I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NG TH HNG THY
Kiểm sát hoạt động điều tra -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
(trên cơ sở nghiên cứu số liệu tại địa bàn tỉnh Nam Định) Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT HOẠT
ĐỘNG ĐIỀU TRA TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM 8
1.1. Khái quát về giai đoạn điều tra và hoạt động điều tra trong
tố tụng hình sự 8
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự 9
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm hoạt động điều tra vụ án hình sự 11
1.2. Kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự 13
1.2.1. Khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự 14
1.2.2. Khái niệm, đặc điểm kiểm sát hoạt động điều tra 17
1.2.3. Mối quan hệ giữa kiểm sát hoạt động điều tra và thực hành
quyền công tố trong tố tụng hình sự 19
1.2.4. Ý nghĩa, vai trò của kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự 23
1.2.5. Kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự ở nước ta từ năm 1945
đến nay 26
1.3. Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong
hoạt động điều tra vụ án hình sự 29
1.4. Tổ chức thực hiện công tác kiểm sát hoạt động điều tra vụ án
hình sự 32
3.1. Thực tiễn công tác kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự
trên địa bàn tỉnh Nam Định 66
3.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế- xã hội tỉnh Nam Định 66
3.1.2. Tình hình tổ chức cán bộ và hoạt động của VKSND tỉnh Nam Định 67
3.1.3. Một số kết quả đạt được trong công tác kiểm sát hoạt động điều
tra các vụ án hình sự của VKSND tỉnh Nam Định từ năm 2009
đến 2013 68
3.1.4. Những tồn tại, hạn chế trong công tác kiểm sát hoạt động điều
tra của VKSND tỉnh Nam Định 80
3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác kiểm sát
hoạt động điều tra 85
3.2.1. Quy định của pháp luật 85
3.2.2. Tổ chức thực hiện công tác kiểm sát hoạt động điều tra 88
3.2.3. Việc đào tạo, sắp xếp cán bộ, kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ
kiểm sát điều tra 88
3.2.4. Điều kiện cơ sở vật chất 89
3.3. Các giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt
động điều tra 90
3.3.1. Đề xuất xây dựng hoàn thiện pháp luật 90
3.3.2. Giải pháp để thực hiện tốt các biện pháp nghiệp vụ kiểm sát hoạt
động điều tra 95
3.3.3. Giải pháp kiến nghị về tăng cường công tác chỉ đạo điều hành, tổ
chức tập huấn nghiệp vụ và tổng kết rút kinh nghiệm 97
3.3.4. Giải pháp kiến nghị về công tác cán bộ 99
3.3.5. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và hoàn thiện chính sách 101
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
69
Bảng 3.2:
Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra các vụ án hình sự của VKS tỉnh Nam Định (kết
quả giải quyết của VKS)
70
Bảng 3.3:
Các hình thức bắt
76
Bảng 3.4:
Số người bị tạm giữ xử lý hình sự
77
Bảng 3.5:
Số người tạm giữ bị xử lý hình sự bị áp dụng biện
pháp tạm giam
77
Bảng 3.6:
Hoạt động đình chỉ điều tra của CQĐT, VKS tỉnh
Nam Định
79
Bảng 3.7:
số liệu trả hồ sơ để điều tra bổ sung
83
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Số hiệu biểu đồ
quyền công tố của Viện kiểm sát nói riêng nhằm đảm bảo mọi tội phạm đều
phải được phát hiện xử lý nhanh chóng kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật, tránh oan, sai và bỏ lọt tội phạm, tăng cường đấu tranh phòng,
chống tội phạm ở nước ta hiện nay.
Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của
Nhà nước, được sự chỉ đạo, lãnh đạo của Tỉnh uỷ Nam Định và Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, trong những năm qua ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Nam 2
Định đã có nhiều cố gắng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao và đã
đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ trong công tác kiểm sát các hoạt động
tư pháp nói chung, công tác kiểm sát các hoạt động điều tra nói riêng, góp
phần có hiệu quả trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân trên địa bàn tỉnh, phục vụ tích cực nhiệm vụ chính trị địa
phương, được cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân tin tưởng, đánh giá cao.
