin dành
cho em gái. Rõ ràng, do xúc cảm chi phối, hoài niệm về Caddy trong mỗi nhân vật

trường, đi lưu diễn cùng đoàn xiếc Bebra
16
Hồi ức thuộc về quá khứ - một quá khứ đã xa nên sự việc, hình ảnh
được tái hiện đôi khi không nguyên vẹn, không trùng khít với những gì đã
diễn ra trong thực tế. Mức độ của sự trùng hợp còn phụ thuộc vào tâm trạng
của người kể, vào độ dài của thời gian lâu hay mới diễn ra của sự kiện được
nhớ lại và cả ý nghĩa của nó với người kể.
Nói hồi ức là một chất liệu cũng bao hàm nó là một phương thức biểu
đạt vì thực tế nhà văn chọn chất liệu nào là đã chọn một cách ứng xử với nghệ
thuật, với bạn đọc. Bởi vậy, chất liệu của nghệ thuật không bao giờ đơn giản
chỉ là “vật liệu” khách quan. Nó thấm đẫm tính chủ quan của sự lựa chọn. Với
nhân vật là người lớn, khái niệm “hồi ức” thường chỉ một quá khứ đã lùi xa,
nhưng với nhân vật trẻ em thì “hồi ức” có thể là một quá khứ rất gần như một
vài năm trước đó. Với tuổi nhỏ, mỗi khoảng thời gian đều được cảm nhận
khác người trưởng thành.
1.2. Hồi ức trong truyện viết cho thiếu nhi sau năm 1975
Văn xuôi Việt Nam hiện đại đã bắt đầu biết đến kĩ thuật kể bằng hồi ức
khá sớm và có những tác phẩm thành công. Đầu thế kỉ XX, trong tiểu thuyết
Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, mối tình bi thương của Đạm Thủy – Tố Tâm
được tái hiện từ hồi ức của nhân vật Đạm Thủy. Trong văn học thời chống
Mỹ, Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu gây ấn tượng mạnh bởi
câu chuyện tình yêu lãng mạn cách mạng được nhân vật kiêm người kể
chuyện nhớ lại và kể vào một đêm mưa trong rừng già Trường Sơn. Hồi ức
phát lộ hết vẻ đẹp trong một số tác phẩm thuộc thể loại hồi kí văn học và tự
truyện như Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng), Sống nhờ (Mạnh Phú Tứ), Cỏ
dại (Tô Hoài) Tuy vậy, trước năm 1975, đó không phải những thể loại tiêu
biểu. Sau 1975, các thể loại này mới bùng nổ và nhiều tác phẩm được công
chúng đánh giá cao. Không chỉ ở hồi kí, tự truyện (thí dụ Cát bụi chân ai,
Chiều chiều – Tô Hoài, Thượng đế thì cười – Nguyễn Khải, Gia đình bé mọn
17

không thể nào quên. Đó là hành trình ngược thời gian để tìm lại vẻ đẹp và bài
học từ quá khứ đã qua bằng việc làm sống dậy bức tranh hiện thực thời quá
vãng. Tiêu biểu cho khuynh hướng này có thể kể đến Cơn giông tuổi thơ (Thu
Bồn), Hồi đó ở Sa Kỳ (Bùi Minh Quốc), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán) Dòng
sông thơ ấu (Nguyễn Quang Sáng)
Tuổi thơ dữ dội – “bản di chúc chiến sĩ” của Phùng Quán được viết khi
kháng chiến chống pháp đã lùi xa nhưng dư âm vẫn hằn sâu trong hồi ức tác
giả. Chiến tranh không chỉ tác động tới người lớn, mà còn ảnh hưởng tới số
phận, cuộc đời trẻ thơ. Cả một thế hệ thiếu niên chẳng ngại gian nguy, dấn
thân vào cuộc chiến. Chiến tranh tôi luyện các em từ những đứa trẻ non nớt,
hồn nhiên trở thành những chiến sĩ thực thụ.
Trong Dòng sông thơ ấu của Nguyễn Quang Sáng, các nhân vật đều
chủ động tham gia hoặc bị chi phối bởi những biến động lịch sử mà bước
ngoặt lớn nhất là cuộc cách mạng tháng Tám - 1945. Hiện thực phức tạp và
dữ dội của làng Mỹ Luông trong quá khứ được sống dậy qua hoài nhớ của
nhân vật Minh: “Nỗi nhớ của con người có lúc nó nằm yên rồi chợt gặp một
dáng đi, giọng nói của ai đó, hoặc gặp một bài hát mà nó hay hát, nỗi nhớ lại
dâng lên cuồn cuộn như sóng. Và kỷ niệm như những con thuyền trăn trở
không yên”. Từ hiện tại, người kể chuyện – nhân vật “tôi” ngược dòng quá
khứ, tái hiện những năm tháng tuổi thơ với cuộc khởi nghĩa chống Pháp,
Nhật, với bạo động của các giáo phái Hòa Hảo, Tin lành Trong thiên sử thi,
sông Cửu Long trở thành một chứng nhân lịch sử. Dòng sông khi đục, khi
trong, khi hiền hòa lặng sóng, khi tràn trề nước lũ, lúc lắng đọng phù sa. Dòng
sông với những chiếc xuồng cắm cờ đỏ sao vàng nối đuôi nhau san sát bập
bềnh trong ngày giành chính quyền. Dòng sông “căng lên nổi màu phù sa
19
ngầu đỏ, vừa hăm hở vừa giục giã vừa cuồn cuộn như muốn cuốn theo cây cỏ
hai bên bờ đổ ra biển” trong trận đánh đầu tiên. Sông Cửu Long đã trở thành
biểu tượng cho hiện thực cách mạng của làng. Từ nguồn sáng kỉ niệm, câu
chuyện đấu tranh giống như một lời tâm tình bình dị mà vẫn bi tráng, hào hùng,

