Chức năng của đoạn miêu tả trong truyện ngắn việt nam đương đại - Pdf 29


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
********
PHAN THỊ THU

CHỨC NĂNG CỦA ĐOẠN MIÊU TẢ
TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
ĐƢƠNG ĐẠI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. GVC LÊ KIM NHUNG HÀ NỘI - 2014

LỜI CẢM ƠN


trùng lặp với bất kì đề tài của tác giả khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên Phan Thị Thu MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
6. Phương pháp nghiên cứu 8
7. Bố cục khóa luận 8
NỘI DUNG 9

1

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong tác phẩm tự sự, bên cạnh các yếu tố sự kiện, cốt truyện, nhân vật
thì miêu tả cũng là một trong những mảng yếu tố ngữ nghĩa góp phần tạo nên
nội dung tác phẩm. Các yếu tố miêu tả và biểu cảm giúp cho việc kể chuyện
sinh động hấp dẫn hơn và đóng vai trò như một yếu tố định hướng giúp người
đọc hiểu, cảm và tìm ra phương pháp tiếp cận tác phẩm. Việc sử dụng miêu tả
nhiều hay ít trong tác phẩm tự sự tùy thuộc vào phong cách sáng tác, phụ
thuộc vào dụng ý nghệ thuật riêng của người nghệ sĩ. Do đó, miêu tả và biểu
cảm trở thành một biện pháp nghệ thuật.
Vì những lí do trên, việc nghiên cứu chức năng của đoạn miêu tả trong
tác phẩm tự sự có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá cái hay, cái đẹp của
tác phẩm đồng thời góp phần khẳng định được nét độc đáo, phong cách riêng
của mỗi tác gia văn học.
1.2. Văn xuôi đương đại Việt Nam đặc biệt là truyện ngắn đương đại là

khoa học bao quát đối tượng của mình”. Các nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu
các khía cạnh của văn bản như: sự thống nhất của chủ đề văn học bản, các
phương diện của hình thức văn bản, biện pháp tu từ văn bản Đứng ở góc độ
ngôn ngữ thì chức năng của đoạn miêu tả trong tác phẩm tự sự là một vấn đề lí
thuyết rất mới mẻ. Vấn đề này đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến:
2.1.1. Giáo sư Đỗ Hữu Châu trong bài giảng “Ngữ nghĩa và các mảng
ngữ nghĩa trong tác phẩm tự sự” (chuyên đề giảng dạy cho hệ Thạc sĩ Ngữ
văn ĐHSP Hà Nội) đã nêu và phân tích một số chức năng của đoạn miêu tả
trong tác phẩm tự sự như:
- Chức năng phân đoạn: miêu tả được sử dụng để đánh dấu, chuyển tiếp
từ lốc sự kiện này sang lốc sự kiện khác. Với chức năng này, đoạn miêu tả có
vai trò như một phương tiện liên kết.
3

- Chức năng thư giãn: miêu tả có tác dụng làm cho chuỗi sự kiện đi
chậm lại, kéo dài thời gian hoặc làm chậm đoạn mở nút.
- Chức năng trang trí: làm cho câu chuyện đẹp hơn, sinh động hơn và
gần với hiện thực ngoài đời hơn.
- Chức năng tổ chức văn bản: với chức năng này, đoạn miêu tả góp
phần đảm bảo sự liên kết logic giữa các sự kiện, làm cho sự kiện trở nên dễ
hiểu hơn. Ngoài ra đoạn miêu tả còn làm tăng thêm tính có thể dự đoán được
của truyện. Nói khác đi, đoạn miêu tả tạo bối cảnh và tạo tiền giả định để các
sự kiện tiếp theo xuất hiện.
- Chức năng quy định: miêu tả góp phần làm cho người đọc thấy được
những thông tin trực tiếp hay gián tiếp về sự kiện.
2.1.2. Bên cạnh đó chương trình SGK Ngữ văn Trung học Phổ thông đã có
những bài dạy về vai trò của yếu tố miêu tả và biểu cảm trong văn học tự sự:
- Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 (tập 1), (Nguyễn Khắc Phi chủ biên)
NXB Giáo dục & Đào tạo, Hà Nội, 2004 khẳng định: “Trong văn bản tự sự,
rất ít khi tác giả chỉ thuần kể người, kể việc mà khi kể thường đan xen các yếu

