TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
VŨ THỊ NỀN
NHÂN VẬT NGƢỜI ĐIÊN TRONG
TIỂU THUYẾT ÂM THANH VÀ CUỒNG NỘ
CỦA W. FAULKNER VÀ THOẠT KỲ THỦY
CỦA NGUYỄN BÌNH PHƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học HÀ NỘI - 2014
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
VŨ THỊ NỀN
Sinh viên VŨ THỊ NỀN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
- Khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có tham khảo ý
kiến của những người đi trước, dưới sự giúp đỡ khoa học của TS. Phùng Gia Thế.
- Khóa luận không sao chép từ một công trình có sẵn nào.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên VŨ THỊ NỀN
Âm thanh và cuồng nộ và trong Thoạt kỳ thủy 20
2.1. Nhân vật người điên - kiểu nhân vật bất toàn 20
2.1.1. Lạ hóa, dị biệt 20
2.1.2. Phiêu lưu trong vô thức 23
2.1.3. Bất khả đối thoại, đối thoại phi lí 25
2.2. Nhân vật người điên - con người xa rời thực tại 27
2.2.1. Sống trong liên tưởng, ảo giác 27
2.2.2. Gắn chặt với hình ảnh, âm thanh biểu tượng 30
2.3. Nhân vật người điên - hiện thể đặc biệt cái nhìn con người của nhà
văn 36
2.3.1 Con người cô đơn, lạc lõng 36
2.3.2. Con người thiếu vắng tình thương 39
2.3.3. Con người đánh mất chính mình 40
Chương 3. Những khác biệt độc đáo của hình tượng người điên trong
Âm thanh và cuồng nộ và trong Thoạt kỳ thủy 46
3.1. Nguồn gốc của chứng điên 46
3.1.1. Benjy - kẻ điên bẩm sinh 46
3.1.2. Tính - kẻ điên vì môi trường phi nhân tính 46
3.2. Không gian xuất hiện - tình trạng hiện sinh của nhân vật 49
3.2.1. Benjy gắn với không gian ngôi nhà - kiểu môtip “cầm tù” 49
3.2.2. Tính gắn với không gian núi rừng huyền bí, siêu thực - kiểu không
gian “thọat kỳ thủy” 50
3.3. Tâm lí, tính cách nhân vật 51
3.3.1. Benjy hướng đến khát vọng tình thương 51
3.3.2. Tính đi dần đến sự tha hóa và hủy diệt 54
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
1
MỞ ĐẦU
(2000), Thoạt kỳ thủy (2004), Ngồi (2006)… Nguyễn Bình Phương cùng
những cái tên như Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh… là lớp nhà
văn trưởng thành trong những thập niên cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, khi
tiểu thuyết Việt Nam đã bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập. Bởi vậy,
Nguyễn Bình Phương có cơ hội được xúc tiếp với tinh hoa của văn học hiện
đại thế giới. Bằng tài năng vốn có, sự nỗ lực và tinh thần học hỏi không
ngừng, Nguyễn Bình Phương đã khẳng định được bản thân và có đóng góp
to lớn vào công cuộc hiện đại hóa thể loại tiểu thuyết. Nói về vị trí văn học
của Nguyễn Bình Phương, nhà phê bình Phạm Xuân Thạch nhận định: “Nếu
cần lựa chọn một hiện tượng tiêu biểu nhất của tiểu thuyết Việt Nam đương
đại, ưu tiên số một chắc chắn là Nguyễn Bình Phương”. Đi vào các tác phẩm
của Nguyễn Bình Phương, người đọc sẽ nhận thấy một lối viết riêng biệt,
mới mẻ từ cách nhìn hiện thực, sáng tạo cốt truyện, xây dựng không gian,
thời gian cho đến sử dụng ngôn từ. Cùng với những cách tân về kỹ thuật, tiểu
thuyết Nguyễn Bình Phương còn cho thấy những cách cắt nghĩa, lí giải độc
đáo về con người. Đọc tác phẩm của ông, người đọc sẽ thấy sự xuất hiện của
các kiểu nhân vật đặc biệt như: những kẻ điên, những tên khùng, những nhân
vật phi lí… Với Thoạt kỳ thủy, Nguyễn Bình Phương thực sự trở thành “nhà
văn đương đại đẩy cuộc thăm dò vô thức đi xa nhất” (Đoàn Cầm Thi), đặc
biệt là việc đi sâu vào khám phá cái “điên” và cái “mộng” ẩn sâu trong mỗi
con người. Qua nhân vật người điên, nhà văn bộc lộ những thể nghiệm mới
mẻ về con người và chuyển tải những quan niệm nhân sinh độc đáo.
