Tổ chức trần thuật trong tiểu thuyết Mình và họ của Nguyễn Bình Phương - Pdf 44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ TÂM ĐAN

TỔ CHỨC TRẦN THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT MÌNH VÀ HỌ
CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học

PGS. TS. PHÙNG GIA THẾ

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo,
PGS.TS. Phùng Gia Thế - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận
tình để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, đặc
biệt là các thầy cô trong tổ Lí luận văn học và các bạn sinh viên trong nhóm
khóa luận đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Khóa luận được viết bằng niềm yêu thích đặc biệt với vấn đề nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện, người viết đã có nhiều cố gắng tìm tòi nhất định,
song chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................... 3
2.1. Tình hình nghiên cứu về Nguyễn Bình Phương ....................................... 4
2.2. Về tiểu thuyết Mình và họ của Nguyễn Bình Phương .............................. 6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................. 8
3.1. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 8
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................. 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 8
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 8
6. Đóng góp của khóa luận ............................................................................. 8
7. Bố cục của khóa luận .................................................................................. 9
NỘI DUNG .................................................................................................. 10
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ TRẦN THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG
TẠO CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG....................................................... 10
1.1. Khái quát về trần thuật.......................................................................... 10
1.1.1. Khái niệm trần thuật ........................................................................... 10
1.1.2. Các yếu tố cơ bản của trần thuật ......................................................... 12
1.1.2.1. Người kể và ngôi kể ........................................................................ 12
1.1.2.2. Điểm nhìn trần thuật ....................................................................... 15
1.1.2.3. Ngôn ngữ trần thuật ........................................................................ 18
1.1.2.4. Giọng điệu trần thuật ...................................................................... 19
1.2. Hành trình sáng tạo của Nguyễn Bình Phương ...................................... 21
1.3. Tiểu thuyết Mình và họ trong hành trình sáng tạo của Nguyễn Bình Phương
..................................................................................................................... 23


CHƯƠNG 2. NGÔI KỂ VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TIỂU
THUYẾT MÌNH VÀ HỌ CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG ........................ 25
2.1. Người kể và ngôi kể .............................................................................. 25

đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, minh chứng cho sức sống mãnh liệt
của thể loại. Thời kì này được đánh giá là “thời của tiểu thuyết” (Nguyễn Huy
Thiệp): “Mỗi nhà tiểu thuyết, mỗi cuốn tiểu thuyết phải sáng tạo ra một hình
thức riêng. Không tôn trọng những hình thức bất biến, mỗi cuốn sách mới cần
xây dựng cho mình những quy luật vận động đồng thời sản sinh ra sự diệt vong
của chúng” (Alain Robbe Grillet). Chính vì thế, tiểu thuyết đã trở thành nhân
vật quan trọng bậc nhất trên sân khấu văn học Việt Nam hiện đại.
Từ sau năm 1986, tiểu thuyết Việt Nam đã dung nạp vào bản thân nó
những yếu tố của chủ nghĩa hậu hiện đại: sự xáo trộn giữa hư và thực, giữa cái
huyền bí siêu nhiên với đời thường; tính chất hỗn loạn và sự bất ổn của trật tự
đời sống; những kiểu cấu trúc mới: mảnh vỡ tự sự, liên văn bản, gián cách,
không gian, thời gian huyền ảo,... Các yếu tố này đã được các nhà tiểu thuyết
đương đại Việt Nam tiếp nhận và sáng tạo, góp phần không nhỏ trong việc tạo
dựng một diện mạo mới cho nền văn học nước nhà.
Với thể loại tiểu thuyết, tổ chức trần thuật có thể xem là một trong những

