Ngôn ngữ nhân vật người điên trong tiểu thuyết thoạt kỳ thủy của nguyễn bình phương - Pdf 30

NGÔN NGỮ NHÂN VẬT NGƯỜI ĐIÊN TRONG TIỂU THUYẾT
THOẠT KỲ THỦY CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
Đoàn Tâm
1Hình tượng nhân vật người điên không xa lạ trong các tác phẩm văn học
xưa nay. Trong “Thoạt kỳ thủy”của Nguyễn Bình Phương, tất cả các nhân vật đều
bất thường về tâm lí. Điều này bắt nguồn từ quan niệm sáng tác của nhà văn: viết
là một quá trình trôi dạt trong chính thế giới nội tâm của con người để sục sạo
khám phá. So với người thường, người điên có một đời sống tinh thần phong phú,
bí ẩn hơn hẳn. Nguyễn Bình Phương đã bước đầu khai mở thành công những bí ẩn
ấy trong việc thể hiện ngôn ngữ nhân vật, từ đối thoại và độc thoại trong vô thức
của họ.

1. Đặt vấn đề
Trong sự phát triển mạnh mẽ của văn học với rất nhiều cây bút thuộc nhiều thể loại, tôi nhận
thấy một điều: Nguyễn Bình Phương đã không bị chìm khuất. Khơi sâu vào thế giới vô thức như một
cách nhìn nhận mới về hiện thực, con người, nhiều sáng tạo độc đáo về mặt kết cấu, cốt truyện, anh
còn đặc biệt thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ.
Nhân vật người điên hầu như có mặt ở tất cả các tác phẩm của Nguyễn Bình Phương. Thậm
chí trong Thoạt kỳ thủy, tất cả các nhân vật đều bất thường về tâm lí. Ai cũng điên điên, khùng khùng,
hoặc sẽ bị mọi người làm cho điên điên, khùng khùng. Nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh đã từng nói
mỗi nhà văn có một cái tạng riêng của mình. Cái tạng của Nguyễn Bình Phương, có lẽ là những người
điên. Lý giải điều này, theo tôi, bắt nguồn từ quan niệm sáng tác của Nguyễn Bình Phương: viết là
một quá trình trôi dạt trong chính thế giới nội tâm của con người để sục sạo khám phá. So với người
thường, người điên có một đời sống tinh thần phong phú, bí ẩn hơn hẳn. Vì vậy, nội tâm người điên
thực sự trở thành miền đất hứa của Nguyễn Bình Phương. Và anh đã bước đầu khai mở thành công
miền đất ấy trong việc thể hiện ngôn ngữ nhân vật người điên. Điều này thể hiện rõ nét trong việc xây
dựng những kiểu đối thoại độc đáo cũng như thể hiện nội tâm nhân vật thông qua kiểu độc thoại trong
vô thức.