William Faukner và Nguyễn Bình Phương đều là những nhà văn nổi
tiếng. Dù sinh sống và sáng tác ở hai vùng lãnh thổ, hai khoảng thời gian và
3
hai bầu sinh quyển văn hóa khác nhau song với Âm thanh và cuồng nộ và
Thoạt kỳ thủy, họ đều gặp nhau ở việc đưa người điên trở thành hình tượng
trung tâm của văn học. Hình tượng người điên trong Âm thanh và cuồng nộ
của W. Faulkner và hình tượng người điên trong Thoạt kỳ thủy của Nguyễn
Bình Phương có gì giống và khác nhau? Các quan niệm nghệ thuật và lối viết
của W. Faulkner”, Hoàng Thị Quỳnh Trang đã khẳng định những đóng góp
của Faulkner vào sự cách tân tiểu thuyết Gothic. Hoàng Thị Quỳnh Trang
nhấn mạnh: “Âm thanh và cuồng nộ là một trong bốn tiểu thuyết thành công
nhất của W. Faulkner được viết trên nền chủ đề đen (dark theme) với hệ
thống nhân vật xuất hiện như những bóng ma của quá khứ, điên dại, ngẩn
ngơ trong cuộc đời thực” [42].
Bài viết “Nhân vật trùng tên trong “Âm thanh và cuồng nộ và Trăm năm
cô đơn” của Trần Thị Anh Phương đã so sánh việc thể hiện các nhân vật
trùng tên trong hai tác phẩm. Nói về các nhân vật trùng tên trong Âm thanh
và cuồng nộ, tác giả bài viết nhận xét: “Những nhân vật của Faulkner hiện
lên trong tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ bằng cả nỗi đau, tính bạo lực, sự
ngược đãi và những tinh thần đọa lạc. Đó là những con rối định mệnh, một
số phận không thể nào cứu rỗi được trong định mệnh nghiệt ngã của mỗi
kiếp người, đó là bức thông điệp cũng như phong cách độc đáo của
Faulkner” [31]. Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, bài viết của Trần Thị
Anh Phương chỉ bàn luận về môtíp trùng tên nhân vật được thể hiện trong
tác phẩm chứ không đi vào phân tích một hình tượng cụ thể.
Lâm Duy trong bài “Tìm hiểu tiểu thuyết Âm thanh và cuồng nộ” đã
đưa ra những nhận xét chung nhất về kết cấu, cốt truyện, nhân vật cũng như
5
ngôn ngữ của tác phẩm. Trong khi bàn về nhân vật, tác giả bài viết cho rằng:
“Mỗi nhân vật hiện ra trong tác phẩm đặc biệt là những nhân vật chính đều
nhìn thế giới, vạn vật dưới con mắt u sầu và sự hoài nghi về sự xuất hiện của
mình trong cuộc sống. Nếu như trong tiểu thuyết Gothic truyền thống, thế
giới nhân vật thường được phân làm hai tuyến đối nghịch nhau là tuyến nhân
vật độc ác chuyên gây hại như ác quỷ, bạo chúa, những gã săn lùng người dị
giáo và tuyến nhân vật nạn nhân thì trong tiểu thuyết Gothic Hoa Kì, hệ
thống nhân vật đó được thay thế bằng những thằng khờ, những kẻ loạn trí,
những triết gia, những luật sư phải sống ẩn dật… Các nhân vật này có điểm
mới mẻ là đều mang khuyết tật không chỉ ở trên cơ thể mà cả trong tâm hồn,
Cẩm Giang khi bàn về nhân vật trong Thoạt kỳ thủy chỉ đưa ra ý kiến nhận
diện và phân loại các kiểu nhân vật được thể hiện trong tác phẩm.