Tuy nhiên, so với yêu cầu cải cách tư pháp, công tác kiểm sát điều tra
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định vẫn còn có những tồn tại, thiếu
sót nhất định. Ở một số đơn vị, có kiểm sát viên được phân công thực hiện
nhiệm vụ kiểm sát điều tra chưa đầu tư nghiên cứu, chưa nắm vững các quy
định của pháp luật, còn lúng túng, thiếu kinh nghiệm và bản lĩnh trong thao
tác nghiệp vụ, không kiểm sát chặt chẽ việc khởi tố bị can và các hoạt động
điều tra khác, không nắm chắc được tiến độ điều tra cũng như không kiểm sát
chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của cơ quan điều tra nói chung, điều tra viên
nói riêng; năng lực trình độ tổng hợp, phân tích đánh giá chứng cứ còn hạn
chế, thiếu toàn diện tỷ mỉ dẫn đến nhiều vụ án gặp không ít khó khăn cho các
cơ quan và người tiến hành tố tụng ở giai đoạn sau, làm ảnh hưởng đến công
tác phòng chống đấu tranh tội phạm ở địa phương. Tình trạng án trả lại hồ sơ
vì thiếu chứng cứ hoặc vi phạm thủ tục tố tụng vẫn xảy ra.
của Phạm Quang Định năm 2005; “Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền
công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Nam Định” của Trần Văn Ngọc “Gắn công tố vơ
́
i h oạt động điều tra trong tố
tụng hình sự theo tinh thầ n Nghi
̣
quyết Đ ại hội Đa
̉
ng lần thư
́
X - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn của Bùi Mạnh Cường” năm 2012. 4
Đề tài nghiên cứu cấp bộ: “Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư
pháp và thực hành quyền công tố về vấn đề thông khâu và chuyên khâu trong
công tác kiểm sát hình sự” do tác giả Ngô Văn Đọn chủ biên năm 2004; Đề
tài khoa học cấp bộ “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm
sát điều tra các vụ án về trật tự xã hội theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt
Nam hiện nay” do tác giả Vũ Việt Hùng và các Kiểm sát viên vụ 1A- VKS
Tối cao thực hiện năm 2012; Đề tài khoa học cấp Bộ: “Hoạt động thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát quân
sự theo tinh thần cải cách tư pháp, thực trạng và giải pháp” do Đại tá - Thạc
sỹ luật Huỳnh Quốc Hùng chủ biên năm 2012.
Một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành của các tác giả như: Hà
Mạnh Trí, “Nâng cao chất lượng quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
góp phần đẩy mạnh cải cách tư pháp”- Tạp chí nghiên cứu lập pháp số
1/2003; Nguyễn Viết Hoạt “Bản chất của hoạt động điều tra trong Tố tụng
- Đánh giá thực tiễn việc thực hiện công tác kiểm sát hoạt động điều tra
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam định, đồng thời phân tích làm rõ những
tồn tại, hạn chế của công tác này và những nguyên nhân cơ bản của nó.
- Đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về
kiểm sát hoạt động điều tra trong BLTTHS Việt Nam hiện hành, cũng như
những giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này trong thực tiễn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn đúng như tên gọi của nó: Kiểm sát
hoạt động điều tra - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (trên cơ sở nghiên cứu
số liệu tại địa bàn tỉnh Nam Định).
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu 6
chức năng kiểm sát hoạt động điều tra dưới góc độ Luật TTHS và đánh giá
thực tiễn việc thực hiện chức năng này tại địa bàn tỉnh Nam định trong giai
đoạn từ năm 2009 đến năm 2013).
5. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận: các kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa nhất
định về mặt khoa học góp phần xây dựng một cách nhìn toàn diện về công tác
kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát, vai trò của công
tác này trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về mặt thực tiễn: Luận văn đánh giá bức tranh toàn cảnh về công tác
kiểm sát hoạt động điều tra tại địa bàn tỉnh Nam Định. Trên cơ sở đó đề
xuất hoàn thiện một số quy định của BLHS, BLTTHS hiện hành và các giải
pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động điều tra. Kết quả
nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ
nghiên cứu, học tập cũng như làm tài liệu cho các cán bộ kiểm sát trong
hoạt động nghiệp vụ của mình.