- Tìm hiểu chức năng của đoạn miêu tả trong văn xuôi viết cho thiếu
nhi của sinh viên Trịnh Thị Oanh, khóa 35 (2013), Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2.
Việc nghiên cứu chức năng của đoạn miêu tả trong truyện ngắn đương
đại chưa được tác giả nào đề cập đến. Vì vậy, tìm hiểu chức năng của đoạn
miêu tả trong văn xuôi đương đại là một việc làm rất cần thiết. Tìm hiểu đề tài
này, chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm tiếng nói khẳng định một khía cạnh của
văn học đương đại Việt Nam.
2.2. Việc nghiên cứu ngôn ngữ truyện ngắn đƣơng đại Việt Nam
Trong công trình nghiên cứu về “Một số vấn đề trong ngôn ngữ văn
học Việt Nam thế kỉ XX” của PGS. Nguyễn Văn Long - khoa Ngữ văn trường
5

Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhận xét: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn
học, là chất liệu của văn chương, văn học là nghệ thuật ngôn ngữ. Những
điều đó đã được thừa nhận một cách hiển nhiên, không có gì phải bàn cãi. Từ
đó, nghiên cứu văn học nhất thiết không thể bỏ qua bình diện ngôn ngữ văn
học, không chỉ bởi vì mọi yếu tố, mọi bình diện của văn học đều chỉ có thể
được biểu đạt qua ngôn ngữ, mà còn vì sáng tạo ngôn ngữ là một trong
những mục đích quan trọng, cũng là một phần không nhỏ trong sự đóng góp
vào những giá trị độc đáo, riêng biệt của văn chương. Lịch sử văn học, xét về
một phương diện cũng chính là lịch sử của ngôn ngữ văn học. Ngôn ngữ văn
học vừa là điều kiện, lại vừa là kết quả của quá trình vận động, biến đổi của
văn học qua các thời kì, giai đoạn. Sự thay đổi hệ hình văn học cũng đi liền
với sự thay đổi của hệ hình ngôn ngữ văn học, và qua đó phản ánh sự biến
đổi của đời sống xã hội, của tư duy, của môi trường văn hoá tinh thần và các
giá trị của quan niệm thẩm mĩ”. Do đó, việc nghiên cứu ngôn ngữ trong văn
học Việt Nam đương đại có vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là trong truyện
ngắn đương đại Việt Nam.
Tác giả Phùng Gia Thế trong bài viết: Chất các - na - van trong ngôn

Thuỳ Mai (Chị Hai ơi), Nguyễn Ngọc Tư (Cánh đồng bất tận),…
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu về văn học đương đại Việt
Nam qua các góc độ khác nhau như: “Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu
hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và
Phạm Thị Hoài” của tác giả Lã Nguyên, hay “Vấn đề phái tính và âm hưởng
nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại” của tác giả Nguyễn Thị Thanh
Xuân, hoặc tọa đàm “Văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học Việt Nam đương
đại”, đều nói về chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn xuôi hiện nay hay các vấn
đề về văn học nữ…
7