Đi sâu hơn vào nghiên cứu Thoạt kỳ thủy, Hoàng Đăng Khoa trong
tiểu luận “Thử khai mở kiến trúc hậu hiện đại trong tiểu thuyết Thoạt kỳ
thủy của Nguyễn Bình Phương” đã phân tích thủ pháp mờ hóa trên các bình
diện như nhan đề, cốt truyện, nhân vật… Hoàng Đăng Khoa đã trình bày
những cảm nhận sắc nét về nhân vật Tính, trong đó nhấn mạnh: ở Tính “tập
trung mọi vùng mờ vô thức của cộng đồng” (…) “Cái hình hài như ngợm,
cái triệu chứng điên, cái bản năng tàn sát, cái sự không hề có cảm xúc ham
muốn của một con đực… nơi Tính nói lên Tính dường như không phải là
con người” [27].
Đánh giá về vai trò của yếu tố vô thức đối với sáng tác của Nguyễn
Bình Phương, Đoàn Cầm Thi trong bài “Sáng tạo văn học: giữa mơ và điên
(Đọc Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương)” đã đánh giá: “Thoạt kỳ thủy
mới thực sự là tiểu thuyết của vô thức” và “ Nguyễn Bình Phương có lẽ là nhà
7
văn Việt Nam đương đại đẩy cuộc thăm dò này đi xa nhất”. Tác giả của bài
viết đã có những lời bàn luận sắc sảo, nhạy bén về đời sống bản năng vô thức
của nhân vật và nhìn nhận vô thức như là thành tố trung tâm trong tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương. Đoàn Cầm Thi đã nghiên cứu về nhân vật người điên
trong văn học và khái quát thành hai kiểu: điên “vĩ đại” và điên “con bệnh”.
Đoàn Cầm Thi cho rằng nhân vật người điên của Nguyễn Bình Phương được
sáng tạo theo một bút pháp riêng: “không có kiểu điên vĩ đại. Người điên cũng
không phải là những con bệnh reo hò, nhảy múa man dại, hành động kì quặc
vô lí. Nhân vật người điên của Nguyễn Bình Phương vẫn có tâm hồn, có phần
bản thể trong suy nghĩ và hành động. Họ là những kẻ dị tật, tàn khuyết về tâm
lí” [41]. Nhìn chung, bài viết này đã nêu ra một số đặc điểm quan trọng về
hình tượng người điên trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương.
Trong bài viết “Cảm nhận tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”, Phùng
Gia Thế cũng đưa ra lời bàn luận về nhân vật trong Thoạt kỳ thủy. Người viết
- Thoạt kỳ thủy của Nghuyễn Bình Phương, Nxb Văn học, 2005.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống;
- Phương pháp phân tích - tổng hợp;
- Phương pháp so sánh - đối chiếu.
6. Đóng góp của khóa luận
- Về mặt lí luận: Đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lí luận của
Văn học so sánh, vai trò của Văn học so sánh trong nghiên cứu văn học và
văn hóa.
9
- Về mặt thực tiễn: Qua so sánh - đối chiếu có thể thấy được mối quan
hệ giữa hai tác phẩm thuộc hai quốc gia khác nhau cũng như khẳng định
được giá trị của mỗi hiện tượng văn học dân tộc.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung
của khóa luận gồm ba chương:
Chương 1: Nhân vật người điên trong văn học: từ phương Tây đến
phương Đông dưới cái nhìn so sánh
Chương 2: Những điểm tương đồng của hình tượng người điên
trong Âm thanh và cuồng nộ và trong Thoạt kỳ thủy
Chương 3: Những khác biệt độc đáo của hình tượng người điên
trong Âm thanh và cuồng nộ và trong Thoạt kỳ thủy
Về mặt khoa học, theo bác sĩ Phạm Ngọc Duệ - Phó giám đốc Trung tâm
điều dưỡng người tâm thần có công tỉnh Thái Bình thì “ai cũng có thể bị
điên”. Theo ông, nguyên nhân của chứng điên có thể là do ngoại sinh (như bị
tai nạn, bị thương do bom đạn chiến tranh…) hoặc do nội sinh (như lo âu,
11
stress, căng thẳng…). Chứng bệnh này có thể xảy ra ở bất kỳ người nào, thậm
chí là ở cả những người có bộ óc thiên tài. John Nash (sinh năm 1928) - nhà
Toán học người Mỹ được giải Nobel về khoa học kinh tế (năm 1994), Vincent
van Gogh (1853-1890) - danh họa Hà Lan thuộc trường phái ấn tượng với
những bức họa được yêu thích nhất thế giới, Edgar Allan Poe (1809-1849) -
nhà văn Mỹ với những truyện ngắn kinh dị và truyện trinh thám nổi tiếng,
Ludwing van Beethoven (1770-1827) - nhà soạn nhạc vĩ đại người Đức… đều
đã từng bị ảo giác, hoang tưởng và đôi khi trở thành những con người bất bình
thường về mặt tâm thần.