chế, không thỏa mãn về tình dục, tình yêu” (Đoàn Cầm Thi). Nhân vật Nga của Nguyễn Công Hoan
và nhân vật Thảo của Võ Thị Hảo thuộc mô típ này. Họ hiện lên gián tiếp qua sự miêu tả khách quan
của tác giả và thường bộc lộ dấu hiệu bệnh lý của mình qua những dấu hiệu bên ngoài. Vì vậy, ấn
tượng về sự điên loạn thường rất mờ nhạt, chung chung: khóc, cười, xé quần áo, thẫn thờ. Nhìn chung
chất điên của họ và của nàng Xúy Vân giả dại xưa chưa có mấy khác biệt.
Tương ứng với hai loại nhân vật điên trong văn học là những hệ ngôn ngữ đặc trưng. Với
nhân vật điên - học giả, ngôn ngữ của họ thường là những lời phát ngôn cho lý tưởng đậm chất triết
lý. Tiếng kêu cứu “Hãy cứu lấy các em” cất lên ở cuối truyện ngắn Nhật ký người điên thể hiện tập
trung tư tưởng và niềm hi vọng của Lỗ Tấn vào một thế hệ trẻ nhân bản hơn, “người hơn”. Và mỗi lời
kêu gọi xung phong của Đôn Kihôtê đều là sự lên tiếng của lý tưởng hiệp sĩ khao khát lập lại lẽ sống
công bằng ở đời. Những lời này được lọc ra trong lớp vỏ hài hước hay nghiêm trang đều khá lôgic và
tỉnh táo. Ngôn ngữ của loại nhân vật điên thứ hai không có gì đặc sắc. Họ nói ít, thường chỉ ú ớ ở dăm
ba câu. Họ chủ yếu thể hiện bản chất điên của mình qua những tràng cười.
Như vậy, nhìn chung, những nhân vật điên trong văn học thường xuất hiện như một công cụ
phát ngôn cho quan niệm tư tưởng của nhà văn. Đọc văn ta chưa biết người điên nghĩ gì? Đâu là lôgic
ngôn ngữ của họ? Tác giả nào sẽ có khả năng đưa người đọc bước vào thế giới nội tâm điên loạn ấy
bằng con đường nghệ thuật? Nguyễn Bình Phương sẽ trả lời được những câu hỏi trên trong tiểu thuyết
ngắn của mình: Thoạt kỳ thủy.
Tính là nhân vật trung tâm của Thoạt kỳ thủy. Hắn không thuộc hai dạng người điên thường
gặp trong văn học. Tính điên bẩm sinh, thậm chí điên từ trong bụng mẹ. Nguồn cơn sâu xa là từ cú
đạp thiếu rượu của cha Tính. Do vậy, hắn điên không phải vì chấn động tâm lý dữ dội như Nga, Thảo.
Hắn là một thợ đập đá bình thường, cả đời mù chữ, chưa một ngày bước chân ra chốn thị
thành. Cho nên, hắn không điên vì sách vở, cũng không phát ngôn cho một tư tưởng nào hết. Thêm
một điều đáng lưu ý, nếu tác giả khác soi chiếu nhân vật điên của mình dưới góc độ bệnh lý hoặc đạo
đức thì Nguyễn Bình Phương nhìn Tính như một nhà văn đích thực đang khám phá một hiện thực mà
anh ta quan tâm. Vì vậy, Tính thoát khỏi các chuẩn mực: bệnh tật - lành lặn, tích cực - tiêu cực. Người
đọc không bị áp lực bởi những câu hỏi quen nhàm: Tính đúng hay sai? Tốt hay xấu? Đáng giận hay
đáng thương? Cố gắng của Nguyễn Bình Phương trong việc lý giải, thể hiện bệnh điên của Tính một
cách nghệ thuật đã lấn át tất cả. Hệ quả thứ hai có xuất phát từ cách nhìn này đó là Tính được xây
dựng một cách khá đầy đặn và trọn vẹn. Với các nhân vật khác, cơn bệnh của họ chỉ được miêu tả

những suy nghĩ và đời sống tinh thần của nhân vật.
Trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy, ngôn ngữ nhân vật người điên tồn tại dưới hai dạng chính:
ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại.
2.2.1. Ngôn ngữ đối thoại
Đối thoại là lời đối đáp giữa các nhân vật. Đây là chất liệu quan trọng để xây dựng nhân vật.
Ngôn ngữ đối thoại cho thấy tài năng và sự am hiểu của nhà văn về cuộc sống, về con người.
Đối thoại là phương thức giao tiếp giữa những người trong cộng đồng, nhằm thấu hiểu, thiết lập
các mối quan hệ xã hội. Nhưng đa số lời đối thoại trong Thoạt kỳ thủy lại chối từ chức năng xã hội
vốn có. Đối thoại trong tác phẩm rời rạc, thiếu ăn nhập với nhau; đối thoại không cho người đọc biết
thêm điều gì về mức độ sâu sắc hay hời hợt trong mối quan hệ của nhân vật. Đồng thời cũng không
mang dấu ấn tính cách, quan niệm của nhân vật về đời sống. Ngôn ngữ đối thoại chỉ giống như những
âm thanh trôi dạt bên lề cuộc sống, không có đích đến cũng không có sự tiếp nhận. Không có sự đồng
cảm, không có sự lắng nghe, thấu hiểu giữa các nhân vật với nhau. Nhân vật chỉ nói theo những ám
ảnh, mộng mị của riêng mình.
“Tính nhắm mắt:
“Lạnh”
“Xích vào đây một tí cho ấm. Anh Tính biết không, ngày bé ấy, bao nhiêu lần anh làm
em sợ hết hồn”
“Cắn công cống thích lắm”
“Bố anh còn gặm chén không”
“Mắt chó vàng như trăng”.
Chúng ta nhận ra cuộc đối thoại giữa một người tỉnh và một người điên. Do đó, lời thoại không
hề ăn nhập với nhau. Phần lời của Hiền hoàn toàn bình thường về mặt ý nghĩa, có cơ sở từ thực tế và
còn thể hiện sự quan tâm, sắc thái tình cảm trìu mến. Trong khi đó lời của Tính bộc lộ rõ sự bất
thường. Đó là lời của vô thức. Vô thức lên tiếng cho thấy Tính là kẻ hiếu sát đồng thời luôn bị ám ảnh
bởi trăng. Sự lệch pha trong đối thoại ở đây khiến người ta càng cảm thấy xót xa, thương cảm cho số
phận của Hiền, một bông hoa đẹp lạc lõng giữa thế giới kì dị của xóm Soi, lại phải gắn bó đời mình
với kẻ bất thường như Tính.
Ngoài ra, ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương là một phương tiện hữu
hiệu nhất giúp nhà văn khám phá và phản ánh đời sống tâm linh nhân vật. Bởi vậy, các đối thoại