1


yếu tố quan trọng nhất trong phương thức khai thác đời sống của nhà văn. Trần
thuật chi phối mạnh mẽ mạch vận động của tác phẩm, cùng bố cục, kết cấu tác
phẩm, cho ta thấy vị trí, góc nhìn của người trần thuật và mọi diễn biến tâm lí,
hành động nhân vật, diễn biến cốt truyện... Nó cũng chính là yếu tố cơ bản thể
hiện ý thức cách tân thể loại của nhà văn. Bởi vậy, tổ chức trần thuật được nhiều
nhà phê bình tập trung nghiên cứu và trở thành con đường để giải mã giá trị tư
tưởng, nghệ thuật của tác phẩm. Bàn về tầm quan trọng của trần thuật, G.N.
Pospelov - nhà nghiên cứu văn học người Nga cho rằng: “Đóng vai trò quyết
định trong loại tác phẩm tự sự là trần thuật”.
1.3. Trong số những cây bút văn xuôi nổi tiếng trên văn đàn đương đại
Việt Nam ta không thể không nói đến Nguyễn Bình Phương – người đã có

ảo, chiến tranh và hòa bình... Để làm nên thành công về nghệ thuật của Mình và
họ không thể không nói đến tổ chức trần thuật trong tiểu thuyết.
1.4. Khẳng định vai trò quan trọng của nghệ thuật trần thuật trong tiểu
thuyết, tác giả khóa luận sẽ đi sâu tìm hiểu vấn đề này qua việc lựa chọn đề tài:
Tổ chức trần thuật trong tiểu thuyết Mình và họ của Nguyễn Bình Phương.
Thực hiện đề tài này, tác giả khóa luận muốn cập nhật thông tin trong nhà
trường Đại học Sư phạm về một hiện tượng văn xuôi đang được đông đảo bạn
đọc quan tâm và qua đó góp phần khắc phục một phần sự chia cắt giữa văn học
nhà trường với đời sống văn học đương đại phức tạp luôn đặt ra nhiều thách
thức mới cho người nghiên cứu. Đồng thời, thực hiện đề tài này cũng là dịp để
người viết học tập, rèn luyện, trau dồi kĩ năng nghiên cứu cả về thao tác lẫn tư
duy trong phân tích tác phẩm văn học, từ đó, góp phần phục vụ đắc lực cho
công việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu văn học sau này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguyễn Bình Phương là nhà văn đa tài, sáng tác ở nhiều thể loại như: thơ,
truyện ngắn, tản văn,... song ông đặc biệt được bạn đọc biết đến nhiều nhất ở
lĩnh vực tiểu thuyết. Với địa hạt tiểu thuyết, tên tuổi của nhà văn trở nên quen

3


thuộc trong đời sống văn học Việt Nam đương đại. Sáng tác của Nguyễn Bình
Phương ngay từ khi ra đời đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công
trình nghiên cứu khoa học.
2.1. Tình hình nghiên cứu về Nguyễn Bình Phương
Tên tuổi của Nguyễn Bình Phương xuất hiện khá nhiều từ báo mạng đến
báo viết như: Pháp luật, Văn hóa, Văn nghệ Trẻ… bên cạnh đó còn có các bài
báo khoa học, luận văn tốt nghiệp đại học, luận văn cao học... tập trung nghiên
cứu về Nguyễn Bình Phương và các sáng tác của ông.
Có thể kể đến một số bài nổi bật như: “Một số đặc điểm nổi bật trong sáng

đã quan tâm đến vấn đề kĩ thuật trong tiểu thuyết Ngồi ở lối kết cấu lập thể, kết
cấu thời gian đồng nhận, lối hành văn với sự giản yếu của các câu văn. Tác giả
Phùng Gia Thế cũng quan tâm đáng kể đến tiểu thuyết của Nguyễn Bình
Phương với các bài tiêu biểu như: “Cảm nhận tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phương”, “Cảm quan đời sống và những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương”, “Những dấu hiệu hậu hiện đại trong tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương”. Ngoài ra có thể kể đến tác giả Hoàng Nguyên Vũ với bài: “Một
lối đi riêng của Nguyễn Bình Phương”, “Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của
Nguyễn Bình Phương” của Hoàng Thùy Linh; “Tiểu thuyết hiện đại - Sự hội
ngộ các tư duy tiểu thuyết hiện đại trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương”
của Nguyễn Phước Bảo Nhân;...
Có thể nói, trên văn đàn văn học Việt Nam đương đại, Nguyễn Bình
Phương đã tạo ra một sức hút mạnh mẽ đối với các sinh viên chuyên ngành,
những bạn đọc chuyên nghiệp, những nhà nghiên cứu,... Có thể kể đến luận văn
thạc sĩ của Hồ Thị Bích Ngọc với đề tài Nguyễn Bình Phương với việc khai thác
tiềm năng thể loại để hiện đại hóa tiểu thuyết (Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội, 2008) hay các luận văn như: Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu
thuyết Nguyễn Bình Phương của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền (Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn); Những cách tân nghệ thuật trong tiểu