chôn sâu”. Các em bị đánh cắp phần hồn nhiên tuổi nhỏ: bọn giặc “bắt mang
đi tất cả những người trong làng để xóa dấu vết làng tôi. Chúng giết tất cả
những con trâu để xóa nhòa đồng ruộng tuổi thơ và dĩ vãng của những đứa
trẻ con làng quê”. Chiến tranh “để lại trên thân mình Lượng những mảng da
nhăn nhíu quăn queo ở ngực, hai bên sườn và suốt một bên chân cái chân
như muốn teo dần lại” (Hồi đó ở Sa Kỳ). Dòng sông thơ ấu đan xen những nốt
nhạc hùng của những con người kiên cường đứng lên chiến đấu với nốt buồn
trầm, lạc điệu. Tư Ghe chao đảo, ngả nghiêng giữa hai ngả đường cách mạng
và giáo phái Hòa Hảo. Ủy viên quân sự đầu tiên của chính quyền cánh mạng
ở làng “vốn là chủ tiệm cầm đồ” hèn nhát, cứng nhắc. Những vết khắc trên
mặt trái tấm huy chương ấy, một thời chúng ta né tránh, kì thị nhưng vẫn tồn
tại âm thầm như một vết thương không liền sẹo, và giờ đây mới có cơ hội để
nhìn lại công bằng hơn.
Hồi ức về đề tài cách mạng vẫn tiếp tục cảm hứng ngợi ca những chiến
công anh hùng của quân dân ta. Tuy nhiên, chiến tranh giờ đây được nhìn
nhận một cách chân thực, sống động và đa nghĩa hơn. Sự trải nghiệm, suy tư
lắng qua thời gian càng làm tăng thêm chiều sâu của hiện thực. Như vậy, hồi
ức chính là phương cách để các nhà văn chiêm nghiệm quá khứ cách mạng
bằng cái nhìn đa chiều.
21
1.2.2. Hồi ức gắn với những giá trị nhân bản trong đời tư con người
Thời đại trước năm 1975, văn học đề cao tính tập thể, con người gạt hết
những tình riêng nhỏ nhặt, hòa chung với cái ta cộng đồng. Tình yêu cách
mạng được ưu tiên đặt lên hàng đầu so với những tình cảm riêng tư. Sau
1975, sự thức tỉnh cái tôi cùng tinh thần nhìn thẳng vào sự thực khiến văn học
có sự chuyển mình. Lùi dần khỏi từ trường của sử thi chiến tranh, văn học
khơi sâu số phận con người với tư cách cá thể. Nói như thế không có nghĩa
phủ nhận hoàn toàn mọi giá trị của văn học giai đoạn trước. Mỗi thời đại, do
yêu cầu khác nhau nên văn học có sự ưu tiên phản ánh không giống nhau.
Trong truyện viết cho thiếu nhi sau hòa bình, hồi ức như một “chỉ dấu” về sự