6. Phương pháp nghiên cứu
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG
ĐIỀU TRA TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái quát về giai đoạn điều tra và hoạt động điều tra trong tố
tụng hình sự
Khi tội phạm xảy ra, việc giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn
và do nhiều cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định chính xác,
khách quan bản chất vụ án, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm
tội. Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án được gọi là tố tụng hình sự. Theo định
nghĩa của giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa luật - Đại học quốc
gia Hà Nội thì: "Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của các chủ thể
tố tụng hình sự hướng tới việc giải quyết vụ án khách quan, công bằng, góp
phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền con người" [5].
Quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn, mỗi
giai đoạn tố tụng hình sự có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau và
tương ứng với mỗi giai đoạn đó là chức năng cụ thể của mỗi cơ quan tiến
hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định.
Như vậy, giai đoạn tố tụng hình sự là:
Bước của quá trình tố tụng hình sự tương ứng với chức năng
nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến
hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do
luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải quyết
vụ án hình sự một cách công minh, khách quan, có căn cứ và đúng
pháp luật, góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ
vững chắc các quyền và tự do của công dân [5].
Theo GS.TSKH. Lê Cảm, BLTTHS nước ta chia quá trình giải quyết
10
phạm, các tình tiết khác có liên quan đến vụ án, xác định nguyên nhân và điều
kiện phạm tội… Tất cả các hoạt động tố tụng do chủ thể của giai đoạn điều tra
thực hiện đều phải tuân thủ đúng các quy định của luật tố tụng hình sự góp
phần giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, chính xác, khách quan,
đúng pháp luật.
Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là:
Một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó cơ quan điều tra
và các cơ quan khác được giao thực hiện một số hoạt động điều tra
được sử dụng các biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định để thu
thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn
đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của tòa
án. Đồng thời thông qua hoạt động điều tra, xác định nguyên nhân
điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện
pháp phòng ngừa với các cơ quan tổ chức hữu quan [6].
1.1.1.2. Đặc điểm của giai đoạn điều tra
Từ khái niệm về giai đoạn điều tra vụ án hình sự nêu trên, có thể rút ra
các đặc điểm cơ bản và đặc trưng của giai đoạn này như sau:
Thứ nhất, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá
trình TTHS có thời hạn xác định bắt đầu từ khi cơ quan tiến hành tố tụng ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ vụ
án và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố hoặc CQĐT ra quyết định
đình chỉ điều tra vụ án.
Thứ hai, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự là các cơ quan
có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do Luật TTHS quy định để chứng
minh tội phạm và người phạm tội, làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án bao
gồm cả tình tiết buộc tội và tình tiết gỡ tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị
với các cấp, các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm.
sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ". 12
1.1.2.2. Đặc điểm hoạt động điều tra vụ án hình sự
Thứ nhất, hoạt động điều tra được tiến hành công khai theo các trình tự,
thủ tục, thẩm quyền do pháp luật quy định. Khi tiến hành các biện pháp điều
tra phải có mặt của những người mà luật định và họ phải ký vào biên bản hoạt
động điều tra. Tính công khai của hoạt động điều tra thể hiện ở biện pháp và
các thủ tục tố tụng được tiến hành, còn nội dung, kết quả điều tra thì phải bí
mật. Tính công khai của hoạt động điều tra là tiêu chí cơ bản nhất để phân
biệt với hoạt động trinh sát được tổ chức và tiến hành dưới hình thức bí mật
cả về nội dung, phương pháp để nắm bắt tin tức về tội phạm, theo dõi và truy
bắt các đối tượng phạm tội, nhằm phòng ngừa tội phạm.
Thứ hai, tùy theo đặc điểm của vụ án hình sự mà CQĐT áp dụng các
biện pháp điều tra cho phù hợp.
Thứ ba, phạm vi điều tra các tình tiết thực tế của vụ án rộng hơn phạm
vi những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự do luật định. Để xác
định được một tình tiết quy định tại Điều 63 của BLTTHS thì CQĐT phải làm
rõ được những tài liệu, chứng cứ liên quan. Chẳng hạn, để xác định ai là
người thực hiện hành vi phạm tội, trước tiên phải chứng minh người đó có
mặt tại hiện trường vào thời điểm xảy ra vụ án (thông qua các dấu vết, vật
chứng, lời khai người bị hại, người làm chứng…).