Nói chung, trong khoa học, người điên là người mắc bệnh tâm lí, rơi vào
trạng thái vô thức và không kiểm soát được chính mình. Chứng điên có thể
xảy đến với bất kì ai bằng những nguyên nhân đa dạng.
1.1.2. Quan niệm về ngƣời điên trong văn học
Người điên trong văn học là một hình tượng nhân vật. Đó là sản phẩm
sáng tạo của người nghệ sĩ chứ không đơn thuần là con người sinh lí như cái
nhìn trong khoa học. Bản thân mỗi nhân vật văn học “là một đơn vị nghệ
thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời
sống” [18-tr.235]. Nhân vật văn học là sự hư cấu có chủ ý của tác giả và là
một thành tố không thể thiếu trong cấu trúc của văn bản nghệ thuật. Thông
qua đó, độc giả có thể đọc được tầng hàm nghĩa của tác phẩm, nắm bắt được
những quan niệm, tư tưởng của chủ thể sáng tạo về đời sống, về nghệ thuật và
về con người.
Quan niệm về người điên trong văn học do vậy cũng mang tính đặc thù
của loại hình nghệ thuật này. Các nhà văn không nhìn người điên với tư cách
là những “con bệnh” mà với tư cách là những con người có một đời sống tâm
13
ra được tác hại của tiểu thuyết hiệp sĩ và những việc làm ngốc nghếch
của mình.
Đôn Kihôtê là một kẻ điên nhưng cái điên này lại xuất phát từ một mục
đích cao đẹp là diệt gian trừ bạo. Chỉ có điều lí tưởng của Đôn Kihôtê không
hợp thời cho nên mọi suy nghĩ và hành động của y cũng trở nên lố bịch.
Thông qua sự mê muội đến mức điên rồ của Đôn Kihôtê, Xecvăngtex đã tố
cáo giai cấp thống trị phong kiến và tăng lữ ở Tây Ban Nha thời bấy giờ, đồng
thời phê phán những loại sách hiệp sĩ làm cho trí tưởng tượng của con người
bị méo mó, lệch lạc.
Đến Lỗ Tấn, với Nhật kí người điên, ông dùng ngôn ngữ của kẻ điên để
phê phán xã hội. Nhân vật người điên của Lỗ Tấn chính là một phương tiện để
tác giả phơi bày tội ác của chế độ gia đình và học thuyết về chữ Lễ, kết án
đanh thép lịch sử phong kiến Trung Hoa là “lịch sử ăn thịt người” suốt bốn
nghìn năm. Người điên trở thành loa phát ngôn của nhà văn, từ đó phủ định
chế độ xã hội đương thời và mong muốn thay thế bằng một xã hội công bằng,
tốt đẹp hơn.
Có thể nói, khi đã là nhân vật văn học, người điên bao giờ cũng là “điên”
có mục đích, trở thành điểm kết tụ cho mọi quan điểm, tư tưởng của nhà văn,
giúp nhà văn thực hiện được ý đồ nghệ thuật của mình.