Trong các công trình này, các tác giả đã nhận xét về những đóng góp
của các nhà văn đương đại trong việc sử dụng ngôn ngữ đặc sắc. Nhưng các
công trình này mới chỉ dừng lại ở việc minh hoạ lí thuyết, hoặc chỉ điểm qua
ở một vài tác giả mà chưa đi sâu và nếu có cũng chỉ là gợi mở.
Từ những định hướng về cơ sở lí luận của các nhà nghiên cứu, chúng
tôi đi sâu tìm hiểu đề tài: “Chức năng của đoạn miêu tả trong truyện ngắn
Việt Nam đương đại”. Hi vọng đề tài này sẽ góp phần thêm tiếng nói khẳng
định một khía cạnh khác của văn học đương đại Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu
3.1. Góp phần bổ sung và khẳng định rõ hơn một vấn đề lí thuyết của
Ngôn ngữ học. Đó là vấn đề chức năng của đoạn miêu tả trong tác phẩm tự sự.
3.2. Đề tài góp phần kết luận về chức năng của đoạn miêu tả trong văn
xuôi Việt Nam đương đại.
3.3. Khảo sát đề tài này, tư liệu và hướng nghiên cứu của nó sẽ là
những tài liệu cần thiết phục vụ cho nhiệm vụ học tập hôm nay cũng như
trong công việc giảng dạy sau này, đặc biệt sẽ góp phần vào việc bồi dưỡng
cho bản thân năng lực phân tích và cảm thụ văn chương.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Muốn đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau:
9

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Một số vấn đề về văn tự sự
1.1.1. Khái niệm về văn tự sự
“Tự sự là dùng những lời nói hay lời văn làm cho sống lại một câu
chuyện, tức là một câu chuyện có sự chuyển động, sự diễn biến từ thời điểm
này sang thời điểm khác, có bắt đầu, có phát triển, có kết thúc, có sự tham gia,
sự hoạt động của con người”. [3, Tr 5]
1.1.2. Đặc điểm của văn tự sự
Thứ nhất, tự sự hay văn bản tự sự dùng lời kể và lời miêu tả của người
kể chuyện để thông báo về thời gian, địa điểm, gọi ra đặc điểm của nhân vật,
sự kiện, phân tích tâm trạng, tình huống nhằm làm hiện lên bức tranh đời
sống. Lời kể và lời miêu tả chiếm một bộ phận lớn và giữ vai trò chủ đạo
trong lời văn nghệ thuật của văn bản tự sự. Trong khi tái hiện các sự kiện,
biến cố, nhân vật, lời kể và lời miêu tả trong văn bản tự sự đồng thời có
nhiệm vụ thuyết minh, bình phẩm, đánh giá về các sự kiện, biến cố, nhân vật
… và lời kể cũng có chức năng tái hiện lại cả lời nhân vật.
Thứ hai, văn bản tự sự có sự kiện, biến cố, cốt truyện trong khi các loại
văn bản khác không có hay không cần đến yếu tố này. Cốt truyện, nếu có
được tổ chức thành chuỗi biến cố xảy ra liên tiếp, cái này tiếp sau cái kia, xô
đẩy nhau tới đỉnh điểm buộc phải giải quyết và kết thúc. Sự kiện trong văn
bản tự sự luôn được xem như là tiêu chí quan trọng để nhận diện loại văn bản

Trong nhà trường phổ thông phân ra văn miêu tả và kể chuyện (tự sự)
chẳng qua là để học sinh nhận rõ các thao tác kể và tả, từ đó mà luyện tập cho
11