Thứ tư, trong hoạt động điều tra vụ án hình sự có thể phải áp dụng các
biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam và áp dụng các biện pháp
cưỡng chế như khám xét chỗ ở, khám xét nơi làm việc, thân thể; do đó thường
tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân.
Thứ năm, hoạt động điều tra của CQĐT phải chịu sự chế ước và
kiểm sát chặt chẽ của Cơ quan VKS. Điều này được thể hiện thông qua
việc pháp luật quy định các nhiệm vụ, quyền hạn cho VKS để bảo đảm việc
nào là kiểm sát các hoạt động tư pháp, kiểm sát hoạt động điều tra, thế nào 14
là quyền công tố và thực hành quyền công tố, đối tượng, nội dung, phạm vi
cũng như mối quan hệ của chúng.
1.2.1. Khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự
Từ khi ra đời, Nhà nước ta đứng trước những yêu cầu của quá trình xây
dựng, củng cố đất nước, trong đó việc tuân thủ pháp luật của của các cơ quan
nhà nước và mọi công dân là một trong những yêu cầu cấp bách. Để đáp ứng
được yêu cầu đó cần tổ chức thành lập một cơ quan có chức năng kiểm tra, giám
sát các hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan Nhà nước và mọi công dân
nhằm bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Lênin là người đầu tiên có quan điểm về tổ chức cơ quan kiểm tra,
giám sát, quan điểm đó được thể hiện trong tác phẩm bàn về "Song trùng, trực
thuộc và pháp chế". Vận dụng tư tưởng của Lênin vào thực tiễn xây dựng, tổ
chức bộ máy Nhà nước ta, Đảng và Nhà nước đã nhận định rằng, để đảm bảo
cho pháp luật do Nhà nước ban hành được thực hiện một cách nghiêm minh
và thống nhất thì việc tổ chức một cơ quan có chức năng kiểm tra và giám sát
hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước và công dân là một đòi
hỏi mang tính tất yếu khách quan nên đã quyết định thành lập cơ quan VKS.
Quan điểm trên đã được thể chế hóa trong các hiến pháp từ Hiến pháp năm
1959 đến Hiến pháp 2013.
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) trong đó có sự điều chỉnh chức năng của
cơ quan VKS với quy định "Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của
Hiến pháp và pháp luật" [21, Điều 137]. Hiến pháp năm 2013 quy định:
"Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp" [24, Điều 107].
Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã cụ thể hóa quy định trên với nội
động thực hiện quyền lực nhà nước và cũng phải chịu sự giám sát từ bên 16
ngoài cũng như từ bên trong hệ thống tư pháp, chịu sự giám sát Nhà nước và
giám sát xã hội. Theo nghĩa rộng, kiểm sát hoạt động tư pháp cũng được hiểu
là giám sát tư pháp, là một bộ phận, một lĩnh vực của hoạt động giám sát Nhà
nước trong lĩnh vực tư pháp. Còn theo nghĩa hẹp thì kiểm sát hoạt động tư
pháp được hiểu là chức năng của Viện kiểm sát. Phạm vi kiểm sát tư pháp là
việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử các vụ án hình sự,
giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao
động và những việc khác theo quy định của pháp luật. Mục đích của của kiểm
sát hoạt động tư pháp là bảo đảm cho pháp luật được áp dụng thống nhất
trong giải quyết các vụ án trên cơ sở tuân thủ nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng mà
pháp luật quy định.
Mỗi quan điểm trên đây đều có những lập luận đúng của mình về khái
niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp". Theo quan điểm của chúng tôi, trước
hết cần phải khẳng định kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng hiến
định của VKS. Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát Nhà
nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước. Tuy nhiên,
khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các
hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ
quan tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp
luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết các
vụ án. Bản chất pháp lý của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong
tố tụng hình sự là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của
các chủ thể bị kiểm sát. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm kiểm sát các hoạt động
tư pháp trong tố tụng hình sự như sau:
Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là chức năng
hiến định của VKS, có nội dung là giám sát trực tiếp các hoạt động của các
Từ bản chất pháp lý đó chúng ta cũng cần xem xét đối tượng của kiểm sát
hoạt động điều tra các vụ án hình sự là gì? và phạm vi và các đặc điểm của nó?.