đem gạo giúp chú Khóa. Nhờ kí ức mà Thư nhận ra rằng: con người không
chỉ đơn giản một chiều, mà phong phú, phức tạp đan xen giữa tốt – xấu, thiện
– ác. Do đó, cần nhìn con người từ cái nhìn đa chiều.
Sau năm 1975, với sự trỗi dậy của ý thức cá nhân và tinh thần nhìn
thẳng vào sự thực, các nhà văn đã phản ánh gia đình trong cái nhìn đa diện,
đời tư để thấy cả “những ẩn khuất của mỗi số phận trong gia đình” [Lã Thị
Bắc Lý; 39]. Vững sau trận ốm liệt giường bị tật nguyền hai chân, từ một cậu
bé thông minh, nhanh nhẹn, bỗng trở thành gánh nặng trong mắt người mẹ.
Mẹ rất thương Vững, dẫu em chỉ là con nuôi nhưng gánh nặng cuộc sống
dường như che đi tình thương ấy, luôn cáu kỉnh, quát mắng em (Tuổi thơ khát
vọng). Tâm hồn nhạy cảm của cậu bé Thiện nhận ra những rạn nứt trong ngôi
nhà tưởng như êm ấm, hòa thuận. Đằng sau sự yên bình “suốt trong mấy chục
năm, chưa bao giờ có một câu nói nặng lời, một cử chỉ gì gây xức phạm đối
với người này người khác” là “không khí uể oải, buồn chán, lạnh lùng, một sự
không bằng lòng do một nguyên nhân thầm kín nào đó không dễ nói ra chi
23
phối”. Sự túng quẫn về kinh tế khiến không khí gia đình càng trầm uất, nặng
nề hơn (Miền xanh thẳm). Nhờ hồi ức, nhân vật Bê nhận ra mẹ rất thương em
nhưng không biết lắng nghe Bê. Khi em cãi lại ông thầy dạy thể dục, mẹ xem
Bê là đứa con hư. Sự độc đoán của mẹ gây tổn thương sâu sắc cho cô bé: “Sự
im lặng của mẹ khiến tôi cảm thấy tôi đã chết rồi. Tôi đã chết thật”. Quyết
định bỏ nhà đi tìm bố thực ra là phản ứng mạnh mẽ, đầy uất ức của Bê (Hành
trình ngày thơ ấu). Mâu thuẫn xuất phát từ quan niệm, cách nhìn khác nhau
giữa trẻ em và người lớn. Đi cùng những rạn nứt trong tình cảm gia đình vốn
thiêng liêng, cao đẹp là những đổ vỡ trong tâm hồn trẻ thơ. Thế giới trẻ thơ
không chỉ có màu hồng mà còn những gam buồn, sắc lạnh. Tất cả những màu
sắc ấy sẽ để lại dấu ấn trong cuộc sống sau này của trẻ thơ.
1.2.3. Hồi ức – một cách trình diện của cái tôi cá nhân
Cái tôi cá nhân là tính cách riêng khẳng định dấu ấn không bị mờ nhạt,
tan loãng vào cộng đồng. Nó là cơ sở phân biệt những người xung quanh. Có

Trong Hành trình ngày thơ ấu, Bê là ham học, thông minh, hết lòng vì
bạn bè, có nét ngây thơ con trẻ, sợ hãi vì bị nhốt ở phòng kho trong chùa
nhưng cũng thẳng thắn, dữ dội, ngang tàng, dám một mình mạnh mẽ chống
trả cái ác, cái xấu. Hành động vô lễ với thầy Gia tưởng như rồ dại, bồng bột
nhưng sâu xa đó lại là thái độ trước loại người giả dối, bất công. Đánh giá Bê
nếu chỉ nhìn theo chuẩn mực đạo đức cứng nhắc thông thường sẽ không tránh
khỏi cái nhìn cứng nhắc một phía như mẹ Bê: “người học trò ngoan chỉ có
mỗi nhiệm vụ: lắng nghe và học hỏi thầy”. Từ hành động phản kháng của Bê,
khái niệm “học trò ngoan – hư” được xem xét lại, không chỉ đánh giá hành
động bên ngoài mà truy tìm nguyên cớ xâu xa của hành động ấy.
25

Trích đoạn Thế giới của những trò chơi tuổi nhỏ Thế giới của ước mơ và khát vọng đẹp đẽ Thế giới của yêu thương Khoảnh khắc lỡ nhịp của trái tim Những cung bậc của tình yêu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status