5


thuyết của Nguyễn Bình Phương của Vũ Thị Phương; Nguyễn Thị Phương
Diệp với khóa luận tốt nghiệp Yếu tổ kì ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phương và luận văn thạc sĩ Nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương,... Tất
cả đều đi sâu khai thác những đổi mới, cách tân sáng tạo trong tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương.
Ngoài ra, có rất nhiều công trình khoa học không lấy tiểu thuyết của
Nguyễn Bình Phương làm đối tượng nghiên cứu duy nhất nhưng nhìn chung, đa

văn bản báo chí và tiểu thuyết trinh thám, văn bản nghệ thuật không đi đường
thẳng, không suy luận logic, mà lần theo những ngóc ngách của vô thức, bản
năng và ký ức, những mạch ngầm của cảm xúc và liên tưởng, những con đường
“vờn vẽo, quanh co”. Bên cạnh đó, bài viết đã phát hiện ra ý đồ nghệ thuật của
Nguyễn Bình Phương khi xây dựng địa danh Tà Vần – một địa danh mới trong
từ điển mỹ học của tác giả. Đặc biệt, Đoàn Cầm Thi có đề cập trong bài viết
“Mỹ cảm của bạo lực”: “Nguyễn Bình Phương không chỉ mô tả mà tiến hành đi
tìm căn tính của bạo lực, đối xử với bạo lực như một nghệ sĩ, mô tả và phân tích
hiện thực bằng một hệ thống hình tượng và cảm xúc của riêng mình”.
Bên cạnh đó có thể kể đến bài viết của cây bút Thùy Ân trên báo Lao động
với nhan đề “Đọc Mình và họ và Miền hoang: Về hai cuộc chiến tranh còn phải
nghĩ tới nhiều”. Bài viết đã có những so sánh khái quát, đặc biệt là nói đến hai
cuộc chiến tranh được đề cập đến trong nội dung của hai tác phẩm.
Tác giả Nguyễn Văn Hùng có bài: “Nghệ thuật tự sự của Nguyễn Bình
Phương trong tiểu thuyết Mình và họ” (webside của Khoa Ngữ văn trường Đại
học Khoa học Huế). Tiểu luận này tập trung khám phá, luận giải những tìm tòi,
thể nghiệm trong kĩ thuật tự sự của Nguyễn Bình Phương qua Mình và họ bao
gồm: Tự sự đa chủ thể và hành trình tìm lại thời gian đã mất, nghệ thuật dịch
chuyển điểm nhìn tự sự trên nguyên tắc luận giải, đối thoại và nghệ thuật tổ
chức kết cấu tự sự. Từ đó khẳng định tài năng, cá tính sáng tạo cũng như vị trí
của nhà văn trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại.

7


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tác giả khóa luận hướng đến mục đích phát hiện ra
nét đặc sắc trong tổ chức trần thuật của tiểu thuyết Mình và họ, thấy được nghệ
thuật kể chuyện đặc sắc của tác phẩm, đồng thời thấy được những tìm tòi, cách

7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của
khóa luận được triển khai cụ thể thành ba chương:
Chương 1: Khái quát về trần thuật và hành trình sáng tạo của Nguyễn Bình
Phương.
Chương 2: Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Mình và họ
của Nguyễn Bình Phương.
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Mình và họ
của Nguyễn Bình Phương.