1.2. Sự xuất hiện của hình tƣợng ngƣời điên trong văn học phƣơng Tây
và phƣơng Đông cận, hiện đại
Ngay từ thời cổ đại, trong văn học đã có sự xuất hiện của người điên. Ở
phương Tây, vào thế kỉ V tr.CN, nhân vật Mêđê của Ơripit đã bị coi là người
đàn bà điên vì sự ghen tuông, giận dữ của mình. Nàng đã lồng lộn “như một
con sư tử”, phá phách như bão tố, ra tay với chính hai đứa con mà nàng nâng
niu nhất. Ở phương Đông, trong văn học Trung Quốc, người điên cũng xuất
hiện với tinh thần chống lại Khổng giáo. Sớm nhất là người điên của Khuất
14
Nguyên, khi ông cho mình là “cuồng nhân”, một mình đối lập với xã hội:
phải bỏ học. Anh ta là kẻ kỳ dị về nhân cách cho nên suy nghĩ và hành động
cũng bất bình thường. Raxcolnicov không ham mê tiền tài, thậm chí còn là
một con người vô tư đến hào hiệp, hi sinh vì người khác. Trong vòng nửa năm
trời, anh có thể nuôi một người bạn học bị ốm; có thể bỏ những đồng xu cuối
cùng để giúp gia đình Marmeladov khi họ rơi vào cảnh thương tâm; có thể
đưa tay cứu giúp một cô bé hoàn toàn không quen biết bị kẻ gian lừa đảo…
Nhưng cuối cùng, chính Raxcolnicov lại giết người cướp của vì cái tư tưởng
lầm lạc của mình. Anh ta giết người để chứng minh rằng mình là “siêu nhân”
dám vượt qua tâm lí hèn nhát của người thường để trở thành Napoléon mới,
làm chúa tể của nhân gian. Raxcolnicov đã bất chấp mọi biện pháp, kể cả tội
ác để đạt được mục đích mà sau này anh đã thú nhận: “Không vì tiền mà anh
đã giết… anh cần biết một điều khác, một điều khác đã thúc đẩy anh, anh là
thư rận rệp như mọi người hay anh là một người? Anh có dám vượt lên hay
không dám? Anh là thứ sinh vật run rẩy khiếp sợ hay là anh có quyền? ”.
Trong Raxcolnicov, sự ích kỷ đi liền với vị tha, sự tàn nhẫn quái ác đi liền với
hiền từ mềm yếu, khinh miệt đi liền với lòng nhiệt thành yêu con người, chà
đạp công lí nhưng thiết tha hướng về công lí. Raxcolnicov luôn chao đảo giữa
các thái cực đối lập đó. Trạng thái “hỗn mang tinh thần” của Raxcolnicov rất
tiêu biểu cho đời sống tinh thần của một xã hội trong thời kỳ chuyển hóa dữ
dội từ nếp sống đẳng cấp gia trưởng sang nếp sống cạnh tranh vô chính phủ,
khi mà mọi giá trị đều bị đánh giá lại. Những khuôn phép đạo đức tưởng
chừng sắt đá hóa ra “những sơi dây mục nát” và con người lúc ấy thường bơ
vơ không biết chân lí mới ở đâu, dễ nhầm lẫn thiện ác. Raxcolnicov là con
người nổi loạn nhưng không phải là kẻ què quặt về mặt tâm lí. Đó chỉ là căn
16
bệnh nhất thời của một tâm hồn về cơ bản lành mạnh, một sự lầm lạc khó
tránh khỏi trên con đường gian nan săn tìm chân lí đích thực. Có thể nói, với
hình tượng này, Doxtoevxki đã thực sự dấn thân khám phá “con người trong
con người” mà bao thế hệ nhà văn sau này đã học tập.
Nhà văn V. M. Garshin (1855-1888) - một bậc thầy của truyện ngắn Nga
thích ứng với tồn tại. Người ta cũng nhớ đến cặp đôi Extơragông và Vlađimia
(Điđi và Gôgô) trong vở kịch Trong khi chờ đợi Gôđô của Beckett. Các nhân
vật trong tác phẩm hiện lên như những kẻ rỗng tuếch với những câu chuyện
đầu Ngô mình Sở, không hề ăn khớp. Họ dần đánh mất bản ngã và chờ đợi
một cách vô nghĩa giữa cuộc đời.