Một người điên:
- Ôi giời, não ruột quá đi mất…
Thằng điên mới:
- Cù nách.
Lão điên:
- Mưa xiên khoai cơ mà. Mưa xiên khoai.
Cô gái Thổ điên:
- Mí lỏng à. Nó chẳng đặt bánh trưng nữa. Ra mương đi.
Tính:
- Mẹ chúng mày, tao chọc tiết hết. Trăng đen này. Ông Sung đến đấy.
Thằng điên:
- Đâu đâu, chó à, đâu đâu?”.
Nếu xét đơn thuần về mặt hình thức thì những cuộc đối thoại này đều mang tính hoàn chỉnh với
đầy đủ nhân vật và trình tự phát ngôn. Nhưng khi xem xét sự liên hệ trong những cặp thoại hoặc sự
liên hệ giữa nội dung đối thoại và hoàn cảnh chúng ta sẽ thấy sự phá vỡ những nguyên tắc hội thoại
thông thường, thậm chí cả sự phá vỡ ngôn ngữ. Đó là những cuộc hội thoại giữa những con người bất
thường về tâm lý. Kiểu đối thoại này gợi cho chúng ta nhớ đến kịch phi lí của Ionesco và Samuel
Becket. Thực ra, gọi đó là “đối thoại” cũng chưa thật thỏa đáng. Thứ ngôn ngữ này nằm trên lằn ranh
mấp mé giữa đối thoại và độc thoại. Nó không hề đại biểu cho cá tính, tính cách xã hội gì cả. Đó là
kiểu ngôn từ đối thoại phi lôgic, một dạng thức ngôn ngữ ảo mộng. Mỗi câu nói là sự chắp nối hỗn
độn những ám ảnh. Ngôn từ như được phát ra từ cõi vô thức sâu thẳm, mịt mù.
Những cuộc hội thoại của những người điên xen vào mạch truyện như những điểm nhấn khiến
người ta phải dừng lại, suy nghĩ. Điều không tránh khỏi là cảm giác hoang mang khi nhận ra con
người đang đánh mất lí trí. Lời thoại không ăn nhập với nhau, không ăn nhập với hoàn cảnh hoặc phủ
định nhau. Mỗi lời thoại dường như đang thu mình trong thế giới của chính nó. Đối thoại rời rạc và
lộn xộn đem lại ấn tượng về một thế giới đang rạn vỡ, đổ nát. Nguyễn Bình Phương chấp nhận hiện
thực như là nó vốn có. Hiện thực là những mảnh ghép và con người đôi khi chỉ là những ốc đảo cô
đơn.
2.2.2. Ngôn ngữ độc thoại
Nếu như đối thoại nhằm thiết lập các mối quan hệ hoặc cũng có khi là phá vỡ các mối quan hệ