9


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ TRẦN THUẬT
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
1.1. Khái quát về trần thuật
1.1.1. Khái niệm trần thuật
Trần thuật là một thuật ngữ thuộc chuyên ngành Lí luận văn học. Trần
thuật là phương thức nghệ thuật đặc trưng của loại tác phẩm tự sự, đặc biệt là
tiểu thuyết, là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra
tính hấp dẫn, tạo ra cái “ma lực” của tác phẩm ngôn từ vừa ở chiều sâu, vừa ở
mặt cụ thể cảm tính. Ngay từ đầu thế kỉ XX, trần thuật học đã trở thành một
ngành mũi nhọn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Tuy nhiên vẫn
chưa có được sự thống nhất mà còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm
trần thuật. Trong phạm vi của khóa luận, chúng tôi xin trích dẫn một số quan
niệm tiêu biểu:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn
Khắc Phi (đồng chủ biên): Trần thuật là “Phương diện cơ bản của phương thức
tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự

thuật, và theo nghĩa rộng là cả một tình thế hư cấu bao gồm cả người trần thuật
và người kể...”.
Trong bài Các nhà văn Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX nói về văn tự sự,
Nguyễn Nghĩa Trọng đã đưa ra nhận xét: “Theo quan niệm xa xưa, ở Trung
Quốc, Việt Nam, tự sự là phô bày sự thực, miêu tả trực tiếp một đối tượng nào
đó (sự việc, cảnh tượng, tình cảm...) bằng văn thơ’’ [36; 306].
Tóm lại, từ những quan điểm trên, tựu trung thấy: Trần thuật trước hết là
phương thức nghệ thuật đặc trưng trong các tác phẩm thuộc loại hình tự sự,
thực chất của hoạt động trần thuật là hành vi ngôn ngữ kể, thuật, miêu tả sự
kiện, nhân vật theo một thứ tự nhất định, một cách nhìn nào đó. Đây là yếu tố

11


được sử dụng phổ biến trong các loại thể văn học, song ở loại tác phẩm tự sự, nó
trở thành một tiêu điểm, một nguyên tắc chủ yếu để thiết tạo thế giới nghệ thuật.
Nó không chỉ là yếu tố liên kết, dẫn dắt câu chuyện mà còn là bản thân của câu
chuyện. Khi cốt truyện không còn đóng vai trò nòng cốt, nhân vật bị xóa mờ
đường viền cụ thể thì yếu tố trần thuật là chìa khóa mở ra những cánh cửa của
tác phẩm.
Thực tiễn văn học cũng cho thấy, nghệ thuật trần thuật là một trong những
yếu tố cơ bản thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn. Đối với người nghệ sĩ tài
năng, nghệ thuật trần thuật ở mỗi tác phẩm luôn có sự tìm tòi và biến hóa linh
hoạt. Sự thành công về phương diện trần thuật là yếu tố kết đọng tài nghệ của
mỗi người cầm bút. Bởi vậy, tìm hiểu các phương diện trần thuật sẽ giúp người
đọc tiếp cận được với những giá trị văn chương đích thực cũng như khẳng định
được tài năng và những đóng góp của nhà văn vào tiến trình văn chương.
1.1.2. Các yếu tố cơ bản của trần thuật
Bàn về các yếu tố cơ bản của tổ chức trần thuật, nhà nghiên cứu Trần Đình
Sử cho rằng trần thuật gồm sáu yếu tố cơ bản: người kể chuyện, ngôi trần thuật

ngoài đời; có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra; có thể là một
người biết một câu chuyện nào đó. Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều
người kể chuyện...” [16; 221].
Qua một số ý kiến bàn về người kể chuyện ở trên, chúng tôi nhận thấy,
người kể chuyện, hiểu một cách đơn giản, là một người được nhà văn sáng tạo
ra để thực hiện hành vi trần thuật. Khi sáng tạo, nhà văn giống như người chép
hộ lời lẽ của người trần thuật do mình tạo ra và “Người đó chẳng bao giờ hoàn
toàn là chính bản thân tác giả” (M. Buy- tô).
Người kể chuyện trong tác phẩm có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó môi
giới, dẫn dắt bạn đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật đồng thời tổ chức, sắp xếp các
sự kiện trong tác phẩm. Bởi vậy, người kể chuyện là sản phẩm của quá trình hư
cấu của nhà văn, giúp nhà văn thể hiện ý đồ sáng tác. Có nhiều quan điểm khác