nhuần nhuyễn từng thao tác, sau đó phải biết kết hợp từng thao tác này trong
một bài viết. Quả thật, các đoạn văn miêu tả và kể chuyện không tồn tại độc
lập mà chúng “xen lẫn vào nhau”, là “phương tiện” của nhau.
Yếu tố miêu tả và biểu cảm làm cho ý nghĩa câu chuyện càng thêm
thấm thía và sâu sắc. Nó cũng giúp tác giả thể hiện được thái độ trân trọng và
tình cảm yêu mến của mình đối với các nhận vật và sự việc. Tất nhiên nói như
thế không có nghĩa là các yếu tố tự sự không quan trọng. Ngược lại nếu bỏ hết
các yếu tố kể chỉ để lại các câu văn miêu tả và biểu cảm thì không có chuyện.
Bởi vì cốt truyện là do sự việc và nhân vật cùng với những hành động chính
tạo nên. Các yếu tố miêu tả và biểu cảm phải dựa vào sự việc và nhân vật mới
phát triển được. Nòng cốt của đoạn văn tự sự là sự việc và nhân vật chính.
Các yếu tố miêu tả, biểu cảm phải dựa vào sự việc và nhân vật chính để phát
triển. Những yếu tố này kết hợp, đan xen, thậm chí nhiều khi hoà lẫn vào
nhau trong một đoạn văn. Tuy vậy, các yếu tố miêu tả nhiều hay ít cũng chỉ
tập trung làm sáng tỏ cho sự việc cũng như nhân vật chính mà thôi.
Có thể nói ít khi miêu tả chỉ là thuần tuý vì cảnh vật luôn gắn với sự
việc, con người. Cảnh vật thường thông qua cách nhìn nhận, suy nghĩ và hành
động của con người, đúng như nhà văn Tô Hoài đã viết: “Nói miêu tả, dễ
tưởng miêu tả chỉ là tô vẽ phong cảnh trời nắng, trời mưa, chớp bể mưa
nguồn và thiên nhiên: cây vườn, bãi cỏ, con sông… không, hàng đầu miêu tả
là chú trọng sự việc, con người”.
1.2.3. Đặc điểm của văn miêu tả
1.2.3.1. Quan sát trong văn miêu tả
Bất kì sự tưởng tượng nào dù phong phú đa dạng đến đâu cũng đều bắt
đầu từ thực tế đời sống. Muốn có sự từng trải và sự hiểu biết thực tế cần phải
quan sát. Những trang văn hay có hồn, sống động là những trang văn của

người một vẻ. Tâm hồn người viết bao giờ cũng được thể hiên đằng sau bức
13

tranh cảnh vật, con người. Đọc một tác phẩm miêu tả, dù tả cảnh, tả người, hay
tả tâm trạng người đọc vẫn cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của người viết.
1.2.3.4. Ngôn từ trong văn bản miêu tả
Một trong những yếu tố quan trọng giúp nhà văn diễn đạt thành công
những cung bậc tình cảm và sắc thái hiện thực là bởi hệ thống từ gợi hình ảnh
và cảm giác vô cùng đa dạng, phong phú.
Văn miêu tả cũng rất hay dùng và dùng có kết quả các biện pháp tu từ
như nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ Với các biện pháp tu từ này con người và
cảnh vật tìm thấy chỗ hòa đồng cho nhau: cảnh vật trở nên có hồn giống như
con người, và tâm hồn con người thì hòa tan vào cảnh vật.
1.3. Các mảng ngữ nghĩa trong tác phẩm tự sự và chức năng của đoạn
miêu tả
1.3.1. Các mảng ngữ nghĩa trong tác phẩm tự sự
Giáo sư Đỗ Hữu Châu trong bài giảng chuyên đề “Ngữ nghĩa và các
mảng ngữ nghĩa trong tác phẩm tự sự” đã chỉ ra ba mảng ngữ nghĩa của
truyện gồm:
- Các sự kiện:
Sự kiện là những tình tiết của truyện, là cái làm nên cốt truyện. Cốt
truyện và các sự kiện là yếu tố đảm bảo cho truyện có tính bền vững và có khả
năng truyền từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nếu thay đổi hoặc lược bỏ sự kiện thì sẽ làm thay đổi toàn bộ nội dung
của truyện và sẽ biến thành một truyện khác. Chính vì thế, sự kiện là một
mảng ngữ nghĩa quan trọng trong tác phẩm tự sự.
- Bình luận của người kể
Bình luận của người kể cũng góp phần thể hiện vai trò của người kể.
Nếu tác phẩm có lời bình luận thì vai trò của người kể được thể hiện một cách
trực tiếp. Đó là vai trò dẫn dắt sự kiện hoặc bình luận, đánh giá sự kiện.