Thế kỷ XX cũng là thế kỷ của sự tiếp xúc và giao lưu giữa các nền văn
minh lớn, trong đó có văn hóa, văn học. Cùng với sự phát triển của công nghệ
in ấn và công tác dịch thuật, sách báo và các tác phẩm văn học phương Tây
tràn vào nhiều quốc gia phương Đông tạo ra những hiệu ứng ảnh hưởng cực
kì mạnh mẽ về kĩ thuật viết văn, về thể loại, cách cấu trúc tác phẩm, xây dựng
nhân vật… Hình tượng người điên cũng xuất hiện trong văn học phương
Đông mà biểu hiện rõ nhất là trong tác phẩm của Lỗ Tấn. Ông là một dịch giả
tiên phong trong việc giới thiệu văn học nước ngoài vào Trung Quốc. Khi còn
là sinh viên ở Nhật trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XX, ông đã dịch nhiều
truyện của Nga và các nước Đông Âu từ tiếng Nhật và tiếng Đức, in hai tập
truyện dịch. Những cuốn sách này đã ảnh hưởng đến cách viết truyện của ông.
Chính Lỗ Tấn đã thừa nhận: “Tôi dựa trên nhiều cuốn sách nước ngoài tôi đã
đọc và kiến thức về y khoa” để viết. Ông cho Hoa đỏ của người điên của
Garshine là một kiệt tác. Nhân vật trong Đèn sáng mãi (Trường minh đăng)
của ông cũng có nhiều nét tương đồng với nhân vật của Garshine. Họ đều
18
không có tên, đều bị bệnh tâm thần, đều mong muốn diệt trừ căn nguyên của
tội ác cho nên mới hái hoa anh túc (trong Hoa đỏ của người điên) hay cố gắng
thổi tắt ngọn đèn (trong Đèn sáng mãi). Cũng giống như Garshine, Lỗ Tấn
viết về người điên để phản ánh hiện thực xã hội. Mặc dù vậy, so với người
điên của Garshine, người điên của Lỗ Tấn có những nét khác biệt. Trong Hoa
đỏ của người điên, nhân vật có thể thực hiện được sứ mệnh hái ba bông hoa
anh túc đỏ. Khi chết, trên môi anh ta vẫn nở một nụ cười mãn nguyện. Người
điên trong Đèn sáng mãi lại bị giam trong buồng tối, chỉ có thể hét to khẩu
hiệu: “Tao đốt hết”. Nếu Garshine để cho người điên hi sinh khi hoàn thành
đây hơn là Tính, Phùng, Hưng trong Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình
Phương… Đây là một biểu hiện cho sự thay đổi trong quan niệm về nhân vật
và nghệ thuật xây dựng nhân vật ở các nhà văn Việt Nam hiện đại. Những
biến chuyển mạnh mẽ về hình tượng trung tâm trong văn học được coi là một
cuộc “cách mạng về nhân vật”. Cuộc cách mạng này phù hợp vời tiến triển
của văn học thế giới, đồng thời cũng đặt nền móng cho cuộc “cách mạng về
cấu trúc thể loại” của tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
Người điên là một kiểu hình tượng đặc biệt, xuất hiện cả trong văn học
phương Tây và phương Đông. Nghiên cứu kiểu nhân vật này trên phương
diện so sánh sẽ góp phần làm sáng tỏ những điểm tương đồng và khác biệt về
cấu trúc hình tượng văn học giữa các quốc gia và các khu vực. Văn học so
sánh là chuyên ngành có khả năng giải thích và nghiên cứu các mối quan hệ
đó. Qua Văn học so sánh, ta có thể nhìn văn học dân tộc bằng “con mắt quốc
tế”, từ đó làm rõ việc chịu ảnh hưởng hay không ảnh hưởng, những tiếp thu
và sáng tạo cũng như sự phát triển nội tại của văn chương nước nhà. Bộ môn
Văn học so sánh xứng đáng là “vị đại sứ lưu động” giàu thiện chí, có vai trò
quan trọng trong việc kết nối giá trị của các nền văn học và văn hóa khác
nhau, thúc đẩy sự tiến bộ chung của toàn thể các dân tộc trên thế giới.