13


nhau về cách phân loại người kể chuyện. Các nhà nghiên cứu R.Scholes và
R.Kellogg phân loại người kể chuyện ra làm bốn kiểu là người kể chuyện
truyền thống, sử quan, người kể chuyện nhân chứng và người kể chuyện toàn
tri. Hay có thể nói đến các công trình nghiên cứu của G.Genette đã phân biệt
người kể chuyện thành ba kiểu cơ bản: người kể chuyện toàn tri, người kể
chuyện bên trong và người kể chuyện bên ngoài. Tác giả Nguyễn Thái Hòa cho
rằng: “cần có sự phân biệt giữa người kể chuyện hàm ẩn với tác giả và con
người tác giả ngoài đời”. Ở đây, tác giả quan niệm “người kể chuyện hàm ẩn” là
người kể chuyện toàn năng, là người biết hết mọi chuyện. Ngoài ra, căn cứ vào
vị trí của người kể chuyện trong tác phẩm, ta có người kể chuyện ở ngôi thứ
nhất, người kể chuyện ở ngôi thứ hai và người kể chuyện ở ngôi thứ ba...
Trong trường hợp nhân vật đóng vai trò người kể chuyện thì tác phẩm
được kể theo ngôi thứ nhất xưng “tôi” – đây chính là hình thức ngôi kể lộ diện.
Với hình thức kể này, một nhân vật trong câu chuyện đứng ra kể về những sự

“về mặt chức năng, điểm nhìn mang ý nghĩa của sự lựa chọn và giới hạn thông
tin trần thuật, của việc nhìn các sự kiện và cấu trúc của các sự kiện từ điểm nhìn
của một người nào đó và của việc tạo ra cái nhìn đồng cảm hoặc mỉa mai ở
người quan sát” [21; 41].
Một số nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đưa ra những cách hiểu về điểm
nhìn nghệ thuật. Theo Nguyễn Thái Hòa: “Điểm nhìn nghệ thuật là điểm xuất
phát của một cấu trúc nghệ thuật, hơn thế nữa là cấu trúc tiềm ẩn được người
đọc tiếp nhận bằng thao tác suy ý từ các mối quan hệ giữa người kể và văn bản,
giữa văn bản và người đọc văn bản, giữa người kể và người đọc hàm ẩn” [15;
96]. Nhận thấy vai trò đặc biệt của điểm nhìn trần thuật, nhà lý luận Phương
Lựu đã nhấn mạnh: “Nghệ sỹ không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện của đời
sống nếu không xác định cho mình một điểm nhìn đối với sự vật, hiện tượng,
nhìn từ góc độ nào, xa hay gần, cao hay thấp, từ bên trong hay bên ngoài” [19;
12].

15


Tựu trung, có thể hiểu điểm nhìn là phương thức phát ngôn, trình bày,
miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác giả, là vị trí dùng
để quan sát, cảm nhận, đánh giá. Trong nghệ thuật trần thuật, sáng tạo của nhà
văn truớc hết thể hiện ở cách “ứng xử” với câu chuyện để tạo ra sự đa dạng của
các điểm nhìn nghệ thuật.
Khi nghiên cứu điểm nhìn nghệ thuật, người ta chia điểm nhìn thành các
loại sau:
Theo cuốn giáo trình Lý luận văn học (Phương Lựu chủ biên), điểm nhìn
trần thuật được phân chia trên 2 bình diện:
- Xét về bình diện trường nhìn trần thuật được chia thành hai loại: trường
nhìn tác giả và trường nhìn nhân vật:
Trường nhìn tác giả: Người trần thuật đứng ngoài câu chuyện để quan sát