15

- Chức năng trang trí: làm cho câu chuyện đẹp hơn, sinh động hơn và
gần với hiện thực ngoài đời hơn.
- Chức năng tổ chức: với chức năng này miêu tả góp phần đảm bảo sự
liên kết logic giữa các sự kiện làm cho sự kiện làm cho sự kiện trở nên dễ
hiểu hơn. Ngoài ra đoạn miêu tả còn làm tăng thêm tính có thể dự đoán được
của truyện. Nói khác đi, miêu tả tạo bối cảnh và tạo tiền giả định để các sự
kiện tiếp theo có thể xuất hiện.
- Chức năng quy định: miêu tả góp phần làm cho người đọc thấy được
những thông tin trực tiếp hay gián tiếp về sự kiện.
Giải thích một cách bản chất và sâu xa, sở dĩ đoạn miêu tả trong tác
phẩm tự sự có thể thực hiện được các chức năng trên là do ưu thế của hình
thức giao tiếp bằng ngôn ngữ. Khác với các loại hình nghệ thuật khác, tác
phẩm văn học thông qua các yếu tố ngôn ngữ được sử dụng có khả năng định
hình bằng văn tự sự và có thể lưu giữ. Khi viết tác phẩm, nhà văn đồng thời
giao tiếp với độc giả, trình bày tất cả các suy nghĩ, đánh giá, tư tưởng của
mình với độc giả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua ngôn ngữ, nhờ
ngôn ngữ. Vì vậy, bất cứ yếu tố nào khi đưa vào tác phẩm nghệ thuật đều trở
thành chi tiết nghệ thuật. Đoạn miêu tả trong tác phẩm tự sự cũng là một chi
tiết nghệ thuật và nó có thể thực hiện tất cả các chức năng của mình với vai
trò định hướng giao tiếp.
Những cơ sở lí luận về Phong cách học văn bản và Ngữ dụng học nêu
trên là tiền đề lí luận để chúng tôi xem xét và xử lí đề tài.
1.4. Văn học đƣơng đại Việt Nam
1.4.1. Giới thuyết chung về văn học đƣơng đại Việt Nam
Tác giả Lã Nguyên trong công trình nghiên cứu: Nhìn lại các bước đi.
Lắng nghe những tiếng nói (về văn học Việt Nam thời “Đổi mới” 1975 - 1991)
đã đề cập đến những vấn đề về văn học Việt Nam đương đại:
16

Chưa thấy xuất hiện những cây bút trẻ có khuynh hướng đổi mới. Những nhà
văn đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học ở giai đoạn này là Nguyễn
Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn… Họ là những nhà
văn từng sáng tác từ trước năm 1975. Đóng góp của họ cho công cuộc đổi mới
văn học ở Việt Nam chủ yếu là ở lĩnh vực văn xuôi. Tập truyện ngắn Bến quê
của Nguyễn Minh Châu, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn
Kháng, Cù Lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, và muộn hơn một chút, tiểu
thuyết Thời xa vắng (1987) của Lê Lựu từng gây được những tiếng vang rất lớn.
+ Giai đoạn 1986 - 1991: Đây là giai đoạn sôi nổi nhất của đời sống
văn nghệ ở Việt Nam trong thời kì đổi mới. Trong mọi lĩnh vực nghệ thuật, từ
văn học, hội hoạ, âm nhạc cho tới sân khấu, điện ảnh, sự đổi mới diễn ra vô
cùng quyết liệt. Văn học dịch vẫn tiếp tục phát triển và phát huy tác dụng.
Nhưng giờ đây, giữ vai trò chủ công trong đổi mới văn học là hoạt động lý
luận, phê bình văn học và hoạt động sáng tác của các nhà văn, nhà thơ. Đổi
mới văn học suy đến cùng là đổi mới quan niệm: quan niệm về con người, về
đời sống và quan niệm về bản thân văn học nghệ thuật… Thành tựu nổi bật
của văn học Việt Nam thời kì đổi mới được kết tinh ở truyện ngắn và tiểu
thuyết. Tiếp theo lớp nhà văn đã thành danh như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn
Kháng…, người ta thấy nổi lên những cây bút mới rất sung sức, trước hết là
Nguyễn Huy Thiệp. Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp thực sự tạo ra bước
ngoặt của văn xuôi sau 1975. Nhưng nói tới văn học thời kì đổi mới, người
đọc còn nhớ tới một loạt tên tuổi như Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Dương Thu
Hương, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Nhật Tuấn, Dương
Hướng, Nguyễn Khắc Trường, Tạ Duy Anh… Sáng tác của họ đã tạo nên
diện mạo vừa độc đáo, vừa đa dạng của văn học Việt Nam thời kì đổi mới.
+ Từ 1992 đến nay: Trong vòng mười năm trở lại đây, vẫn tiếp tục có
những tên tuổi mới xuất hiện. Thỉnh thoảng các nhà văn vẫn cho ra đời
18