bạo lực. Lớn lên được ông Điện và Hưng dạy cho những bài học giết chóc, Tính trở thành một kẻ hiếu
sát từ trong tiềm thức. Sự bất thường trong tư duy và tâm lý đã thu Tính vào một ốc đảo riêng biệt.
Những ẩn ức được tích tụ từ thủa nhỏ đã khiến Tính không thể sống như những người bình thường.
Lời câm của Tính thực chất là một thứ ngôn ngữ điên cho nên rời rạc, đứt đoạn, phá hủy lôgic
ngữ pháp và ngữ nghĩa. Hoặc những câu được phát ra hoàn toàn vô nghĩa như “chuối mọc từ cổ lợn”
hoặc các câu có nghĩa nhưng khi sắp đặt cạnh nhau thì lại không nhằm chuyển tải một nội dung ý
nghĩa nào: “Anh Hưng bảo chỉ thấy đen thôi. Đen! Buồn cười nhỉ, nhỉ. Con rắn cạp nong trôi qua
người tao thế là anh lấy chị Hiền nhỉ, nhỉ. Cần thì chọc tiết. Hiên kêu eng éc…”. Trong những lời của
Tính, hầu hết các sự vật đều mất đi dáng vẻ tự nhiên, bản nguyên của nó. Vẫn là trăng, là đá, là công
cống, là Hiền , nhưng dường như đã đến từ một thế giới khác. Trăng đen, trăng xanh, trăng vàng,
trăng xanh đen, rỗ chi chít; hòn đá bị vỡ túa ra máu, da đá mỏng manh; Hiền đỏ như máu… Lời câm
không chỉ có máu, có trăng, có bạo lực mà còn chất chứa muôn màu sắc khác. Tính điên như một kẻ
hủy diệt và còn điên như một nghệ sỹ. Tác phẩm chủ yếu là những dòng độc thoại nội tâm không đầu
không cuối. Nói đúng hơn, đó là những dòng lảm nhảm của nhân vật Tính. Đây thực sự là một phát
hiện riêng của Nguyễn Bình Phương trong việc thể hiện ngôn ngữ cũng như nội tâm của nhân vật
điên.
Tuy nhiên cũng phải lưu ý rằng, không phải lúc nào lời câm của nhân vật Tính cũng là thứ ngôn
ngữ phi lôgic. Tuy rằng, đó là ngôn ngữ của vô thức, nhưng vẫn có lôgic nội tại bên trong, cho dù là
lôgic của người điên: “Hôm qua sao họ không ra sông nữa. Dân xóm Soi không đi tròn vùn vụt nữa.”;
“Hiền đặt bóng vào tường. tường cắn chặt bóng Hiền không thả ra in mãi với bóng thạch sùng…”. Rõ
ràng lời điên của Tính ở đây lại có cơ sở từ sự quan sát thực tế. Tính vẫn hiểu được sự việc diễn ra
trong đời sống và kể lại theo đúng trình tự chỉ có điều nhận thức và xúc cảm trái ngược với người
thường. Có gì tàn nhẫn trong việc ngợi khen một xác chết là đẹp. Lời nói và hành động của Tính
khiến người ta vừa thấy đáng sợ vừa đáng thương. Tính đã trở thành một kẻ hiếu sát đến cuồng loạn.
Đó là điều đáng sợ. Nhưng Tính lại chỉ là một nạn nhân. Nếu không bị cú đạp của cha từ khi trong
bụng mẹ, nếu không bị đầu độc tiêm nhiễm bởi môi trường sống, có lẽ Tính cũng sẽ phát triển bình
thường như bao đứa trẻ khác. Những lời câm không chỉ thể hiện sự điên loạn mà còn hé mở nỗi cô
đơn, nỗi sợ hãi bủa vây hành hạ khiến cho Tính không thể có được một cuộc sống bình yên.
Như thế, ngôn ngữ độc thoại nội tâm chẳng những là phương tiện chính yếu để nhà văn khắc
họa chiều sâu nội cảm của con người mà còn trở thành đối tượng của sự miêu tả. Nhà văn không chủ

Doan Tam
Abstract
In the remarkable development of literature including many writers in various genres, I find
that Nguyen Binh Phuong did not hide. He exploits unconscious world with much original creation on
structure and plot to show a new view about reality as well as human, and he is also highly successful
in using language. All characters even become mental disorders in At first. They are mad or made to
be crazy. To explain this, I suppose it is built by his writing outlook: writing is a process of drifting in
the inner world of the person to discover creation. Compared to ordinary people, madmen have richer
and more mysterious spiritual lives. Therefore, they become a huge field to be discovered by Nguyen
Binh Phuong. He began to exploit that field in expressing the language of madmen. It was found in
constructions of some unique types of dialogues as well as through unconscious monologues to show
inner characters.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status