Thứ nhất, nhìn “từ đằng sau ” (gắn với điếm nhìn toàn tri) khi người kể
chuyện có vai trò toàn năng với cái nhìn thông suốt tất cả.
Thứ hai, nhìn “từ bên trong” (gắn với điểm nhìn bên trong) khi người kể
chuyện là nhân vật. Người kể chuyện hạn chế điểm nhìn tự sự của mình vào
điểm nhìn của nhân vật. Người kể chuyện theo điểm nhìn bên trong thường có
hai dạng cơ bản:
Dạng thứ nhất, người kể chuyện xưng “tôi”, tự thú nhận, bộc bạch về
mình, kể về những tâm trạng, cảm giác mà mình đã nếm trải. Ví dụ: Bộ ba tự
truyện của Macxim Gorki.
Dạng thứ hai, người kể chuyện đứng ở ngôi thứ ba từ bên ngoài nhưng lại
tựa vào điểm nhìn nhân vật để kể. Do vậy mà khoảng cách giữa người kể
chuyện và nhân vật bị thu hẹp.
Thứ ba, nhìn “từ bên ngoài” (gắn với điểm nhìn bên ngoài): Người kể
chuyện theo điểm nhìn bên ngoài hoàn toàn xa lạ với thế giới mà anh ta kể, anh
ta chỉ có thể kể về những hành động, lời nói thể hiện ra bên ngoài nhân vật chứ
không có khả năng am hiểu nội tâm của họ.

17


Sự phân biệt trên đây hoàn toàn mang tính tương đối vì hầu như không có
tác phẩm nào chỉ sử dụng một điểm nhìn mà các điểm nhìn được di động, sử
dụng linh hoạt, phối hợp với nhau phục vụ cho ý đồ sáng tạo của người nghệ sĩ.
Tóm lại, điểm nhìn trần thuật có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo
nên sự thành công của tác phẩm. Nó thể hiện được dụng ý và tài năng trong
nghệ thuật trần thuật của tác giả.
1.1.2.3. Ngôn ngữ trần thuật
Nhà văn sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện, chất liệu để xây dựng hình
tượng nghệ thuật, thể hiện ý đồ tư tưởng của mình. Đó là một trong những yếu
tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn. Bởi

Trong văn học, giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ, có vai trò rất lớn
trong việc tạo nên phong cách nhà văn, đồng thời là kết quả của một quá trình
sáng tạo thực sự giúp cho nhà văn khi sáng tác có thể liên kết các yếu tố hình
thức lẫn nhau làm cho chúng còn mang một âm hưởng nào đó, cùng chung một
khuynh hướng nhất định. Giọng điệu góp phần phản ánh quan điểm, thị hiếu
thẩm mĩ của nhà văn và có vai trò quan trọng trong việc thể hiện cá tính sáng
tạo của tác giả thông qua hình tượng người kể chuyện. Nói một cách khác thì
giọng điệu chính là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết ra nhà văn bởi mỗi người
sáng tác đều chọn lựa cho mình một kiểu giọng điệu phù hợp với cách nhìn
nhận và đánh giá cuộc sống.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, giọng điệu là “thái độ, tình cảm, lập
trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện
trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách
cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm,... ”
[16; 134].
Trong tác phẩm tự sự, giọng điệu trần thuật có vị trí quan trọng.
M.B.Khrapchenko trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn
học, đã khẳng định: “cái quan trọng trong tài năng văn học (...) là tiếng nói của

19


mình (...) là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ
họng của bất kì một người nào khác” [20; 190]. Giọng điệu không đơn giản chỉ
là tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù để ta nhận ra người nói mà là một giọng
điệu mang tính nội dung, tình cảm, thái độ, ứng xử của người nói trước các hiện
tượng đời sống. Qua giọng điệu, người đọc có thể thấy được chiều sâu tư tưởng,
thái độ, vị thế, phong cách, tài năng cũng như sở trường ngôn ngữ, cảm hứng
sáng tạo của người nghệ sĩ...
Trong văn chương nói chung, giọng điệu là một yếu tố không thể thiếu để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status