những tác phẩm văn học ít nhiều gây được tiếng vang như Mảnh đất lắm

cõi nhân sinh có nguồn cội ở đấy. Mọi sự thanh cao rồi cũng phải chết giữa
cõi trần tục. Nhìn chung, nói to là cách tốt nhất để thể hiện mọi loại ý thức
cộng đồng, cả tư tưởng quốc gia trong văn học sử thi trước 1975, lẫn tâm
trạng đại chúng của văn học thế sự thời đổi mới.
1.4.2.2. Đặc điểm về nghệ thuật của văn học đương đại Việt Nam
Rất dễ nhận ra, trước 1975, nền văn học sử thi đã nhanh chóng “đổi”
tiếng “hét” và tiếng “thét” thành tiếng hát đầy chất lãng mạn. Nó hát rất to
bài ca chiến trận và bài hát dựng xây. Hoàng Trung Thông hát Bài ca vỡ đất,
Chế Lan Viên hát Tiếng hát con tàu. Trong thơ Chính Hữu, “… cả nước lên
đường” để “hàng ngũ ta đi dài như tiếng hát”. Trước 1945, phong trào Thơ
mới có công chuyển câu thơ điệu ngâm trung đại thành câu thơ điệu nói hiện
đại. Sau 1945, văn học Cách mạng lại có công đưa câu thơ điệu nói quay về
với điệu ngâm truyền thống và điệu ca có nguồn cội trong sáng tác dân gian.
Người kể chuyện trong văn xuôi không thể ca hát như nhân vật trữ tình trong
thơ. Để trang văn cất lên tiếng hát, nhà văn biến nhân vật thành ca sĩ. Cho
nên, từ kí, truyện ngắn cho tới tiểu thuyết, hình như chỗ nào cũng thấy có
người hát, và nhờ thế, tiếng hát được vang lên khắp mọi nơi. Nhưng giọng lu
loa, sừng sộ, tiếng gầm gào cuộn réo trong văn học thời đổi mới không thể cất
lên thành tiếng hát. Cái vô lí, phi lí, chất văn xuôi và vẻ đẹp của đời sống
phồn tạp chỉ có thể hoá thân vào tiếng cười trào tiếu, giễu nhại để văn học thế
sự biến thành tiếng nói nghệ thuật. Thời xa vắng của Lê Lựu là một tiểu
thuyết giễu nhại độc đáo. Nó không cần sử dụng những thủ pháp lạ hoá quen
thuộc như phóng đại, hay vật hoá hình ảnh con người để làm nổ ra tiếng cười.
Nó chỉ đơn giản thuật lại những chuyện “thật như đùa” mà đã có thể tạo ra
được hình tượng giễu nhại. Nhờ thế, lời văn của Thời xa vắng khi thì như
20

bông đùa, lúc lại xót xa, chì chiết, nhưng giễu nhại bao giờ cũng là giọng điệu
chủ đạo của nó.
Lắng nghe kĩ ta sẽ nhận ra tiếng cười giễu nhại của Lê Lựu, Ma Văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status